Phần kết - Chúc mừng Joshua Foer. Anh ấy có chuyện để viết rồi đây, phải không?” bình luận viên Kenny Rice xướng lên. “Anh đến đây chỉ xem thi cử thế nào, khi quay về nhà đã thành nhà vô địch.”
“Vâng, không tồi với một chàng lính mới, Joshua ạ,” Ron Kruk, phóng viên của HDNet nói, anh lên sân khấu, tay cầm mic để phỏng vấn sau trận đấu. “Anh đã đến đưa tin về giải đấu này vài lần. Trải nghiệm đó có tầm quan trọng thế nào trong việc giúp anh trở nên thành công như vậy, và giành chiến thắng Giải Vô địch trí nhớ Mỹ hôm nay?”
“Tôi nghĩ điều đó cũng quan trọng, nhưng có lẽ công sức luyện tập đã bỏ ra cho ngày hôm nay có thể còn quan trọng hơn,” tôi nói.
“Vâng, công sức của anh đã được đền đáp, chắc chắn rồi. Giờ anh đang hướng đến giải vô địch thế giới.”
Ý tưởng lố bịch đó tôi còn chưa tính đến.
“Anh đã đến đó với tư cách nhà báo. Chuyện ấy sẽ giúp gì cho anh?”
Tôi bật cười. “Nói thật là tôi không có cơ hội nào ở giải vô địch thế giới. Những người đó có thể ghi nhớ một cỗ bài trong ba mươi giây. Về cơ bản, họ là người ngoài hành tinh.”
“Tôi chắc chắn anh sẽ làm nước Mỹ tự hào. Chúng tôi tin tưởng vào anh. Anh biết đấy, nếu anh thắng Cúp Super Bowl, anh sẽ nói ‘Tôi sẽ đến Disneyland.’ Nếu anh thắng Giải Vô địch Trí nhớ Mỹ, anh sẽ nói...”
Anh ta đưa mic đến trước mặt tôi. Đáng ra tôi phải trả lời rằng mình sẽ đến Kuala Lumpur, chắc vậy. Hoặc có lẽ tôi phải nói là Disneyland. Tôi bối rối quá. Và rất rất mệt. Còn các máy quay cứ đảo liên tục. “Ờ. Tôi không biết,” tôi nói. Tôi mất phương hướng. “Tôi nghĩ tôi sẽ về nhà.”
Ngay khi rời sân khấu, tôi đến quầy điện thoại gần nhất và gọi cho Ed. Lúc ấy là giữa buổi sáng ở Úc, anh ta đang đứng ở khu vực xa cửa thành trên sân cricket, anh ta bảo đang tiến hành một dạng “triết học thực nghiệm.”
“Ed hả, Josh đây...”
“Anh có thắng không?” Những lời đó buột ra khỏi miệng anh ta như thể đã đợi điện thoại của tôi suốt sáng.
“Tôi thắng rồi.”
Anh ta gào lên. “Một chiến công tuyệt vời. Tốt lắm, anh bạn, làm tốt lắm! Anh biết thế là thế nào, đúng không? Anh giờ đây là chủ nhân trí tuệ của nước Mỹ, không ai cãi được!”
Sáng hôm sau, vì tò mò, tôi vào trang mạng của giải đấu xem điểm số đầy đủ của cuộc thi đã đưa lên chưa, và nếu có thì những người châu Âu nói gì việc một gã tân binh giành chiến thắng ở giải Mỹ. Ben đã viết một tường thuật mười bốn trang về giải đấu. Phần cuối
cùng có giành vài từ về nhà vô địch mới: “Tôi ấn tượng với thành tích của anh ta, xét đến thời gian ngắn ngủi anh ta luyện tập, và tôi nghĩ anh ta hẳn là người đưa giải trí nhớ Mỹ lên tầm cao mới,” Ben viết. “Anh ta học các kỹ thuật của người châu Âu, anh ta đã xem các giải đấu của người châu Âu, và không như những người khác, anh ta không bị giới hạn bởi những tiêu chuẩn thấp nhưng cần thiết để giành chiến thắng ở giải Mỹ. Anh ta có đam mê thật sự với môn thể thao này, và tôi nghĩ anh ta có thể tiếp tục, không chỉ trở thành đại kiện tướng, mà có lẽ là người Mỹ đầu tiên vào nhóm các vận động viên trí nhớ có thứ hạng cao. Và khi anh ta làm được điều đó, chắc chắn đồng hương của anh ta sẽ nâng cấp cuộc chơi của họ để theo kịp anh ta. Chỉ cần một người để khơi cảm hứng cho những người khác. Nên tôi nghĩ tương lai cho môn thể thao trí nhớ ở Mỹ sẽ tươi sáng hơn!”
