Chương hai Người nhớ quá nhiều
háng Năm 1928, nhà báo trẻ S bước vào văn phòng của nhà tâm lý học thần kinh người Nga A.R. Luria và nhã nhặn đề nghị được kiểm tra trí nhớ. Anh được sếp cử đến, ông ta là biên tập của tờ báo nơi anh làm việc. Mỗi sáng, tại cuộc họp giao ban hàng ngày, ông sếp phân phát nhiệm vụ trong ngày cho đám phóng viên bằng hàng tràng liên thanh đầy những sự kiện, đầu mối liên lạc, và các địa chỉ mà họ cần để viết bài. Tất cả đều cắm cúi ghi chép tràng giang đại hải, trừ một người. S chỉ quan sát và lắng nghe.
Một buổi sáng, vì phát ngấy với sự thờ ơ rành rành của anh phóng viên nọ, ông biên tập mới kêu S đến để giảng cho anh một bài về sự cần thiết phải nghiêm túc trong công việc. Anh nghĩ mọi thông tin biên tập nói ra buổi sáng chỉ bởi người nói thích tự nghe giọng mình sao? Anh nghĩ mình có thể viết bài mà không cần đầu mối cấp tin sao? Rồi thì anh có thể liên hệ với mọi người bằng phép ngoại cảm, không cần đến địa chỉ của họ đấy hẳn? Nếu muốn có tương lai trong giới báo chí thì tốt hơn là phải bắt đầu tập trung và ghi chép đi, ông biên tập bảo anh thế.
S cứ ngây người nhìn ông biên tập suốt cuộc quát tháo và chờ ông ta tuôn cho hết. Rồi anh bình tĩnh nhắc lại chi tiết của cuộc họp buổi sáng hôm đó, từng từ một. Ông biên tập ngã ngửa người ra. Ông không biết phải nói gì. Nhưng sau này S kể, chính anh còn cảm thấy sốc hơn. Cho đến giây phút đó anh luôn cho rằng việc con người ta nhớ tất tật mọi thứ là chuyện hết sức bình thường.
Khi đến văn phòng của Luria, S vẫn hoài nghi về sự độc đáo của mình. “Anh ta không nhận thấy điều gì khác biệt ở bản thân, và không thể hình dung được ràng trí nhớ của anh khác với những người khác,” nhà tâm lý học nhớ lại, ông đã cho anh ta làm nhiều bài kiểm tra để đánh giá sức nhớ của anh. Đầu tiên, Luria đề nghị S ghi nhớ danh sách những chữ số, và ngạc nhiên lắng nghe đối tượng nhút nhát của mình nhắc lại đúng bảy mươi con số, hết xuôi chiều rồi đến ngược chiều. “Dù tôi có đưa cho anh ta các chuỗi ký tự là những từ có nghĩa hay không có nghĩa, là chữ số hay âm tiết, được thể hiện qua lời nói hay viết,” Luria nói. “Điều duy nhất anh ta cần là ba-đến-bốn giây ngắt quãng giữa các chuỗi ký tự, và anh ta không gặp chút khó khăn nào để nhắc lại đúng những gì tôi đã đưa ra.” Luria cho S thử hết thí nghiệm này đến thí nghiệm khác, vẫn chỉ duy nhất một kết quả: thật khó mà bắt bí được anh ta. “Là người trực tiếp làm thí nghiệm cho anh ta, chẳng bao lâu tôi bắt đầu thấy bối rối cực độ,” Luria nhớ lại. “Đơn giản là tôi phải thừa nhận rằng... tôi không thể thực hiện điều người ta nghĩ là nhiệm vụ đơn giản nhất một nhà tâm lý học có thể làm: đo năng lực trí nhớ của một cá nhân.”
Luria tiếp tục nghiên cứu S trong ba mươi năm tiếp theo, và cuối cùng viết hẳn một cuốn sách về anh, Trí óc của một chuyên gia trí nhớ: Cuốn sách nhỏ về một bộ nhớ mênh mông (The mind of a Mnemonist: A little book about a vast memory), đây là một trong những tác phẩm kinh điển nhất về các hiện tượng tâm lý dị thường. S có thể ghi nhớ những công thức toán phức tạp mà không cần phải biết gì về toán, nhớ bài thơ tiếng Ý mà không cần nói được tiếng Ý, kể cả những câu rất phức tạp. Anh không chỉ nhớ được những tài liệu rất dài, mà đặc biệt hơn, dường như trí nhớ của anh không bao giờ suy giảm. Với người bình thường, trí nhớ dần sa sút theo thời gian, hiện tượng này gọi là “đường cong lãng quên.” Từ thời điểm bạn nắm được một thông tin mới, “độ bám giữ” thông tin
đó trong trí nhớ của bạn bắt đầu “lơi” dần ra, cho đến khi cuối cùng để nó “tuột đi” hẳn. Trong những thập niên cuối của thế kỷ mười chín, nhà tâm lý học người Đức Hermann Ebbinghaus bắt đầu định lượng quá trình quên lãng không thể chặn đứng được này. Để hiểu trí nhớ suy giảm theo thời gian như thế nào, ông mất nhiều năm để nhớ 2.300 âm tiết vô nghĩa cấu tạo bằng ba ký tự như GUF, LER, và NOK. Vào những khoảng thời gian nhất định, ông tự kiểm tra xem có bao nhiêu âm tiết ông đã quên, và trí nhớ giữ lại được bao nhiêu. Khi vẽ kết quả lên đồ thị, ông có một đường cong trông như thế này:
Dù thực hiện thí nghiệm này với bản thân bao nhiêu lần, kết quả về đại thể vẫn luôn như nhau: Sau một tiếng kể từ khi học một loạt những âm tiết vô nghĩa, hơn phân nửa số đó sẽ bị quên. Sau ngày đầu tiên, mười phần trăm nữa biến mất. Sau một tháng, mười bốn phần trăm nữa. Sau đó, những gì còn đọng lại trong trí nhớ ít nhiều ổn định - chúng được củng cố trong trí nhớ dài hạn - và tốc độ lãng quên giảm xuống rất chậm.
Trí nhớ của S dường như không tuân theo đường cong lãng quên này. Dù người ta có yêu cầu anh nhớ nhiều bao nhiêu, hay đã qua bao lâu - có khi đến tận mười sáu năm sau - thì anh vẫn luôn có thể đọc lại những tài liệu đó với sự chính xác như thể vừa mới đọc xong. “Anh ta sẽ ngồi xuống, mắt nhắm lại, yên lặng một lúc rồi bắt đầu: “Vâng, vâng... đây là chuỗi ký tự ông đã cho tôi xem khi chúng ta ở nhà ông... lúc đó ông đang ngồi ở bàn... ông mặc bộ vét màu xám... rồi cứ thế anh ta thuật lại chính xác như thể tôi vừa cho anh ta đọc ở buổi trước,” Luria viết.
Theo lời kể truyền cảm trong của Luria, đôi khi S hiện ra như một du khách đến từ hành tinh khác, còn trong biên niên ký ngành tâm lý học bất thường, trường hợp của anh ta
được xem là hoàn toàn độc đáo. Nhưng khi bắt tay vào luyện trí nhớ, tôi nhận ra một cách giải thích khác thú vị hơn về câu chuyện của S: rằng trường hợp như S cực kỳ hiếm hoi, nhưng những người bình thường với bộ não yếu đuối, dễ quên như chúng ta vẫn có nhiều khả năng học theo anh ta. Quả thật, những kỹ năng lạ thường của anh ta có thể đang ngủ yên đâu đó trong tất cả chúng ta.
Sau khi hoàn tất bài tường thuật về cuộc thi đã đưa tôi đến New York, theo trình tự làm báo thông thường tôi sẽ quay về nhà, viết một bài ngắn, và chuyển sang đề tài khác. Nhưng lần này thì không thế. Thay vì bắt tàu về Washington, tôi lại thấy mình đứng ở cuối một khán đài khác - lần này là một trường trung học công ở khu Upper East Side thuộc Manhattan, nơi Ed Cooke sẽ dạy một lớp gồm các học sinh mười sáu tuổi phương pháp sử dụng kỹ thuật ghi nhớ để vượt qua các kỳ thi. Tôi đã hủy kế hoạch của mình ngày hôm đó và bám theo bởi anh ta đã hứa nếu tôi đi cùng anh ta đủ lâu, thì anh ta sẽ giải thích chi tiết cho tôi làm thế nào anh ta và Lukas đã tự học ghi nhớ được như S. Trước khi tìm hiểu những bí quyết sâu kín như vậy cũng nên có một vài nền tảng căn bản đã. Ed muốn cho tôi và các học sinh thấy rằng trí nhớ của chúng ta vốn dĩ đã phi thường rồi - ít nhất là khi học những loại thông tin nhất định. Để chứng minh, anh ta mang theo bài kiểm tra trí nhớ có tên “nhận diện hình đúng giữa hai hình”.
Sau khi tự giới thiệu với các học sinh bằng vài câu tự giễu kiểu, “Tôi đến từ nước Anh, nơi người ta thích dành thời gian để ghi nhớ thay vì phát triển đời sống xã hội toàn vẹn,” anh ta chứng minh khả năng ghi nhớ của mình bằng cách học thuộc một số có bảy mươi chữ số trong hơn một phút (nhanh hơn gấp ba lần so với thời gian S cần để thực hiện việc tương đương), rồi ngay sau đó cho tôi và các học sinh làm luôn bài kiểm tra trí nhớ.
“Tôi sẽ cho các bạn xem một chùm các bức tranh, và tôi sẽ chiếu rất, rất nhanh,” anh ta tuyên bố, cố nhấn giọng trước đám thiếu niên ồn ào. “Tôi muốn các bạn gắng nhớ càng nhiều càng tốt.” Anh ta nhấn một nút trên điều khiển, đèn trần mờ đi. Một chuỗi hình ảnh bắt đầu chạy vụt qua màn hình máy chiếu trước phòng, mỗi hình chỉ lưu lại chưa đầy nửa giây. Có một hình Muhammad Ali đang đứng trong hân hoan chiến thắng trước Sonny Liston. Rồi một hình những thanh tạ. Rồi dấu chân Neil Armstrong trên mặt trăng. Rồi bìa cuốn sách Phả hệ của đạo đức (On the Genealogy of Morals) của Friedrich Nietzsche. Và một bông hồng đỏ.
Có ba mươi tấm hình như vậy, mỗi hình hiện ra và biến mất nhanh đến nỗi chúng tôi không dám chắc có thể nhớ được hình nào không, đừng nói gì đến tất cả. Nhưng tôi ráng hết mức để bắt vài chi tiết từ mỗi hình và ghi chú lại trong đầu. Sau tấm cuối cùng, hình một con dê, bức tường trắng trơn và đèn sáng trở lại.
“Giờ, các bạn nghĩ mình có thể nhớ được tất cả tấm hình đó không?” Ed hỏi chúng tôi.
Một cô bé ngồi ngay trước tôi kêu lên đầy mỉa mai, “Không đời nào!” gây tiếng cười khúc khích cho đám bạn.
“Nói hay lắm!” Ed reo lên đáp trả, rồi nhìn xuống đồng hồ xem giờ. Tất nhiên, điểm chính yếu của bài tập này - còn có thể là gì khác nữa đây - là chúng tôi sẽ có thể nhớ tất cả những hình đó. Cũng như cô bé ngồi đằng trước, tôi thấy thật khó mà tin nổi.
Sau khi chờ ba mươi phút để đường cong lãng quên làm cái việc không thể tránh khỏi là xóa sổ những hình ảnh chúng tôi được nhìn chớp nhoáng kia, Ed đưa ra một loạt hình mới. Lần này, có hai tấm hình trên màn ảnh. Một là tấm hình chúng tôi đã nhìn lúc trước
và tấm kia chúng tôi chưa nhìn thấy: Muhammad Ali bên trái và viên thuốc Alka-Seltzer đang sủi bọt xì xèo bên phải.
Anh ta đề nghị chúng tôi chỉ tấm hình đã được xem. Quá dễ. Chúng tôi đều biết mình đã thấy Muhammad Ali chứ không phải những viên thuốc Alka-Seltzer. “Các bạn không bất ngờ là mình lại nhớ dễ dàng vậy sao?” Ed hỏi, trước khi chuyển sang hình khác: một con nai bên trái, và cuốn sách Nietzsche bên phải.
Tất cả chúng tôi cũng đều biết hình đúng. Anh ta đi hết ba mươi tấm hình, và mọi người trong phòng đều nhận ra hình nào nằm trong số những bức ảnh mà chúng tôi đã xem trước đó. “Và đây mới là thứ làm say lòng người,” Ed nói, đi qua đi lại trông rất ra dáng trước khán phòng lót vải sơn. “Chúng ta có thể làm thế này với cả chục ngàn tấm hình, và các bạn có thể thực hiện gần như chẳng kém gì. Trí nhớ của các bạn đối với hình ảnh là tốt như vậy đấy.” Anh ta nhắc đến những thí nghiệm thường được trích dẫn, thực hiện vào những năm 1970, khi đó người ta cũng sử dụng chính bài kiểm tra nhận dạng hình ảnh mà chúng tôi đã làm nhưng thay vì ba mươi hình, các nhà nghiên cứu yêu cầu đối tượng nhớ mười ngàn hình. (Phải mất đúng một tuần mới làm xong kiểm tra.) Như vậy trí óc buộc phải ghi dấu rất nhiều hình ảnh, mà, nhất là chỉ được nhìn mỗi hình một lần. Vậy mà, các nhà khoa học phát hiện ra rằng mọi người có thể nhớ đến hơn 80 phần trăm những gì họ đã nhìn. Trong một nghiên cứu gần đây hơn, bài kiểm tra như vậy cũng được thực hiện với 2.300 hình ảnh, nhưng thay vì đề nghị mọi người chọn hình một trong hai hình là Muhammad Ali hay viên thuốc sủi bọt Alka-Seltzer (một lựa chọn dễ dàng, dù Cassius Clay (tên khai sinh của Muhammad Ali) có sôi sục đến thế nào, họ phải chọn giữa những hình ảnh gần như giống hệt nhau: một xấp những tờ năm đô la và một xấp những tờ một đô la; xe điện màu xanh và xe điện màu đỏ, tạ tay cầm nhỏ và tạ tay cầm to. Thậm chí khi hai hình ảnh chỉ có một chi tiết khác biệt nho nhỏ, mọi người vẫn nhớ được hình đúng chính xác đến 90 phần trăm.
Những con số đó quả thật đáng kinh ngạc, nhưng tôi nhận ra rốt cục chúng chỉ lượng hóa một điều tôi đã biết nhờ bản năng: trí nhớ của chúng ta làm việc hiệu quả kinh hồn. Trong tất cả những kêu ca về khiếm khuyết trí nhớ - nào là để chìa khóa không đúng chỗ, quên tên người này người khác, nhiều việc nói sắp ra miệng rồi tự nhiên lại quên - thì khiếm khuyết lớn nhất có lẽ là: ta quên mất rằng thật ra mình chẳng mấy khi quên.
“Đây là điều kỳ diệu nhất về bài kiểm tra tôi vừa làm với các bạn,” Ed tuyên bố. “Sau mấy năm nữa, nếu ta thực hiện lại bài kiểm tra này và hỏi các bạn bức hình nào bạn đã thấy từ trước, thường bạn sẽ vẫn chỉ ra được bức hình đúng. Đâu đó trong đầu bạn vẫn còn lưu dấu về mọi thứ bạn từng nhìn thấy.”
Nhận định khá táo bạo và có vẻ đáng ngờ, tôi tò mò muốn tìm hiểu thêm nữa. Chính xác là trí nhớ của chúng ta tốt đến mức nào? Tôi tự hỏi. Lẽ nào chúng ta có khả năng nhớ tất cả chăng?
Ý niệm rằng bộ não không thực sự quên điều gì chắc chắn đã hàm ẩn trong cách chúng ta nói về trí nhớ. Những ẩn dụ chúng ta thường dùng để mô tả trí nhớ - tấm hình, máy ghi âm, gương, máy tính - tất cả đều gợi sự chính xác của máy móc, như thể trí óc là một kẻ sao chép tỉ mỉ những trải nghiệm. Thực ra, mãi đến gần đây tôi mới biết hầu hết các nhà tâm lý học đều ngờ rằng bộ não chúng ta thực sự có chức năng là một cái máy ghi hoàn hảo - rằng những ký ức cả một đời người được lưu đâu đó trong bộ não, và nếu chúng không thể được tìm thấy thì không phải vì chúng đã biến mất, mà bởi chúng ta đặt chúng nhầm chỗ. Trong một bài báo thường được trích dẫn, xuất bản năm 1980, nhà tâm lý học
Elizabeth Loftus thăm dò các đồng nghiệp và phát hiện ra rằng 84 phần trăm trong số họ đồng ý với nhận định này: “Mọi thứ chúng ta học được được lưu trữ vĩnh viễn trong bộ não, mặc dù đôi khi ta không tiếp cận được một số chi tiết cụ thể. Nhờ thuật thôi miên, hay những kỹ thuật đặc biệt khác, những chi tiết không thể tiếp cận được đó cuối cùng có thể khôi phục lại.
Loftus còn viết rằng niềm tin này xuất phát từ một loạt thí nghiệm được một nhà giải phẫu thần kinh tên Wilder Penfield thực hiện từ những năm 1934 đến 1934. Penfield dùng các cực dò điện kích thích bộ não những bệnh nhân động kinh trong khi họ nằm tỉnh táo trên bàn mổ, bộ não lộ ra. Ông đang cố xác định nguồn của cơn động kinh để tìm cách chữa trị, rồi ông phát hiện ra rằng khi những đầu cực điện chạm vào những phần nhất định của thùy thái dương, điều bất ngờ xảy ra. Các bệnh nhân bắt đầu mô tả lại rõ ràng những ký ức lãng quên từ lâu. Khi ông chạm lại cùng điểm đó, ông thường nghe được cùng một ký ức. Dựa trên những thí nghiệm này, Penfield tin rằng bộ não ghi lại mọi thứ nó tiếp nhận ở mọi mức độ tập trung ý thức khác nhau, và việc ghi lại này là vĩnh viễn.
Nhà tâm lý học người Hà Lan, Willem Wagenaar cũng tin như vậy. Từ năm 1978 đến 1984, mỗi ngày ông ghi vào nhật ký một hoặc hai sự kiện đáng nhớ nhất xảy ra hôm ấy. Với mỗi sự kiện, ông ghi lại điều đã xảy ra, ai liên quan, nơi xảy ra, và thời điểm - mỗi sự kiện ở trên một tấm thẻ khác nhau. Trong năm 1984, ông bắt đầu tự kiểm tra để xem liệu mình có thể nhớ được bao nhiêu trong sáu năm đó. Ông sẽ rút ra ngẫu nhiên một tấm thẻ xem mình có nhớ gì về sự kiện trong ngày đó không. Ông thấy rằng mình có thể nhớ gần như mọi thứ xảy ra - đặc biệt là những sự kiện gần đây - với chỉ một vài đầu mối gợi ý. Nhưng khoảng 20 phần trăm những ký ức cũ nhất dường như hoàn toàn biến mất. Những sự kiện này dù được mô tả trong nhật ký của ông bỗng trở nên hoàn toàn xa lạ, như thể chúng xảy ra với một ai đó khác.