Nhà vô địch trí nhớ Mỹ hóa ra cũng là nhân vật nổi danh nho nhỏ (ừ thì, rất nhỏ). Bỗng nhiên, Ellen DeGeneres[30] muốn nói chuyện với tôi, chương trình Good Morning America và Today gọi điện hỏi tôi có muốn biểu diễn ghi nhớ cả bộ bài trên truyền hình. Kênh ESPN muốn biết liệu tôi có thích đọc thuộc kết quả giải đấu NCAA trên chương trình buổi sáng của họ không. Ai cũng muốn xem con khỉ diễn trò vui.
Cú sốc lớn nhất về vị thế ngôi sao mới có của tôi (hay vị thế một gã làm chuyện chẳng đâu vào đâu, tùy thuộc vào cách nhìn của bạn, tôi nghĩ vậy) là tôi trở thành đại diện chính thức cho 300 triệu người Mỹ đi dự Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới. Đây là tình thế tôi không ngờ mình sẽ rơi vào. Trong suốt quá trình tập luyện, tôi không hề nghĩ rằng ngày nào đó mình sẽ đối đầu với những người như Ed Cooke, Ben Pridmore, và Gunther Karsten, những huyền thoại trí nhớ mà ban đầu tôi định viết bài. Trong suốt những giờ phút tập luyện, tôi không bao giờ nghĩ đến việc so sánh điểm số của mình với họ. Tôi chỉ là một tay chặn bóng chày nghiệp dư; họ là những người chơi cho đội chuyên nghiệp đỉnh cao New York Yankees.
Khi xuất hiện ở London vào cuối tháng Tám (vào phút chót, nơi tổ chức giải chuyển từ Malaysia sang London), tôi mang theo đôi chụp tai sơn những hình sao và sọc theo nhân vật phim “Captain America”; mười bốn cỗ bài tôi sẽ cố ghi nhớ trong phần thi nhớ bài; và áo phông đội tuyển Mỹ. Tham vọng chính của tôi đơn giản chỉ là không làm xấu hổ bản thân hay đất nước. Tôi cũng đặt cho mình mục tiêu phụ: đứng vào tốp mười trong ba mươi bảy người và đạt danh hiệu đại kiện tướng trí nhớ.
Hóa ra, cả hai mục tiêu đều nằm ngoài tầm với của tôi. Khi đại diện chính thức của siêu cường vĩ đại nhất quả đất, tôi e sợ phải nói rằng mình đã tạo ra ấn tượng khá xoàng về trí nhớ của nước Mỹ nói chung. Dù tôi đạt thành tích cũng đáng nể là nhớ được chín cỗ bài rưỡi trong một tiếng (thiếu một nửa cỗ bài để đạt tiêu chuẩn đại kiện tướng); thành tích môn nhớ số là 380 chữ số (thấp hơn 620 số so với chuẩn đại kiện tướng). Tôi cũng đạt vị trí thứ ba trong phần thi nhớ khuôn mặt tên người, và một thành tựu tôi đạt được nhờ việc những cái tên mà chúng tôi phải ghi nhớ là tập hợp các tên lóng của đủ các dân tộc. Vì tôi đến từ một đất nước đa văn hóa nhất thế giới, ít có cái tên nào xa lạ với tôi. Tổng kết lại, tôi đã kết thúc ở vị trí thứ mười ba trên ba bảy thí sinh, chỉ đứng sau những người Đức, Áo, và Anh - nhưng tôi hài lòng mà nói rằng, mình đứng trên một gã người Pháp, và toàn đội Trung Quốc.
Vào chiều cuối cùng của giải, Ed kéo tôi lại và bảo rằng để công nhận “trí nhớ rất tốt và tính cách kiên định” của tôi, tối hôm đó, tôi sẽ được vào KL7, với điều kiện tôi có thể vượt qua lễ kết nạp thiêng liêng của tổ chức bí mật này.
Lời mời này, thậm chí còn hơn cả cúp vô địch Mỹ, báo hiệu một thành tựu thực sự trong
giới vận động viên trí nhớ. Tôi biết rằng nhà vô địch thế giới ba lần Andi Bell chưa bao giờ được mời làm thành viên KL7. Phần lớn trong ba mươi sáu đại kiện tướng trí nhớ cũng không được mời. Người duy nhất được chọn năm đó là Joachim Thaler, cậu trai mười bảy tuổi nhã nhặn người Áo, và cậu ta chỉ được mời vào sau khi đã đứng thứ ba ở giải vô địch thế giới hai lần liên tục. Việc trở thành thành viên KL7 khiến hành trình của tôi trở nên trọn vẹn, theo một hướng tôi chưa bao giờ có thể dự đoán vào lúc khởi đầu như một kẻ ngoại đạo, chỉ hy vọng ghi chép lại thế giới lạ kỳ của những vận động viên trí nhớ. Giờ đây, tôi thật sự chính thức trở thành một trong số họ.
Tối hôm ấy, sau khi gã sinh viên người Đức trẻ tuổi Clemens Mayer ẵm danh hiệu vô địch thế giới, và sau lễ trao giải, tại đó một tấm huy chương đồng đã được quàng quanh cổ tôi nhờ vị trí thứ ba ở phần thi tên-người-khuôn-mặt, cả cộng đồng trí nhớ đã tụ họp lại để bữa tiệc mừng tại Simson’s-in-the-Strand - một nhà hàng cổ rất lớn, nơi các kỳ thủ cờ vua vĩ đại nhất ở London thế kỷ mười chín từng tụ họp và là nơi diễn ra một trong những trận đấu cờ vua nổi tiếng nhất mọi thời đại: “Trận đấu Bất tử” năm 1851, giữa Adolf Anderssen và Lionel Kieseritzky. Trước bữa tráng miệng, vài thành viên của KL7 lẻn ra ngoài và tụ tập trong sảnh khách sạn của thành viên sáng lập hội Gunther Karsten trên cùng con phố ấy.
Ed - anh ta đã đi khắp thành phố cổ đeo hai tấm huy chương bạc (vì đã nhớ được mười sáu cỗ bài trong một tiếng và 133 chữ số liên tục trong phần thi nghe nhớ số) - ngồi xuống ghế da ngay cạnh tôi bên cái lò sưởi lớn làm bằng đá có chạm khắc. “Để tôi giải thích cho anh nhé,” anh ta nói. “Để gia nhập vào hội, anh cần hoàn thành ba nhiệm vụ sau đây trong năm phút: Anh sẽ phải uống hai cốc bia, ghi nhớ bốn chín chữ số, và hôn được ba phụ nữ. Anh có hiểu nhiệm vụ trước mắt không?”
“Tôi hiểu.”
Sau lưng tôi, Gunther đang mặc cái áo lót bó sát người, cứ đi đi lại lại.
“Điều này chắc chắn có thể làm được, Josh ạ,” Ed vừa nói vừa tháo đồng hồ trên cổ tay anh ta. “Chúng tôi sẽ cho anh một phút chuẩn bị để anh quyết định xem sẽ uống bia trước khi ghi nhớ, hay vừa uống vừa ghi nhớ. Nhưng cho anh biết trước một chuyện nhé, có người từng thử ghi nhớ bốn chín chữ số, sau đó uống hai vại bia ngay trước khi đọc lại những con số, và giờ này anh ta vẫn chưa phải thành viên của KL7.” Anh ta nhìn đồng hồ. “Chọn cách nào cũng được, đồng hồ sẽ đếm khi tôi nói bắt đầu.”
Một vận động viên trí óc, người không phải là thành viên của KL7, nhưng có mặt trong buổi lễ kết nạp, đã viết nguệch ngoạc bốn chín chữ số lên mặt sau một tấm danh thiếp. Ed hét lên, “Bắt đầu,” và tôi đưa tay lên làm thành cái bịt tai tạm bợ và bắt đầu ghi nhớ: 7... 9... 3... 8... 2... 6... Cứ sau sáu chữ số tôi lại nhấp một ngụm lớn bia. Ngay khi tôi hoàn tất việc khắc hình ảnh của hai chữ số cuối cùng, Ed hô to, “Đếm giờ!” và giật lấy những chữ số khỏi tay tôi.
Tôi buông tay ra, bắt đầu liệt kê các chữ số một cách trôi chảy. Nhưng khi đến điểm cuối trong cung trí nhớ, tôi nhận ra hình ảnh của hai chữ số cuối cùng đã bay hơi. Tôi soát một lượt những cặp số khả dĩ từ 00 đến 99, nhưng không có cặp nào khớp cả. Tôi mở mắt và cầu xin gợi ý. Một khoảng lặng.
“Tôi không qua được, đúng không?”
“Không, tôi rất tiếc, bốn bảy chữ số sẽ không đủ,” Ed trịnh trọng tuyên bố với những thành viên có mặt. Anh ta quay lại nói với tôi. “Tôi thật sự rất tiếc.”
“Đừng lo, lần đầu tôi cũng không thành công,” Gunther bảo, tay vỗ vào vai tôi. “Nghĩa là tôi không được vào KL7 sao?”
Ed mím môi và lắc đầu. Câu trả lời của anh ta nghiêm nghị lạ thường. “Không, Josh ạ. Anh
không phải là thành viên.”
“Làm ơn đi, Ed, anh không thể làm được gì sao?” tôi nài nỉ.
“Tôi e là tình bạn cũng phải theo luật của KL7. Nếu anh muốn trở thành thành viên, anh phải làm lại từ đầu.” Anh ta vẫy tay gọi cô phục vụ. “Hãy tin tôi đi, càng về đêm thì việc trở thành thành viên KL7 càng thêm ấn tượng đấy.”