Nhưng những ký ức đó có thực sự mất đi không? Wagenaar không tin như vậy. Ông quyết định nhìn lại mười sự kiện mà ông tin mình đã hoàn toàn quên, trong đó có đề cập đến sự hiện diện của người khác. Ông tìm gặp những người đó và hỏi họ về những chi tiết có thể giúp ông nhớ lại những ký ức đã mất. Trong mỗi trường hợp, khi được khơi gợi đúng mức, có người sẽ cung cấp được một chi tiết giúp Wagenaar khôi phục lại phần ký ức bị lấp. Không một ký ức nào của ông thực sự biến mất. Ông kết luận rằng “từ chuyện này người ta không thể nói có sự kiện nào bị lãng quên hoàn toàn.”
Dầu vậy, trong ba thập niên qua, hầu hết các nhà tâm lý đã trở nên bớt lạc quan về chuyện chúng ta lưu giữ được ký ức đầy đủ về mọi chuyện trong quá khứ, chỉ còn chờ được đánh thức. Từ nghiên cứu của các nhà khoa học thần kinh, một vài bí ẩn về bản chất thực sự của trí nhớ đã bắt đầu hé lộ, và rõ ràng là việc các ký ức phai mờ dần và cuối cùng biến mất theo thời gian là một hiện tượng sinh lý có thực xảy ra trong bộ não ở cấp độ tế bào. Và hầu hết các nhà khoa học giờ đây đồng ý rằng những thí nghiệm của Penfield đã gọi ra những ảo giác - kiểu như cảm giác gặp cùng một trải nghiệm từng có trước đây (dejà vu) hoặc một giấc mơ hơn là ký ức thực sự.
Tuy nhiên, sự tái xuất hiện đột ngột của những đoạn ký ức về chuyện trong quá khứ vốn đã bị lãng quên từ lâu cũng là một trải nghiệm khá thường gặp, và vẫn tồn tại quan điểm cho rằng chỉ cần một đầu mối hợp lý, chúng ta có thể bằng cách nào đó hồi tưởng lại từng mẩu nhỏ thông tin đã đi vào bộ não. Thực sự, có lẽ nhận thức sai lầm phổ biến nhất về trí nhớ con người - điều mà Ed thường cười nhạo - ấy là một số người có trí nhớ hình ảnh. Khi tôi căn vặn điều đó, anh ta giãi bày rằng có khi đang ngủ giật mình choàng dậy, toát mồ hôi lạnh, chỉ sợ ngày nào đó một người có trí nhớ hình ảnh đọc được trên báo chí tin về
Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới liền xuất hiện và hạ anh ta lẫn tất thảy đồng nghiệp. Anh ta yên tâm khi biết hầu hết các nhà khoa học đều nhất trí chuyện này không thể xảy ra. Cho dù nhiều người tự nhận có trí-nhớ-hình-ảnh, thì không có bằng chứng nào cho thấy có người thực sự lưu giữ được những pô-ảnh-chụp-bằng-tâm-trí và nhớ lại với sự chính xác hoàn hảo. Thực ra, chỉ duy nhất một trường hợp trí nhớ hình ảnh từng được mô tả trong các tài liệu khoa học.
Năm 1970, một nhà khoa học thị giác ở Harvard tên Charles Stromeyer III đã đăng trên Nature, một trong những tạp chí khoa học uy tín nhất thế giới, trường hợp về một phụ nữ trẻ tên Elizabeth, sinh viên Harvard, người có thể thực hiện một kỳ tích đáng kinh ngạc. Stromeyer cho mắt phải Elizabeth xem tấm hình có hàng chục ngàn dấu chấm ngẫu nhiên, và ngày hôm sau, cho mắt trái cô ấy xem một hình khác cũng gồm những dấu chấm. Kinh ngạc thay, Elizabeth có thể ghép hai hình ảnh này trong tâm trí, như thể chúng là một trong những “ảnh ảo” nhìn ra từ tấm hình toàn những chấm ngẫu nhiên, một trò chơi nổi lên thành mốt vào những năm 1990. Khi ghép chúng lại, cô sinh viên cho biết mình thấy một hình duy nhất - hình ảnh mới do hai hình cũ chồng lên nhau. Dường như Elizabeth là bằng chứng thuyết phục cho thấy trí nhớ hình ảnh có khả năng tồn tại. Nhưng rồi, bất ngờ và kịch tính như phim, Stromeyer kết hôn với cô, và cô không bao giờ là đối tượng của thí nghiệm nào nữa.
Năm 1979, một nhà nghiên cứu khác là John Merritt đã quyết định xác thực những nhận định của Stromeyer. Ông đăng một bài trắc nghiệm trí nhớ hình ảnh trên các báo và tạp chí toàn quốc. Nó gồm hai tấm hình với những điểm chấm ngẫu nhiên. Merritt hy vọng sẽ xuất hiện người có khả năng tương tự như Elizabeth và chứng minh rằng trường hợp của cô không phải là độc nhất. Ông ước tính có gần một triệu người cố thử làm trắc nghiệm này. Trong số đó, ba mươi người có câu trả lời đúng, và mười lăm người đồng ý để Merritt nghiên cứu. Nhưng khi làm trắc nghiệm dưới con mắt quan sát trực tiếp của các nhà khoa học, không ai đạt thành công như Elizabeth đã làm.
Có quá nhiều tình tiết bất ổn xung quanh trường hợp Elizabeth - cuộc hôn nhân giữa đối tượng và nhà khoa học, thiếu các thí nghiệm kiểm chứng thêm, không thể tìm ra ai khác có khả năng như cô - từ đó các nhà khoa học kết luận rằng những phát hiện của Stromeyer có gì đó mờ ám. Ông ta phản bác. “Chúng tôi toàn toàn chắc chắn về các dữ liệu của mình,” ông ta nói với tôi qua điện thoại. Song ông thừa nhận, nghiên cứu của ông với chỉ một đối tượng nữ “không phải là bằng chứng vững chắc chứng tỏ còn những người khác cũng có trí nhớ hình ảnh.”
Từ thuở nhỏ, tôi đã say mê những câu chuyện về những người Do Thái chính thống cực đoan thuộc toàn bộ 5.422 trang kinh sách Talmud Babylon, và khi bạn lật giở bất kỳ trang nào trong sáu mươi ba cuốn kinh sách, họ có thể kể ra những từ nào có trên trang nào. Tôi luôn cho rằng những câu chuyện như vậy chỉ là một dạng truyền thuyết. Nhưng hóa ra, cũng như Atom Cường tráng, những chuyên gia kinh Talmud được xem là các vị thánh nhân Do Thái. Năm 1917, nhà tâm lý học George Stratton viết một nghiên cứu trên Tạp chí Tâm lý học về một nhóm học giả kinh Talmud người Ba Lan, gọi là Shass Pollak (theo nghĩa đen, “Gậy Talmud”), họ nổi tiếng vì trí nhớ chính xác. Nhưng như ông viết trong phần nhận định, dù nhóm Shass Pollak có trí nhớ ấn tượng như vậy nhưng “không ai nổi trội trong thê giới học giả.” Không phải trí nhớ hình ảnh giúp nhóm Shass Pollak, mà chính là sự chuyên tâm học tập của họ. Nếu một người bình thường quyết tâm dành cả đời mình để ghi nhớ 5.422 trang chữ, thì cuối cùng anh ta cũng sẽ đạt thành quả khá tốt.
Nên nếu trí nhớ hình ảnh chỉ là một truyền thuyết, vậy nhà báo S người Nga thì sao? Nếu anh ta không chụp các hình ảnh lại trong đầu, thì chính xác anh ta đã làm gì?
Trí nhớ kỳ lạ của S không chỉ là một đặc điểm dị thường duy nhất về bộ não của anh. Anh cũng bị một dạng rối loạn giác quan hiếm gặp, gọi là chứng giác quan liên đới (synesthesia), nó khiến các giác quan của anh liên kết lại với nhau một cách kỳ quặc. Mỗi âm thanh S nghe đều mang một màu sắc riêng, hình thù riêng, và đôi khi mùi vị riêng, và nó kích thích “một hỗn họp cảm giác phức tạp.” Có những từ “trắng và mượt” những từ khác thì “có màu cam và sắc như mũi tên.” Giọng của đồng nghiệp Luria, nhà tâm lý học nổi tiếng Lev Vygotsky, là “màu vàng dễ vỡ.” Giọng của nhà nhiếp ảnh Sergei Eisenstein giống như “một ngọn lửa với những xơ sợi thời ra.”
Những từ ngữ làm vụt lên trong S sự tưởng tượng tâm trí. Khi bạn hay tôi nghe ai đó nhắc đến từ “con voi” hay đọc từ này trên một trang sách, chúng ta hiểu ngay rằng đó là sự ám chỉ đến một loài vật to lớn, màu xám có chân lớn và cái vòi quá cỡ. Nhưng trong hầu hết các trường hợp, chúng ta không thực sự dựng lên hình ảnh của một con voi trong đầu. Nếu muốn thì chúng ta vẫn có thể gọi lên được, nhưng cần phải gắng một chút, và trong quá trình trò chuyện hay đọc bình thường, việc này không cần thiết. Đó chính là điều S làm với mỗi từ anh nghe được, một cách tự động và ngay tức thì. Anh không thể cưỡng lại. “Khi tôi nghe từ xanh lục, thì một chậu hoa màu xanh xuất hiện; với từ đỏ, thì tôi thấy một người đàn ông mặc sơ mi đỏ đang tiến lại gần tôi; với màu xanh dương, có nghĩa là một hình ảnh ai đó đang vẫy lá cờ màu xanh từ một ô cửa sổ,” anh bảo Luria.