Một danh sách mới gồm bốn chín chữ số được viết ra, và hai vại bia nữa đổ vào. Lần này, kỳ diệu thay, những hình ảnh của tôi rõ ràng như thể tôi đã dành cả dịp cuối tuần để tạo ra
- và độ tục tĩu tăng gấp đôi. Không như lần thử đầu tiên, lần này tôi thậm chí thừa thời gian để dạo thêm một lượt qua cung trí nhớ. Khi Ed bắt đầu tính giờ, tôi nhắm mắt và đọc ra bốn chín chữ số một cách tự tin, như thể tôi đã tập luyện nhớ chúng cả ngày trời.
Ed đứng dậy đập tay chúc mừng rồi ôm lấy tôi. Nhưng Gunther, đến lúc bấy giờ, cũng như tôi, đã khá say, lại không nhượng bộ. Ông ta cứ khăng khăng còn một rào cản cuối cùng trước khi tôi chính thức được kết nạp vào KL7. “Anh vẫn phải hôn ba lần vào đầu gối một phụ nữ xa lạ,” anh ta nói.
“Đầu gối ư? Ba lần sao? Các anh vừa mới tạo ra luật mới khi chúng ta hành lễ đấy,” tôi phản đối.
“Luật là thế đấy,” anh ta nói.
Ông ta cầm tay tôi kéo vào phòng bên cạnh của quán bar, ở đó ông ta cố giải thích tình huống cho hai phụ nữ Ai-len trung niên đang lặng lẽ thưởng thức rượu. Tôi nhớ hình như đã bảo với một trong hai người họ đừng lo lắng, rằng tình huống này không có gì kỳ lạ cả: Chúng tôi là những nhà vô địch trí nhớ, và đây quả là một vinh dự cho đầu gối của bà ấy. Tôi láng máng nhớ rằng mạch logic ấy không hiệu quả, nhưng Gunther đã nghĩ ra điều gì đó nghe thuyết phục hơn. Làm sao đó rồi cuối cùng tôi cũng quỳ một bên chân xuống hôn vội ba cái lên đầu gối trần của quý bà tội nghiệp nào đó, sau đấy Gunther giơ cánh tay tôi lên cao và tuyên bố tôi đã đáp ứng mọi thách thức, đã vượt qua mọi thử thách, và xứng đáng được gia nhập vào tổ chức cao quý nhất của các vận động viên trí óc. “Chào mừng đến với câu lạc bộ KL7!” ông ta hét lên.
Ký ức của tôi về phần còn lại của tối hôm ấy lúc mờ lúc tỏ. Tôi nhớ đang ngồi cùng Tony Buzan trên ghế trường kỷ, và không ngớt bảo rằng ông ta là “Người,” (người viết hoa), trong khi nháy mắt một cách huênh hoang về phía Ed. Tôi nhớ Ben đã đùa rằng cô phục vụ hẳn nghĩ chúng tôi là một lũ lập dị. Tôi nhớ Ed đã bảo tôi rằng “tình bạn của chúng tôi là một thiên sử thi.”
Nhìn lại cuốn sổ ghi chép vào đêm hôm ấy, có thể thấy rõ trạng trái tinh thần của tôi càng lúc càng mơ hồ. Suốt buổi tối hôm đó, những chữ viết tay của tôi bắt đầu nguệch ngoạc trên trang giấy. Đến bây giờ gần như chẳng đọc ra, dù một trang còn khá rõ: “Ối mẹ ơi!
Mình đã vào KL7! Và mình nghĩ rằng mình đang ở trong nhà vệ sinh nữ.”
Trên trang kế bên của cuốn sổ tay, những chữ viết đột nhiên trở nên rõ ràng, và chuyển sang ngôi nhứ ba. Tôi đã say xỉn quá không viết nổi, và dù sao cũng có quá nhiều trò vui. Tôi đã đưa cuốn sổ tay cho người gần nhất còn tỉnh táo và nhờ cô ấy cố viết cho khách quan. Chả có ý nghĩa gì khi vẫn đóng vai nhà báo nữa.
Sau khi dành phần lớn thời gian của năm đó cho việc cải thiện trí nhớ, tôi quay lại Đại học Bang Florida để dành thêm một ngày rưỡi cho Anders Ericsson và các sinh viên của ông kiểm tra lại, cũng trong chính căn phòng tù túng mà cách đấy gần một năm tôi đã trải qua cuộc kiểm tra trí nhớ toàn diện. Lần này cũng là Tres đang giám sát tôi, cũng loại mic nhỏ gắn sát miệng, tôi làm lại chính những bài kiểm tra ấy và một số bài kiểm tra mới.
Vậy là tôi đã cải thiện trí nhớ của mình ư? Bằng phép đo khách quan, tôi quả đã cải thiện được thứ gì đó. Giới hạn nhớ số của tôi, cái tiêu chuẩn vàng về trí nhớ, đã tăng gấp đôi từ chín lên mười tám. So với bài kiểm tra gần một năm trước, tôi có thể nhớ nhiều câu thơ hơn, nhiều tên người hơn, nhiều mẩu thông tin ngẫu nhiên hơn. Và mấy ngày sau giải vô địch thế giới, tôi đi ăn tối với vài người bạn rồi bắt tàu điện ngầm về nhà, tới lúc đi đến cửa nhà bố mẹ mình, tôi mới nhớ lúc ra đi mình đã lái xe. Tôi không những quên mình để xe ở đâu mà còn quên bẵng là mình có đi xe.
Đó là nan đề: Dù giờ đã biểu diễn được đủ trò với trí nhớ, tôi vẫn mắc cái tật xấu cố hữu là để xe không đúng chỗ và để khóa không đúng chỗ. Thậm chí dù tôi tăng đáng kể sức ghi nhớ với các thông tin có cấu trúc để có thể nhét vào cung trí nhớ, thì hầu hết những gì tôi muốn ghi nhớ trong đời sống hàng ngày lại không phải là sự kiện hay chữ số hay bài thơ hay lá bài hay những số nhị phân. Vâng, tôi có thể ghi nhớ tên của vài chục người tại một bữa tiệc cocktail, và chắc chắn việc đó là hữu ích. Và bạn có thể đưa cho tôi gia phả của một vương triều Anh, hay nhiệm kỳ của các Bộ trưởng Nội vụ Hoa Kỳ, ngày diễn ra cách trận đánh lớn trong Chiến tranh Thế giới thứ II, và tôi có thể học thuộc thông tin đó khá nhanh, và thậm chí giữ lại khá lâu. Những kỹ năng này nếu ở trường trung học thì đúng là của trời cho. Nhưng cuộc đời, dù tốt hay xấu, chẳng mấy giống với trường học.
Khả năng nhớ số của tôi tăng gấp đôi nhưng thì trí nhớ của tôi có thực sự tốt lên gấp đôi so với khi tôi bắt đầu rèn luyện trí nhớ không? Tôi ước mình có thể nói như vậy. Song sự thật là, không phải. Khi được yêu cầu nhớ những vết mực ngẫu nhiên, hay nhớ một loại những mẫu vải màu, hay nhớ việc dọn cỏ đường vào hầm nhà bố mẹ, thì tôi cũng không khá hơn người bình thường. Trí nhớ của tôi vẫn bị giới hạn bởi số bảy ma thuật như mọi người khác. Bất cứ thông tin nào không thể dễ dàng chuyển thành hình ảnh và để vào cung trí nhớ thì vẫn khó nhớ với tôi như thường. Tôi đã nâng cấp phần mềm trí nhớ của mình, nhưng phần cứng thì dường như về cơ bản không thay đổi.
Nhưng rõ ràng tôi đã thay đổi. Hay ít nhất tôi đã thay đổi cách suy nghĩ về bản thân. Bài học quan trọng nhất tôi rút ra từ một năm luyện thi trí nhớ không phải là cái bí quyết học thuộc thơ, mà điều gì đó phổ quát hơn, và ở một khía cạnh nào đó, có thể phục vụ đời sống của tôi. Trải nghiệm của tôi đã chứng minh tính hợp lý của quan niệm xa xưa rằng thực hành sẽ làm nên sự hoàn thiện. Nhưng đó phải là sự thực hành đúng cách, có tập trung, tự nhận thức, và thực hành có chủ ý. Tôi đã tự nhận ra rằng với sự tập trung, động lực, và trên hết, thời gian, thì có thể rèn luyện trí óc để làm những điều phi thường.
Khi đã làm xong bài kiểm tra, tôi hỏi Ericsson liệu ông có nghĩ bất kỳ ai bỏ ra lượng thời gian như tôi cũng có thể cải thiện trí nhớ của anh ta ở mức như tôi đã có không.
“Tôi nghĩ rằng chỉ với một dữ liệu duy nhất như thế này thì không biết được,” ông bảo tôi. “Nhưng thật hiếm có người nào tận tụy như anh, và thái độ sẵn sàng nhận lấy thử thách khiến anh khác biệt. Anh rõ ràng không phải một người tầm thường, song mặt khác, tôi không chắc chuyện anh làm là ngoài tầm với của một sinh viên có động lực khác.”