Bởi mỗi từ đều gợi đến hình ảnh tổng hợp và đôi khi kèm theo cả mùi và vị nữa - S như sống trong cơn ác mộng, tỉnh thức đó mà vẫn bị tách khỏi thực tại. Khi thế giới mở ra trước mắt anh, một thế giới khác của hình ảnh cũng nở rộ trong đầu anh.
Những hình ảnh này đã “chiếm cứ” tâm trí S mạnh đến nỗi nhiều lúc không thể phân biệt chúng với thực tại. “Quả thật, khó mà nói đối với anh ta cái gì là thực hơn: thế giới tưởng tượng anh ta sống, hay thế giới thực tại mà anh ta chỉ là người khách vãng lai,” Luria viết, S chỉ cần tưởng tượng mình đang chạy theo một con tàu đã đủ khiến nhịp tim nhanh hơn, hay hình dung đưa bàn tay mình vào lò vi sóng nóng bỏng là nhiệt độ cơ thể tăng lên. Anh bảo thậm chí có thể giảm cơn đau bằng những hình ảnh: “Ví dụ, tôi đi khám nha sĩ... tôi ngồi đó và khi cơn đau bắt đầu, tôi cảm thấy nó... một sợi dây nhỏ, màu đỏ cam. Tôi bực mình vì biết nếu tiếp tục sợi dây sẽ to dần ra cho đến khi chuyển thành một khối đặc... Nên tôi cắt sợi dây, làm nó nhỏ dần nhỏ dần, cho đến khi chỉ là một điểm bé xíu. Rồi cơn đau biến mất.”
Và với S, thậm chí những con số cũng có cá tính riêng: “Cứ lấy số 1 làm ví dụ. Đó là một người đàn ông kiêu hãnh, vạm vỡ; số 2 là một người phụ nữ can đảm; số 3 là một người u sầu (tại sao, tôi chẳng biết); số 6, một người đàn ông có bàn chân sưng tấy; số 7, một người đàn ông có râu quai nón; số 8, một phụ nữ đậm người. Với số 87, điều tôi nhìn thấy là một phụ nữ đẫy đà và một người đàn ông đang vân vê râu.” Chứng giác quan liên đới làm các con số trở nên sống động đối với S, nhưng mặt khác anh ta lại gặp khó khăn trong việc hiểu các khái niệm trừu tượng và ẩn dụ. “Tôi chỉ có thể hiểu được những gì tôi hình dung ra,” anh giải thích. Những từ như “bất tận” và “không gì cả” nằm ngoài tầm hiểu biết của anh. “Lấy ví dụ từ điều gì đó. Với tôi, nó giống như một đám mây dày có màu khói. Khi tôi nghe từ không gì cả, tôi cũng nhìn thấy một đám mây, nhưng mỏng hơn, hoàn toàn trong suốt. Và khi tôi cố nắm lấy một phần nhỏ của không gì cả này, thì tôi bắt được phần nhỏ bé nhất của không gì cả.” S không thể tư duy ẩn dụ hay trừu tượng. Một cụm từ như “cân nhắc từ ngữ” sẽ gợi hình ảnh những cái cân, chứ không phải sự thận trọng. Thơ ca thì anh hầu như không đọc nổi, trừ phi nó hoàn toàn nghĩa đen. Cả những câu chuyện giản đơn cũng thành khó hiểu, bởi anh sa lầy khi không cưỡng được mà cố hình ảnh hóa từng từ
hoặc bắt bộ não liên tưởng đến những hình ảnh, ký ức khác có liên quan.
Tất cả những ký ức của chúng ta, giống như của S, bị ràng buộc vào nhau theo một mạng lưới những liên kết. Đây không đơn thuần một ẩn dụ, mà là một phản ánh về cấu trúc vật chất của bộ não. Cái khối chừng l,36kg này nằm cân đối trên cột sống, được hình thành từ đâu khoảng 100 tỉ tế bào thần kinh, mỗi tế bào có thể tạo từ năm đến mười ngàn kết nối với các tế bào khác. Một ký ức, ở cấp độ sinh lý học cơ bản nhất, là một tổng hòa những kết nối giữa các tế bào thần kinh. Mỗi cảm giác mà chúng ta nhớ, mỗi suy nghĩ mà chúng ta nghĩ, đều làm biến chuyển bộ não bằng cách thay đổi những kết nối trong hệ thống mênh mông kia. Lúc bạn đọc đến cuối câu này, bộ não của bạn đang thay đổi về mặt vật chất.
Nếu nghĩ về từ “cà phê” khiến bạn nghĩ đến màu đen, bữa ăn sáng và vị đắng, đó là một chức năng của một tầng các xung động điện tử nhảy nhót quanh tuyến đường mòn có thực trong bộ não, là thứ liên kết một nhóm tế bào thần kinh mã hóa khái niệm cà phê với các tế bào chứa những khái niệm màu đen, ăn sáng, và vị đắng. Các nhà khoa học chỉ biết được đến đó. Nhưng chính xác làm thế nào một nhóm các tế bào có thể “chứa” một ký ức thì vẫn là một câu hỏi hóc búa nhất của ngành khoa học thần kinh.
Dù có những tiến bộ trong những thập niên gần đây, vẫn không ai thực sự nhìn thấy một ký ức trong não người. Những tiến bộ về công nghệ hình ảnh cho phép các nhà khoa học thần kinh hiểu được hình thế cơ bản của bộ não, và nghiên cứu tế bào thần kinh đã cho chúng ta hình dung rõ ràng về điều xảy ra trong và giữa các tế bào thần kinh, nhưng đến nay khoa học vẫn gần như không có lấy một manh mối gì về hệ thống mạch điện trong vỏ não, lớp vỏ nhăn ngoài bộ não cho phép chúng ta hoạch định tương lai, làm phép chia trên giấy, làm thơ và giữ hầu hết những ký ức của chúng ta. Khi nói đến hiểu biết về bộ não, chúng ta giống như kẻ ngồi trên máy bay nhìn xuống thành phố. Chúng ta có thể nói đâu là khu công nghiệp, đâu là khu dân cư, đâu là sân bay, đâu là các mạch giao thông chính, nơi bắt đầu ngoại ô. Chúng ta cũng biết, rất chi tiết, những đơn vị riêng lẻ của thành phố là gì (các công dân, và trong ẩn dụ này là tế bào thần kinh) và trông như thế nào. Nhưng về đại thể, chúng ta không thể biết mọi người đi đâu khi họ đói, người ta làm gì để sống, hay hành trình hoạt động của một người cụ thể là như thế nào. Có thể hiểu được bộ não ở góc cận cảnh và từ xa. Còn điều nằm ở giữa đó - vấn đề ý nghĩ và trí nhớ, ngôn ngữ của bộ não - vẫn là một bí ẩn sâu kín.
Tuy nhiên, có một điều rõ ràng: bản chất liên kết phi tuyến tính của bộ não khiến chúng ta không thể tìm kiếm các ký ức một cách có trật tự. Một ký ức chỉ nhảy trực tiếp vào nhận thức nếu nó được gọi ra bằng ý nghĩ và nhận thức khác - một nốt ngẫu nhiên trong mạng lưới liên kết gần như vô tận. Nên khi một ký ức mất đi hay khi một cái tên “đã tới lưỡi mà không gọi ra nổi”, thì việc săn tìm nó sẽ gây nản lòng và thường là vô ích. Chúng ta phải mò mẫm trong bóng tối, với đèn pin trong tay, để tìm ra đầu mối có thể dẫn chúng ta quay lại mẩu thông tin đang tìm kiếm - Tên cô ấy bất đầu bằng chữ L... Cô ấy là họa sĩ... Tôi gặp cô ấy tại bữa tiệc đó cách đây vài năm - cho đến khi một trong những ký ức kia gợi ra trong đầu ký ức ta đang tìm. À, đúng rồi, tên cô ấy là Lisa! Vì ký ức của chúng ta không theo một logic tuyến tính nào, chúng ta không thể tìm kiếm chúng theo thứ tự liên tục.
Nhưng S lại có thể. Ký ức của S là một cơ chế có trật tự, như một cuốn sổ danh thiếp. Mỗi phần thông tin anh nhớ được gán cho một địa chỉ trong bộ não.
Giả sử tôi đề nghị bạn ghi nhớ danh sách những từ sau đây: bia, xe tải, trường học, giày, kịch, rác, dưa hấu. Bạn hẳn sẽ có thể nhớ tất cả bảy từ đó, nhưng chưa chắc bạn nhớ được chúng theo trật tự. S lại không như vậy. Với S, mẩu thông tin đầu tiên trong danh sách
luôn, và không bao giờ sai, được gắn chặt với mẩu thông tin thứ hai, và nhất định theo sau đó là mẩu thông tin thứ ba. Dù anh ta có học thuộc Thần Khúc của Dante hay những công thức toán học thì ký ức của anh ta luôn được lưu theo những chuỗi tuyến tính. Đó là lý do anh ta có thể đọc lại những bài thơ một cách dễ dàng theo chiều xuôi hay ngược.