Khi tôi khởi đầu hành trình này, vào một năm trước, lúc đang đứng cuối khán phòng trong tòa nhà Con Edison, tay cầm sổ ghi chép, tôi không biết chuyện sẽ đi đến đâu, hoàn toàn không biết nó sẽ tác động đến cuộc sống của tôi thế nào, hay rốt cuộc nó sẽ thay đổi cuộc sống của tôi ra sao. Nhưng sau khi học được cách ghi nhớ thơ ca và những con số, lá bài và tiểu sử, tôi tin rằng ghi nhớ được nhiều hơn là lợi ích rõ ràng nhất của nhiều tháng tập luyện trí nhớ. Song song với việc ghi nhớ, điều tôi thực sự rèn luyện cho bộ não là khiến nó trở nên lưu tâm hơn, biết để ý đến thế giới xung quanh. Bạn chỉ có thể ghi nhớ nếu bạn quyết tâm chú ý.
Vấn đề đã hành hạ S và nhân vật hư cấu Funes là việc mất khả năng phân biệt giữa những chi tiết đáng bận tâm và không đáng bận tâm. Sự ghi nhớ bắt buộc của họ rõ ràng là bệnh lý, nhưng tôi không khỏi tưởng tượng rằng trải nghiệm của họ với thế giới cũng chắc chắn là phong phú hơn. Không ai muốn hướng chú ý vào những chi tiết tầm thường, song ngay cả việc cái chi tiết tầm thường ấy xảy ra trên đời cũng như nỗ lực để ghi nhận nó cũng có giá trị đáng nói - dù chỉ là khi cố ghi nhận nó, người ta hình thành thói quen chú ý và trân trọng.
Tôi thừa nhận rằng chưa khi nào tôi giỏi việc lấp đầy cung trí nhớ đến mức cảm thấy thoải mái vứt đi máy ghi âm và cuốn sổ tay. Và do công việc đòi hỏi phải biết mỗi thứ một ít, tôi phải đọc quá nhiều, chỉ đôi lúc mới áp dụng được lối đọc tập trung cao độ và ghi nhớ như Ed rao giảng. Dù nhờ kỹ thuật trí nhớ, tôi đã ghi nhớ được dăm ba bài thơ, song tôi vẫn không chinh phục nổi một tác phẩm văn chương nào dài hơn “Tình ca của J. Alfred Prufrock.” Thậm chí một khi đã đạt đến cấp độ có thể ghi nhớ trên ba mươi chữ số trong một phút, tôi thỉnh thoảng tôi mới dùng kỹ thuật này để ghi nhớ số điện thoại của những người mà tôi muốn gọi điện. Tôi thấy việc lưu những số đó vào máy di động là quá đơn giản. Thỉnh thoảng, tôi ghi nhớ những danh sách đồ cần mua, những chỉ dẫn, hay việc cần làm, nhưng chỉ trong tình huống hiếm hoi khi không có sẵn bút để ghi chúng lại. Không phải những kỹ thuật này không tác dụng. Tôi là bằng chứng sống về tác dụng của chúng. Vấn đề là khó tìm thấy cơ hội dùng chúng trong thế giới thực mà những giấy, máy tính, điện thoại di động, và giấy nhắc Post-it đã thay tôi nhiệm vụ ghi nhớ.
Vậy tại sao phải đầu tư cho trí nhớ khi chúng ta đang ở thời đại bộ nhớ ngoại hóa? Câu trả lời thỏa đáng nhất tôi có thể đưa ra là câu trả lời mà tôi vô tình nhận được từ EP, người mà bị mất trí nhớ hoàn toàn đến mức ông không thể định vị mình trong không gian và thời gian, hay trong mối quan hệ với người khác. Đó là: Cách chúng ta nhận thức thế giới và cách chúng ta hành xử chính là sản phẩm của việc chúng ta ghi nhớ cái gì và như thế nào. Chúng ta một khối những thói quen do trí nhớ định hình. Và chúng ta kiểm soát cuộc sống của mình bằng cách dần thay đổi những thói quen đó, nghĩa là thay đổi mạng lưới trí nhớ. Không một câu đùa nào, sáng tạo nào, hiểu biết nào, hay tác phẩm nghệ thuật nào được sản xuất bởi bộ nhớ ngoài. Không, ít nhất là chưa. Khả năng nhận ra sự hài hước trong thế giới, khả năng liên hệ giữa những khái niệm trước đó không liên hệ với nhau, khả năng tạo ra những ý tưởng mới, và khả năng chia sẻ trong một nền văn hóa chung: tất cả những hành vi cơ bản của con người này đều lệ thuộc vào trí nhớ. Một ngày nào đấy trong tương lai xa xôi như Gordon Bell dự đoán, khi bộ nhớ trong và bộ nhớ ngoài của chúng ta hợp nhất hoàn toàn, chúng ta có thể sẽ sở hữu kho tri thức vô hạn. Nhưng điều đó không đồng nhất với trí khôn. Hơn bao giờ hết, lúc này đây, khi vai trò của trí nhớ
trong nền văn hóa bị xói mòn nhanh hơn trước, chúng ta cần nuôi dưỡng trí nhớ trong bộ não, cái trí nhớ tạo nên chúng ta là ai, cái trí nhớ tạo nên giá trị và nguồn gốc của tính cách chúng ta. Tranh đua nhau để xem ai có thể nhớ nhiều trang những bài thơ hạng hai hơn có vẻ không phải là việc quan trọng, song đấy chính là điều quan trọng. Đó chính là điều Ed đã cố truyền đạt cho tôi ngay từ đầu: rèn luyện trí nhớ không phải là để thực hiện trò lạ mua vui ở chỗ tiệc tùng; mà là để nuôi dưỡng điều gì đó có tính nhân văn căn bản và sâu sắc.