S tổ chức các ký ức của mình rất chặt chẽ, bằng cách lập sơ đồ chúng theo các cấu trúc và vị trí mà anh ta đã biết rất rõ. “Khi S đọc một chuỗi dài các từ, mỗi từ sẽ gợi ra một hình ảnh. Và do chuỗi này khá dài, anh ta phải tìm cách phân bổ những hình ảnh thành một chuỗi hoặc hàng trong đầu,” Luria viết. “Thường thì... anh ta sẽ “phân bổ” chúng dọc theo một con lộ hay tuyến đường anh ta đã hình dung ra trong tâm trí.”
Khi anh ta muốn đưa điều gì vào bộ nhớ, S chỉ cần làm một chuyến đi tưởng tượng dọc phố Gorky ở Moscow, hoặc nhà anh ta ở Torzhok, hay một nơi khác anh ta từng đến, và đặt mỗi hình ảnh lại một điểm khác nhau trên đường đi. Một hình ảnh có thể được đặt ở của một ngôi nhà, bức ảnh khác sẽ gần cột đèn, một bức khác ở trên cọc rào, bức khác ở trong một khu vườn, bức nữa ở trên khung của sổ. Tất cả những điều này xảy ra trong đầu anh ta một cách dễ dàng như thể anh ta đang đặt những vật có thực dọc theo một con đường có thực. Nếu được đề nghị ghi nhớ những chữ đó - bia, xe tải, trường học, giày, kịch, rác, và dưa hấu - anh ta sẽ gợi ra hình ảnh liên quan đến mỗi từ, và rải chúng dọc theo một trong các con đường trong tâm trí.
Khi S muốn nhớ lại thông tin vào một ngày, tháng, năm, hoặc một thập niên sau, anh ta chỉ cần đi ngược lại con đường nơi anh ta đã lưu giữ những ký ức đó, và anh ta sẽ thấy mỗi hình ảnh ngay tại vị trí anh ta đặt chúng lúc ban đầu. Khi S quên điều gì đó, mà điều này rất hiếm hoi, “sự bỏ qua này... không tổn hại trí nhớ mà thực ra là tổn hại nhận thức,” Luria viết. Ví dụ như, S quên từ “bút chì” trong danh sách dài những từ anh ta lẽ ra đã nhớ. Anh ta mô tả làm sao lại quên như thế này: “Tôi đặt tấm hình bút chì gần một hàng rào... hàng rào ở dưới phố, ông biết đấy. Chuyện là tấm hình đó lại bị lồng vào hình ảnh hàng rào, và tôi bước qua mà không nhận ra điều đó.” Một trường hợp khác, anh ta quên từ “trứng.”
“Tôi đã đặt nó trên một bức tường trắng và nó bị lẫn vào nền tường,” anh ta giải thích.
Trí nhớ của S như một con quái vật nuốt tất cả mọi thứ được nhồi vào không hề phân biệt, và không biết nhả ra những mẩu thông tin tầm thường chẳng đáng giữ lại. Thách thức lớn nhất S phải đối mặt là học được điều Luria gọi là “thuật lãng quên.” Những hình ảnh phong phú mà mỗi cảm xúc tạo ra bám dai dẳng lại trong đầu một cách khó chịu. Anh ta đã thử các kỹ thuật khác nhau để xóa chúng khỏi đầu mình. Anh ta thử viết lên giấy, với hy vọng sẽ không còn cảm thấy cần nhớ chúng nữa. Khi điều đó không tác dụng, anh ta thử đốt những mẩu giấy đi, nhưng anh ta vẫn có thể thấy những con số lởn vởn trong đám tro tàn. Cuối cùng, anh ta chợt đốn ngộ. Vào một đêm, khi cảm thấy khó chịu vì một biểu chữ số trước đó đã nhớ, anh ta tìm ra bí quyết lãng quên. Anh ta chỉ cần thuyết phục mình rằng thông tin anh ta muốn quên là vô nghĩa. “Nếu tôi không muốn biểu đồ đó xuất hiện, nó sẽ không xuất hiện,” anh ta kêu lên. “Tôi chỉ cần nhận ra điều này là được!”
Có người hẳn sẽ cho rằng với bộ nhớ hấp thụ như vậy S sẽ trở thành một nhà báo xuất sắc. Tôi tưởng tượng nếu tôi có thể nhớ mà không cần ghi chép lại, và cần là có sẵn trên tay mọi sự việc tôi đã tiêu hóa, thì tôi làm công việc của mình tốt hơn rất nhiều. Tôi sẽ giỏi hơn trong tất cả mọi việc.
Nhưng về mặt nghề nghiệp S lại là một thất bại. Nghiệp báo của anh ta chẳng kéo dài được
lâu và anh không bao giờ có thể giữ một công việc ổn định. Theo nhận định của Luria, anh “như một người không bến neo đậu, sống với kỳ vọng rằng bất kỳ lúc nào cũng sẽ một điều đặc biệt tốt đẹp xảy đến với mình.” Cuối cùng, tình trạng của anh khiến anh chẳng làm được việc gì ngoài một diễn viên sân khấu, một thứ của hiếm trên sàn kịch như như hình tượng chuyên gia trí nhớ trong phim The 39 Steps của Alfred Hitchcock. Người có trí nhớ tốt nhất thế giới đã ghi nhớ quá nhiều.
Trong cuốn truyện ngắn của mình Funes, kẻ ghi nhớ; Jorge Luis Borges mô tả một phiên bản tưởng tượng của S, một người có trí nhớ bất hoại và đồng thời là người mắc khuyết tật không có khả năng quên. Anh ta không thể phân biệt giữa điều tầm thường và điều quan trọng. Nhân vật Funes của Borges không biết sắp xếp ưu tiên, không thể khái quát hóa. Anh ta “gần như không thể có ý nghĩ tổng quát, trừu tượng.” Cũng giống S, trí nhớ của anh ta quá tốt. Có lẽ, như Borges kết luận trong truyện của mình, rằng lãng quên, chứ không phải ghi nhớ, mới là bản chất làm nên con người. Để hiểu thế giới, chúng ta phải gạn lọc nó.” Borges viết, “Suy nghĩ chính là lãng quên.”
Dù trí nhớ khổng lồ của S đối với những sự kiện có vẻ thật phi phàm, thì thực ra anh ta đang chỉ đang tận dụng trí nhớ không gian rất phát triển mà tất cả chúng ta đều sở hữu. Nếu bạn đến thăm London, bạn thỉnh thoảng sẽ bắt gặp trên đường những cậu thanh niên (và ít thường xuyên hơn là phụ nữ) trên những chiếc xe máy tay ga, thoắt ẩn thoắt hiện trên luồng giao thông trong khi vẫn nhìn bản đồ gắn vào tay lái. Những tay lái sốt sắng học hành này đang rèn luyện để trở thành tài xế taxi London. Trước khi được nhận chứng chỉ của sở Giao thông Công chính, các tài-xế-đang-rèn-luyện này phải mất từ hai đến bốn năm ghi nhớ các địa điểm và cấu trúc giao thông của 25.000 tuyến phố trong thành phố rộng lớn và dễ lạc này cũng như vị trí của 1.400 điểm tham quan. Cuộc tập huấn của họ kết thúc với một cuộc thi kinh hoàng có tên “Hiểu biết,” trong đó họ không những phải chỉ ra con đường ngắn nhất giữa hai điểm trong khu vực đô thị, mà còn nêu tên những địa điểm đáng chú ý dọc tuyến đường đó. Cứ mười người thì chừng ba người nhận được chúng chỉ “Hiểu biết.”
Năm 2000, Eleanor Maguire, nhà khoa học thần kinh ở Đại học London, muốn tìm hiểu hệ quả, nếu có, của việc lái xe quanh mê cung thành phố London đối với bộ não các tài xế taxi. Khi bà đưa mười sáu tài xế vào phòng thí nghiệm và kiểm tra bộ não của họ bằng máy chụp MRI (Cộng hưởng từ), bà phát hiện ra một khác biệt quan trọng và ngạc nhiên. Hồi hải mã dưới bên phải, phần não bộ liên quan đến định vị không gian, lớn hơn 7 phần trăm so với người bình thường - một khác biệt nhỏ nhưng rất có ý nghĩa. Maguire kết luận rằng quá trình tìm đường quanh London đã thay đổi cấu trúc vật lý của bộ não. Tài xế lái xe càng làm việc lâu năm trên đường, ảnh hưởng lại càng rõ ràng hơn.
Não là một cơ quan có thể biến đổi, trong những giới hạn nhất định nó có thể tự tổ chức lại và thích nghi với những dạng mới của cảm xúc đầu vào, một hiện tượng được gọi là tính dẻo của bộ não (neuroplasticity). Từ lâu người ta đã nghĩ rằng, não người lớn không thể sản xuất tế bào mới - rằng quá trình học có làm các khớp thần kinh tự tổ chức lại và những mối liên kết mới giữa các tế bào thần kinh hình thành, nhưng cấu trúc giải phẫu cơ bản của bộ não vẫn ít nhiều có tính ổn định. Nghiên cứu của Maguire cho thấy quan điểm từ xưa đó không chính xác.
Sau nghiên cứu mang tính đột phá về tài xế taxi London, Maguire chuyển hướng nghiên cứu sang các vận động viên trí óc. Bà lập nhóm cùng Elizabeth Valentine và John Wilding, các tác giả của chuyên khảo học thuật Trí nhớ siêu phàm (SuperiorMemory), để nghiên cứu mười cá nhân đạt thành tích cao nhất ở Giải Vô địch Thế giới Trí nhớ. Họ muốn tìm
xem bộ não của những chuyên gia trí nhớ - giống như tài xế London - có khác biệt về cấu trúc so với người thường chúng ta không hay chẳng qua họ biết cách sử dụng tốt hơn khả năng ghi nhớ mà tất cả chúng ta sở hữu.
Các nhà nghiên cứu cho nhóm các vận động viên trí óc và nhóm đối chứng vào máy chụp MRI và đề nghị họ ghi nhớ những con số có ba chữ số, những chân dung đen trắng và hình ảnh bông tuyết phóng to, trong suốt quá trình đó, bộ não của họ được chụp lại. Maguire và nhóm của bà tưởng rằng có thể phát hiện ra sự khác biệt về mặt giải phẫu học trong bộ não của những nhà vô địch trí nhớ, bằng chứng cho thấy bộ não của họ tự tổ chức lại trong quá trình ghi nhớ nhiều thông tin như vậy. Song khi các nhà nghiên cứu xem lại những dữ liệu hình ảnh: hai nhóm không hề có một khác biệt đáng kể nào về cấu trúc. Bộ não của các vận động viên trí óc dường như không khác gì não của nhóm đối chứng. Hơn nữa, trong từng thí nghiệm về khả năng nhận thức tổng quát, điểm số của các vận động viên trí óc nằm trong ngưỡng thông thường. Các nhà vô địch trí nhớ không hề thông minh hơn, và họ không có bộ não đặc biệt. Khi Ed và Lukas bảo tôi họ là người bình thường, với khả năng trí nhớ bình thường, ấy không hoàn toàn vì họ khiêm tốn.
Nhưng có một sự khác biệt rõ rệt giữa bộ não của các vận động viên trí óc và nhóm đối chứng: khi các nhà nghiên cứu xem xét phần nào của bộ não sáng lên khi các vận động viên trí óc ghi nhớ, họ thấy rằng chúng kích hoạt “kết cấu bảng mạch” hoàn toàn khác nhau. Theo hình ảnh MRI chức năng, các vùng của bộ não kém hoạt động ở nhóm đối chứng dường như lại hoạt động quá mức ở nhóm vận động viên trí óc.
Ngạc nhiên thay, khi vận động viên trí óc học thông tin mới, họ sử dụng nhiều vùng ở bộ não có liên quan đến hai nhiệm vụ cơ bản: trí nhớ hình ảnh và định vị không gian, gồm cả vùng hồi hải mã phía sau bên phải vốn bị phình to trong bộ não của các tài xế London do tìm đường hàng ngày. Ban đầu, điều này dường như chẳng có ý nghĩa gì. Tại sao các vận động viên trí óc lại dựng lên những hình ảnh trong đầu, khi họ cố ghi nhớ những con số có ba chữ số? Tại sao họ lại định vị không gian như tài xế London khi lẽ ra họ phải nhớ những hình bông tuyết?
Maguire và nhóm của bà đề nghị các vận động viên trí óc mô tả chính xác điều diễn ra trong đầu khi họ ghi nhớ. Các vận động viên trí óc thuật lại một chuỗi sự việc nghe gần như y hệt điều S kể đã xảy ra trong đầu anh ta. Dù không phải là người có chứng giác quan liên đói bẩm sinh như S, nhưng các vận động viên trí óc cho biết họ chuyển đổi một cách có ý thức những thông tin cần ghi nhớ thành các hình ảnh rồi phân bổ những hình ảnh đó dọc theo một hành trình không gian quen thuộc. Không như S, họ không làm điều này một cách tự động hay nhờ tài năng bẩm sinh từ bé. Cách thức hoạt động khác thường của bộ não họ, như hình cộng hưởng từ chức năng chỉ ra, là kết quả rèn luyện và thực hành. Những vận động viên trí óc tự học để có thể ghi nhớ được như S.
Ed và anh bạn ít lời Lukas, và cái dự án nghe thật “khủng” đẩy trí nhớ của họ đến mức cực hạn làm tôi thích thú. Và họ dường như cũng quan tâm đến tôi, một nhà báo cùng độ tuổi, người có thể sẽ chia sẻ câu chuyện của họ trên một vài tạp chí họ chưa bao giờ nghe đến, vả lại biết đâu đây là bước khỏi đầu con đường làm nhân vật nổi tiếng của họ. Sau bài giảng của Ed ở trường trung học, anh ta mời tôi cùng anh ta và Lukas đến một quán bar gần đó, nơi chúng tôi gặp một nhà làm phim nhiều khát vọng và là bạn cùng phòng với Ed ở trường nội trú, người này đã vác máy quay video 8-mm đi cùng họ khắp New York, ghi lại mỗi cuộc phiêu lưu kỳ khôi của cặp đôi này, cả nỗ lực của Lukas nhằm ghi nhớ một cỗ bài trong năm mươi ba giây đi thang máy lên đài quan sát trên Tòa nhà Empire State. (“Chúng tôi muốn xem liệu thang máy nhanh nhất thế giới có nhanh hơn nhà vô địch nhớ
bài người Áo không,” Ed làm bộ nghiêm trọng. “Kết quả là không.”)
Sau vài ly, Ed say sưa kéo tôi vào sâu hơn cái thế giới mờ mịt những bí mật của các vận động viên trí óc. Anh ta đề nghị cho tôi xem những nghi lễ của KL7, một “hội kín của những người ghi nhớ” mà anh ta cùng Lukas sáng lập ở giải vô địch Kuala Lumpur năm 2003, thế thì hội này hiển nhiên là không bí mật đến như vậy.
“KL, là Kuala Lumpur hả?” tôi hỏi.
“Không, KL là Knights of Learning (Những hiệp sĩ hiểu biết), và bảy là bởi các thành viên ban đầu của hội gồm bảy người,” Lukas giải thích, trong khi nhấp bia miễn phí (anh ta thắng cược cô phục vụ ba cốc bia nhờ trò ghi nhớ cỗ bài). “Đây là một hội quốc tế nhằm phát triển giáo dục.”
“Làm thành viên của hội là một danh dự hết sức đặc biệt,” Ed thêm vào.
Dù tài sản của hội chỉ hơn hơn một ngàn đô la nằm trong tài khoản ngân hàng của Lukas và ngày càng còm cõi đi, Ed thừa nhận KL7 chưa bao giờ thực sự làm được gì nhiều, ngoại trừ đi uống với nhau một chầu vào bữa tối khi kết thúc các giải đấu. Khi tôi gặng hỏi thêm thông tin, Ed biểu diễn nghi lễ được coi trọng duy nhất trong hội.
“Cứ gọi nó là nghi lễ ma quỷ cũng được,” anh ta nói, rồi đề nghị Jonny, nhà làm phim, đếm thời gian. “Chúng ta có đúng năm phút để uống hai ly bia, hôn ba phụ nữ, và ghi nhớ bốn mươi chín chữ số ngẫu nhiên. Tại sao lại bốn chín chữ số? Vì nó là bảy bình phương.”
“Tôi khá là bất ngờ, hóa ra vụ này cũng khó phết,” Lukas nói. Anh ta đang mặc một bộ vét màu xám bóng, đeo cái cà vạt còn óng ánh hơn, và không mấy khó khăn thuyết phục cô phục vụ, người mà anh ta vừa thắng cược, cho anh ta ba nụ hôn hờ lên má.
“Chặt chẽ ra thì thế là chưa đạt chuẩn, nhưng thôi vẫn tính,” Ed tuyên bố, bia chảy thành dòng xuống cằm anh ta. Anh ta lôi trong túi ra một trang giấy in sẵn những chữ số và xé nó ra thành nhiều mảnh. Ngón tay anh ta vội vã khua nhặt các mẩu vụn cho đến khi gom được bốn mươi chín chữ số, lúc này anh ta đứng lên và lắp bắp, “Coi như xong!” rồi khập khễnh bước đến dãy bàn gần đó; anh ta cố giải thích hoàn cảnh của mình cho ba phụ nữ tóc ánh bạc, họ dường như đã quá độ tuổi để vào vui chơi ở quán bar ầm ĩ này. Thấy thì giờ sắp hết, họ chưa kịp đáp ứng lời khẩn cầu của Ed thì anh chàng đã nghiêng mình qua bàn và đặt môi lên những gò má hóp đỏ ửng kia.
Ed quay lại vẻ đắc thắng, vung nắm tay lên và đập tay ăn mừng với tất cả chúng tôi. Anh gọi một chầu bia nữa cho cả bàn. Tôi không rõ ấn tượng của mình về Ed là thế nào. Anh ta, như tôi dần phát hiện ra, là một nhà mỹ học, theo đúng cái nghĩa của Oscar Wilde. Hơn ai hết mà tôi từng gặp, hình như anh ta dự vào cuộc đời như thể đó là một nghệ thuật, và để thực hành một sự thảnh thơi một cách cẩn trọng, có chủ ý. Cảm thức của anh ta về điều được coi là xứng đáng dường như có rất ít điểm chung với cảm thức truyền thống về điều hữu ích, và nếu có một câu châm ngôn chi phối cuộc đời anh ta, thì ấy chính là lời kêu gọi tối cao nhằm làm phong phú thêm những cuộc phiêu lưu ở mọi điểm rẽ cuộc đời. Anh ta là một người biết hưởng thụ thực sự, nhưng mặt khác anh rất khắt khe và nghiêm túc khi làm luận án tiến sĩ về đề tài mối quan hệ giữa trí nhớ và nhận thức, chứng tỏ anh ta có chủ định hoàn thành những điều to tát. Anh ta không đẹp trai theo nghĩa truyền thống, nhưng vào đêm muộn hôm đó tôi quan sát anh ta tiếp cận một phụ nữ trên phố, hỏi xin một điếu thuốc, và vài phút sau
anh ta quay lại với số điện thoại cô gái. Anh kể với tôi “mẹo vặt quán bar thông thường” ấy là cứ lượn lờ quanh “đối tượng”, mời cô nàng đưa ra một “dãy số dài tùy ý,” rồi hứa sẽ mua cho nàng một chai sâm panh nếu anh ta nhớ được chúng.