Trước khi cuộc vui của KL7 chuyển sang chơi trò cờ tưởng ai tham gia cũng được và mọi người thi nhau lè nhè đọc lại bài thơ ngày hôm trước, thì Gunther dồn tôi xuống ghế trường kỷ và hỏi liệu tôi sẽ tiếp tục thi đấu ở giải trí nhớ không. Tôi bảo ông ta rằng phần không nhỏ trong tôi rất muốn thế. Cuộc chơi này không chỉ kích thích lạ lùng đến không ngờ, mà mà còn gây nghiện nữa. Tối hôm đó, tôi có thể hình dung ra điều mà tôi chưa bao giờ tính tới: khả năng lậm sâu hơn vào trò này. Dù gì, tôi cũng đã giành được chức vô địch Mỹ và lập một kỷ lục nhớ bài nhanh, và tôi chắc mình có thể vượt qua cái rào cản một phút trong môn nhớ bài, nếu dành nhiều thời gian hơn. Đấy là chưa kể đến những ngày tháng lịch sử: Tôi có thể đạt thành tích tốt hơn nhiều trong phần nhớ ngày tháng lịch sử! Và còn đó tiêu chuẩn đại kiện tướng mà tôi bỏ lỡ. “Cái danh hiệu Đại kiện tướng Trí nhớ mà để trên danh thiếp sẽ hay lắm đấy,” tôi đùa với Gunther (ông ta quả có in nó lên danh thiếp). Tôi hẳn đã đưa vào cung trí nhớ của mình những hình ảnh tôi đang tưởng tượng: hệ thống thiên niên kỷ tôi sẽ phát triển, những tấm che mắt tôi sẽ mua, hàng giờ tập luyện mà tôi sẽ đầu tư, lịch di chuyển máy bay đến dự các giải vô địch quốc gia trên thế giới. Dù có như vậy, ngay thời khắc tôi được mời vào chốn linh thiêng nhất của cộng đồng trí nhớ, thì tôi cũng đủ tỉnh táo để nhận ra rằng đã đến lúc dừng lại. Thí nghiệm của tôi đã kết thúc. Kết quả đã có. Tôi bảo Gunther là tôi sẽ nhớ nó đấy, nhưng tôi không nghĩ mình sẽ quay lại năm sau.
“Chán quá,” ông ta nói, “nhưng tôi hiểu. Nếu tiếp tục là phải luyện tập nhiều hơn, và lúc này anh sẽ biết đầu tư thời gian hiệu quả hơn nhiều.” Ông ta đã đúng, tôi nghĩ. Tôi tự hỏi tại sao bản thân ông ta không bao giờ biến điều đó thành hiện thực.
Ed đứng dậy và nâng cốc mừng tôi, người học trò ngôi sao của anh ta. “Chúng ta đi kiếm bánh vòng nào,” anh ta nói, chúng tôi cùng ra khỏi cửa. Tôi không nhớ gì phần còn lại tối hôm ấy. Sáng hôm sau tôi tỉnh dậy, trên má có một vòng tròn lớn màu đỏ - tấm huy chương đồng ở phần thi tên-người-khuôn-mặt đã hằn dấu lên. Tôi đã quên tháo nó ra.
HẾT
Tủ sách BOOKBT #300 07/08/2017
Chú thích
[1] Royal flush: một dây bài đồng chất trong môn poker (xì tố).
[2] Cờ tưởng hay cờ mù (Blindfold chess) là một nội dung thi đấu đặc thù của môn cờ vua trong đó hai đấu thủ chơi cờ bằng tâm trí, không có bàn cờ hoặc các con cờ trên bàn cờ. Đây là một hình thức thi đấu cờ phổ biến trên thế giới.
[3] Sau chiến tranh thế giới thứ II, ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước phương Tây, xảy ra tình trạng tăng vọt về dân số. Người ta hay gọi thời kỳ này là Baby Boom.
[4] Yawn: ngáp; Ulcer: nhọt; Aisle: lối đi.
[5] Trong tiếng Anh, Josh nghĩa là bỡn cợt; còn Foer đọc lên nghe giống four, số 4.
[6] Baker tiếng Anh cũng có nghĩa là thợ làm bánh.