Suốt buổi tối, Ed thết tôi hết chuyện này đến chuyện khác về những cuộc phiêu lưu của anh ta và những rủi ro nhớ đời. Có lần anh ta chân trần lao người qua của sổ một quán bar ở New Zealand để ngăn một kẻ phá rối. Rồi lần anh ta chui vào bữa tiệc của một siêu mẫu ở London (“Lần đó thì dễ hơn, tôi ngồi trên xe đẩy, và tôi có thể diễn trò đi xe một bánh siêu đẳng”). Lần khác anh ta xông vào một bữa tiệc tại Đại sứ quán Anh ở Paris (“Tôi để ý thấy ngài đại sứ theo dấu đôi giày bẩn thỉu của tôi khắp phòng.”) Và làm sao anh ta có thể quên mười hai tiếng đồng hồ đi xin tiền mua vé xe bus ở trung tâm Los Angeles?
Lúc ấy, tôi tỏ vẻ hoài nghi về những câu chuyện huyền thoại tự thêu dệt này, nhưng đó là bởi tôi còn chưa biết Ed đủ nhiều để nhận ra ràng anh ta đã nói giảm khá nhiều. Tối hôm đó, sau vài ly nữa, tôi mới nhận ra mình đã dành phần lớn thời gian trong ngày cùng Ed và Lukas và không ai gọi tên tôi lấy một lần, dù tôi chắc tôi đã nói khi tự giới thiệu lúc đầu. Ed nhắc đến tôi trước mặt cô phục vụ như là “anh bạn nhà báo của chúng ta,” và Lukas thì chưa hề nhắc đến tôi. Những cách thoái thác tôi quá rõ. Nhưng trước đó Ed đã dám chắc với tôi rằng anh ta có thể ghi nhớ tên và số điện thoại của mọi cô gái mà anh ta đã gặp. Tôi nghĩ điều đó nghe như một kỹ năng gây ấn tượng giúp người ta tiến xa trong cuộc đời. Người ta bảo Bill Clinton chưa bao giờ quên tên ai, và hãy thử nhìn xem ông ấy tiến xa tới đâu. Nhưng bấy giờ tôi chợt nghĩ rằng từ “có thể” của Ed có phần hơi mập mờ; cũng giống như nói “Anh ta có thể đếm ngược từ một triệu trở xuống” - à vâng, nếu anh ta thật sự muốn. Tôi đã hỏi anh ta có nhớ tên tôi không.
“Tất nhiên. Là Josh.” “Họ của tôi?”
“Khỉ thật. Anh đã bảo tôi rồi à?”
“Đúng vậy, Foer. Josh Foer. Rốt cuộc thì anh cũng là người thường.” “À, vâng -”
“Tôi cứ nghĩ anh có cái kỹ thuật thú vị lắm để nhớ tên mọi người.”
“Lý thuyết là vậy. Nhưng tác dụng của nó tỉ lệ nghịch với số lượng cồn tôi nốc vào.”
Rồi Ed giải thích cho tôi cách thức để một cái tên dễ nhớ hơn, và anh ta đã sử dụng trong cuộc thi để ghi nhớ họ và tên của những người trong chín mươi chín bức ảnh chân dung trong vòng thi tên-và-khuôn-mặt. Đó là một kỹ thuật mà anh ta hứa hẹn tôi có thể dùng để nhớ tên của mọi người ở các bữa tiệc hay cuộc họp. “Mẹo ở đây đơn giản đến mức giả dối,” anh ta nói tỉnh khô. “Đó là luôn liên hệ âm tên của một người với cái gì đó anh có thể tưởng tượng ra một cách rõ ràng. Đó là việc tạo ra một hình ảnh sinh động trong đầu giúp cột chặt hình ảnh về khuôn mặt một người với hình ảnh liên hệ đến tên người đó. Khi anh cần tìm lại và nhớ tên người đó vào lúc nào đó sau này, thì hình ảnh anh tạo ra sẽ nhảy ngay vào đầu... Nên, ừm, anh bảo tên anh là Josh Foer phải không nào?” Anh ta nhếch lông mày và vuốt cằm đầy kịch tính. “Vậy thì, tôi sẽ tưởng tượng anh đang bỡn cợt tôi khi chúng ta gặp nhau lần đầu, bên ngoài phòng thi đấu, và đáp lại tôi sẽ tưởng tượng mình bị chia thành bốn mảnh. Four/Foer, anh hiểu chứ?[5] ít nhất đối với tôi, cái hình ảnh đó thú
vị hơn nhiều so với một cái tên trong đầu và nó sẽ bám chặt trong đầu.” Tôi chợt nghĩ, đây là một dạng giác quan liên đới tự tạo.
Để hiểu tại sao mẹo ghi nhớ này lại có tác dụng, bạn cần biết một chút về một dạng lãng quên kỳ lạ mà các nhà tâm lý học gọi là “Nan đề Baker/baker.” Nan đề như thế này: Một nhà nghiên cứu cho hai người xem cùng một bức ảnh khuôn mặt, và bảo với một trong hai người rằng người trong ảnh là thợ làm bánh, còn nói với người kia rằng người trong ảnh tên Baker[6]. Vài ngày sau, nhà nghiên cứu cho hai người đó xem cùng bức ảnh và hỏi từ kèm theo. Người được nghe về công việc của người trong ảnh có nhiều khả năng nhớ đúng hơn người được nghe tên người trong ảnh. Tại sao lại như vậy? Cùng một bức ảnh. Cùng một từ. Việc ghi nhớ lại khác nhau.
Khi bạn nghe người trong ảnh là thợ làm bánh, sự kiện đó được đưa vào mạng lưới các ý tưởng về công việc của người làm bánh: anh ta nướng bánh, anh ta đội mũ trắng, khi xong việc về nhà người anh ta có mùi thơm. Ngược lại, cái tên Baker chỉ bị buộc vào ký ức khuôn mặt một người. Mối liên hệ đó thật mỏng manh, và nếu nó phai mờ, thì cái tên sẽ lửng lơ giữa mạng lưới ký ức bị mất không thể vãn hồi. (Khi một từ tưởng như mắc trên đầu lưỡi, thì có thể là bởi chúng ta đang tiếp cận phần duy nhất của mạng lưới thần kinh “chứa” ý tưởng đó, nhưng không phải toàn bộ.) Nhưng khi nói về nghề nghiệp người trong ảnh, có nhiều sợi dây liên kết để tìm lại ký ức. Thậm chí nếu bạn không nhớ rằng người đó là thợ làm bánh, có lẽ bạn vẫn có cảm nhận mơ hồ liên quan đến bánh mì, hoặc thấy mối liên hệ giữa khuôn mặt anh ta với cái mũ trắng, hay có lẽ bạn sẽ gợi lên trong đầu một ký ức về cửa hàng bánh nơi bạn sống. Bất kỳ nốt nào trong mớ lộn xộn những liên hệ đó cũng có thể giúp lần ra nghề nghiệp của người kia. Bí quyết thành công trong phần thi khuôn-mặt- tên-người - và cả nhớ tên người trong thế giới thực - chỉ đơn giản là chuyển Baker thành thợ làm bánh - hay Foer thành số bốn (four). Hay Reagan thành súng bắn laze. Một mẹo đơn giản, nhưng hiệu quả cao.
Tôi đã cố dùng kỹ thuật này để nhớ tên của nhà làm phim tài liệu đã đi cùng Ed và Lukas quanh thành phố suốt cuối tuần. Anh ta tự giới thiệu là Jonny Lowndes. “Chúng tôi gọi cậu ta là Pounds Lowndes,” Ed xen vào. “Hồi trung học, cậu ta đậm người.” vi biệt hiệu hồi nhỏ của anh trai tôi là Jonny, tôi nhắm mắt và hình dung hai người họ cùng nhau, tay vòng tay, đang ngấu nghiến một pound (khoảng nửa kg) bánh.
“Anh biết chúng tôi có thể dạy anh nhiều mẹo như vậy,” Ed nói. Anh ta quay sang Lukas, sôi nổi. “Tôi đang cố hình dung xem hết tối nay mình có thể giúp anh ta thắng giải vô địch nước Mỹ không?”
“Tôi cảm giác anh hơi coi nhẹ người Mỹ đấy nhé,” tôi nói.
“Ngược lại, chỉ là họ không tìm đúng huấn luyện viên, thôi,” anh ta nói, quay về phía tôi. “Tôi cho là anh chỉ cần tập mỗi ngày một tiếng là có thể thắng giải năm tới.” Anh ta nhìn Lukas. “Cậu có nghĩ thế không?”
Lukas gật đầu.
“Anh nói y như Buzan,” tôi nói.
“À, đúng rồi Tony Buzan khả kính,” Ed đùa cọt. “Ông ta có thuyết phục anh cái thứ vớ vẩn rằng bộ não là một khối cơ bắp không?”
“Ờ, có, ông ta có nói.”
“Bất kỳ ai hiểu biết sơ đẳng về đặc tính của bộ não và của cơ bắp đều mỉm cười trước sự so sánh đó.” Đó là dấu hiệu đầu tiên cho thấy mối quan hệ không tốt đẹp của Ed với Buzan. “Này, điều anh thực sự cần là nhận tôi làm huấn luyện viên cho anh, là người đào tạo và quản lý - và, một người thầy trí óc.”
“Anh sẽ được gì từ mối quan hệ này?” tôi hỏi.
“Tôi sẽ được niềm vui,” anh ta đáp, với một nụ cười. “Vả lại, anh là nhà báo, tôi sẽ không phiền nếu, trong quá trình viết về trải nghiệm này, anh tạo ấn tượng rằng tôi sẽ là một con người tuyệt vời để vào vai gia sư cho tiểu thư ở Hampton với giá, ờ, cỡ một tỉ bảng một giờ.”
Tôi cười toáng lên và bảo Ed rằng tôi sẽ suy nghĩ về điều đó. Tôi thực sự không hứng thú lắm chuyện dành mỗi ngày một tiếng vầy vò mấy quân bài, hay ghi nhớ những trang giấy đầy những chữ số, hay làm bất cứ trò thể dục trí óc nào dường như liên quan đến việc trở thành một “vận động viên trí óc.” Tôi luôn chiều theo những thói lập dị của mình - tôi là đội trưởng đội thi đố (quiz bowl) hồi trung học, và lâu nay vẫn đeo một chiếc đồng có chức năng máy tính - nhưng vụ này có phần thái quá, thậm chí là với tôi. Nhưng tôi cũng tò mò muốn tìm hiểu xem đâu là giới hạn trí nhớ của mình, và khá bị Ed kích thích, nên cũng muốn cân nhắc vụ tập luyện này. Tất cả vận động viên trí óc tôi đã gặp đều khăng khăng rằng bất kỳ ai cũng có thể cải thiện trí nhớ của mình - rằng sức mạnh chưa dùng tới của S có trong tất cả chúng ta. Tôi quyết định sẽ thử tìm xem điều đó có thực không. Đêm hôm đó, khi về đến nhà, trong hòm thư của tôi có một e-mail của Ed đang chờ: “Thế nào rồi, tôi có thể làm huấn luyện viên cho anh không?”
Chương ba
Người hay quên nhất thế giới
Sau khi đã gặp một vài nhân vật có bộ nhớ tốt nhất thế giới, tôi quyết định bước tiếp theo sẽ là tìm bộ nhớ tồi nhất. Để hiểu bản chất và ý nghĩa trí nhớ con người, còn cách nào tốt hơn là xem xét sự thiếu vắng nó? Tôi lại vào Google tìm kiếm người đối trọng với Ben Pridmore trong những cuốn sách kỷ lục về chứng quên, và lục ra được một bài trên Tạp chí khoa học thần kinh viết về một kỹ thuật viên phòng thí nghiệm, tám mươi tư tuổi, đã nghỉ hưu, tên là EP, trí nhớ của ông chỉ kéo dài bằng với suy nghĩ gần nhất của ông. Ông là một trong những người mắc chứng quên trầm trọng nhất từng được ghi nhận.
Vài tuần sau giải vô địch Trí nhớ Mỹ, tôi gọi điện cho một nhà khoa học thần kinh và là chuyên gia nghiên cứu trí nhớ, tên Larry Squire tại Đại học California, San Diego, và Trung tâm Y khoa San Diego VA. Hơn một thập niên qua, Squire đã nghiên cứu EP, và ông đồng ý cho tôi theo trong chuyến thăm bệnh ở khu ngoại ô San Dieo, nơi EP sống với vợ tại một căn nhà gỗ sáng sủa. Chúng tôi đi cùng Jen Frascino, điều phối viên trong phòng nghiên cứu của Squire, cô thường xuyên thăm EP để làm các kiểm tra nhận thức. Dù Frascino đã đến nhà EP đâu khoảng hai trăm lượt, mỗi lần ông ta đều chào cô như chào một người hoàn toàn xa lạ.
EP cao l,88m, có mái tóc trắng rẽ ngôi rất chỉn chu, và đôi tai dài khác thường. Ông trông đẹp lão, thân thiện và nhân từ. Ông cười thật nhiều. Thoạt nhìn, ông như thể người ông tốt điển hình của bạn. Frascino, tóc vàng, người cao như một vận động viên, ngồi cạnh tôi và Squire, đối diện EP, trong phòng ăn nhà ông, và hỏi một loạt câu hỏi nhằm đánh giá hiểu biết cơ bản và nhận thức chung, cô hỏi ông Brazil thuộc lục địa nào, số tuần trong năm, nhiệt độ sôi của nước. Cô muốn chứng tỏ điều loạt bài kiểm tra nhận thức đã cho thấy từ trước: EP có hiểu biết cơ bản về thế giới. IQ của ông là 103 và trí nhớ ngắn hạn của ông hoàn toàn không bị tổn hại. Ông kiên nhẫn trả lời những câu hỏi - tất cả đều đúng - với vẻ bối rối mà tôi tưởng tượng mình cũng sẽ như vậy khi một người lạ bước vào nhà tôi và sốt sắng hỏi tôi có biết nhiệt độ sôi của nước là bao nhiêu không.
“Ông sẽ làm gì nếu tìm thấy ngoài đường một phong bì dán kín, có ghi địa chỉ, và đã dán tem?” Frascino hỏi.
“À, sẽ bỏ vào hòm thư chứ còn gì nữa?” Ông cười và liếc nhìn tôi ranh mãnh, như muốn nói, “Mấy người này nghĩ tôi ngu chắc?” Nhưng cảm thấy tình huống đòi hỏi phép lịch sự, ông quay lại Frascino và nói thêm, “Nhưng câu hỏi của cô thực sự thú vị. Thực sự thú vị đấy.” Ông không biết mình đã nghe nó bao nhiêu lần rồi.
“Tại sao chúng ta nấu thức ăn?”
“Vì chúng còn sống à?” Từ sống rõ ràng từ máy ghi âm cho thấy sự bối rối của ông nhường chỗ cho nỗi hoài nghi.
Tôi hỏi EP, ông có biết tên vị tổng thống gần đây nhất không. “Tôi e mình quên mất. Lạ thật.”
“Cái tên Bill Clinton nghe có quen không?”
“Tất nhiên tôi biết Clinton! Anh ta là bạn cũ của tôi, là một nhà khoa học, một người tốt. Tôi đã làm việc cùng anh ta, anh biết đấy.”
Ông ta thấy mắt tôi trợn tròn ngạc nhiên, và ông ngừng lại.
“Nghĩa là trừ phi anh đang nói đến một người khác cũng tên là Clinton -” “À, ông biết đấy, vị tổng thống gần đây nhất cũng tên là Bill Clinton.”
“Thật vậy ư? Tôi sẽ-!” Ông vỗ lên đùi và lại cười, nhưng không ra vẻ ngượng nghịu.
“Vị tổng thống gần đây nhất mà ông nhớ là ai?”
Ông mất một lúc để lục tìm trong bộ não. “Xem nào. Đó là Franklin Roosevelt...” “Ông đã bao giờ nghe tên John F. Kennedy chưa?”
“Kennedy à? Hừm, tôi e mình không biết.”
Frascino xen vào bằng câu hỏi khác. “Sao chúng ta nghiên cứu lịch sử?” “À, chúng ta nghiên cứu lịch sử để biết chuyện xảy ra trong quá khứ.” “Nhưng tại sao chúng ta muốn biết chuyện xảy ra trong quá khứ?” “Nói thẳng là, vì nó thú vị.”
Năm 1992, EP ngã bệnh, khi đó có vẻ như ông chỉ bị cảm cúm nhẹ. Suốt năm ngày sốt li bì trên giường bệnh mà không biết chắc mình bị gì, lúc ấy trong đầu ông một loại virus nguy hại là herpes simplex đang gặm nhấm não ông, ăn vào lõi nó như một quả táo. Lúc virus hoàn tất công cuộc phá hoại, hai phần não to bằng quả óc chó trong thùy thái dương giữa của bộ não EP đã biến mất, cùng biến với phần lớn trí nhớ của ông.
Con virus tấn công với sự chính xác kinh hoàng. Hai thùy thái dương giữa ở hai bên bộ não
- gồm cả hồi hải mã và các vùng lân cận cùng tạo nên một phép diệu kỳ là chuyển nhận thức của chúng ta thành trí nhớ dài hạn. Trí nhớ không thể thực sự lưu giữ trong hồi hải mã - chúng nằm ở đâu khác, trong những lớp nhăn ngoài bộ não, tức phần vỏ não - nhưng vùng hồi hải mã giữ chúng lại. Hồi hải mã của EP bị hủy, và không có nó, ông như một cái máy quay phim không có đầu ghi băng. Ông nhìn thấy, nhưng không ghi lại được.
EP bị hai dạng mất trí nhớ - chứng quên về sau (anterograde) nghĩa là ông không thể hình thành trí nhớ mới, và quên ký ức (retrograde) nghĩa là ông không thể nhớ lại ký ức cũ, ít nhất kể từ năm 1950. Tuổi thơ của ông, thời gian làm việc trên tàu buôn, Chiến tranh Thế giới II - vẫn còn sống động hoàn hảo. Song đến giờ ông chỉ biết, giá ga là 25 xu một gallon (3,78 lít) và loài người chưa đặt bước chân nhỏ bé của mình lên mặt trăng.
Dù EP đã mất trí nhớ hơn mười lăm năm qua và tình trạng của ông không xấu đi cũng chẳng tốt lên, nhưng vẫn còn nhiều điều Squire và nhóm của ông hy vọng sẽ tìm hiểu được ở ông. Nghe có vẻ không ra sao, nhưng trường hợp của ông - kết quả cuộc thí nghiệm tàn nhẫn song hoàn hảo của tự nhiên - là một ân huệ lớn đối với khoa học. Trong một lĩnh vực có quá nhiều vấn đề