[7] Peter Pan: Nhân vật trong tiểu thuyết của J.M. Barrie. Cậu bé Peter Pan ham vui chơi và không muốn trưởng thành.
[8] Theo thứ tự: đùa bỡn, mềm mại, càu nhàu.
[9] Loài sinh vật trong thần thoại có thân hình của người và đầu của chó hay chó sói.
[10] Ed dùng chữ peat-smoked salmon là món cá hồi xông khói than bùn. Còn Foer (tác giả) dùng từ lox, cũng chỉ món cá hồi xông khói.
[11] Merlot: Rượu vang đỏ, làm từ nho trồng ở miền nam nước Pháp; Sauvignon blanc: Rượu vang trắng, làm từ nho trồng miền trung và tây nam nước Pháp; Chardonnay: Rượu vang trắng, làm từ nho trồng ở vùng Burgundy, nước Pháp; Gewurztramnier: Rượu vang trắng, làm từ nho trồng ở vùng Alsace, nước Đức; Riesling: một loại vang trắng của Đức.
[12] Tiếng Anh: she-male (người chuyển đổi giới tính nam thành nữ), đọc lên nghe giống e- mail.
[13] Những từ do Lewis Carroll sáng tạo ra trong bài thơ Jabberwocky.
[14] Scrabble: Trò chơi ghép chữ, người chơi dùng các thẻ chữ cái đặt lên bàn ô vuông theo hàng dọc hoặc hàng ngang để tạo ra các từ có nghĩa.
[15] Miserare: từ này không rõ nghĩa. Có thể Buzan lấy cảm hứng từ Bài thánh ca số 51 của tác giả người Ý Gregorio Allegi, tựa đề Miserere, hay Miserere mei, Deus nghĩa là Xin Chúa mở lòng từ bi với con.
[16] Rawa là một thành phố ở Iraq. Người dân ở thành phố này được gọi là người Rawi.
[17] Đoạn trên có nghĩa: AS YOU CAN SEE IT’S NOT VERY EASY TO READ TEXT WRITTEN WITHOUT SPACES OR PUNCTUATION OF ANY KIND OR EVEN HELPFULLY POSITIONED LINE-BREAKS. AND YET THIS WAS EXACTLY THE FORM OF INSCRIPTION USED IN ANCIENT GREECE (Bạn thấy đấy, chẳng dễ gì đọc đoạn văn không hề có bất kỳ dấu cách hay dấu câu nào, hay thậm chí là những chỗ cách dòng hữu ích. Ấy nhưng đây chính là cách ghi chép vào thời Hy Lạp cổ đại.)
[18] Hai câu này có nghĩa: (Bị) ngạt mũi làm giảm khả năng ngửi rượu; và Những trò hắn biết khiến hắn liếm cô ả. Trong tiếng Anh, hai câu này đọc lên nghe giống nhau.
[19] Johannes Gutenberg (1395-1468), người Đức, đã phát minh ra máy in khởi đầu cuộc cách mạng in ấn.
[20] Frank Lloyd Wright (1867-1959), kiến trúc sư người Mỹ, có ảnh hưởng lớn đến nền kiến trúc Mỹ trong thế kỷ 20.
[21] Chứng bệnh gây suy yếu và phá hủy thần kinh vận động.
[22] Một loại vải do người Akan ở châu Phi làm ra, giống thổ cẩm ở Việt Nam.
[23] “Tìm kiếm” ở đây được hiểu là tìm trong trí nhớ.
[24] Một dạng tài liệu hướng dẫn học tập, chủ yếu dùng ở Mỹ.
[25] Gettysburg Address: là bài diễn văn do Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đọc tại Nghĩa trang Quốc gia Gettysburg, bang Pennsylvania năm 1863. Chữ address cũng có nghĩa là địa chỉ.
[26] Laurence Kerr Olivier (1907-1989), diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất phim người Anh; Joshep Ryduard Kipling (1865-1936): nhà thơ, nhà văn Anh, nổi tiếng qua những bài thơ viết về quân lính Anh ở Ấn độ và những truyện cổ tích viết cho trẻ em.
[27] Narrow savant. Trang wikipedia dẫn lời nhà tâm lý học Darold Treffert rằng các kỳ nhân có trí nhớ rất sâu nhưng cực kỳ hạn hẹp (narrow). Hạn hẹp hiểu theo nghĩa họ có trí nhớ tuyệt vời nhưng rất khó sử dụng chúng.
[28] Tương đương với bằng tốt nghiệp Trung học Cơ sở.
[29] Mental anguish: giày vò trí óc.
[30] Elles Lee DeGeneres, người Mỹ, là diễn viên, dẫn chương trình truyền hình, và người độc tấu hài (stand up comedian). Bà là người dẫn chương trình mang tên The Elles DeGeneres Talk show.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét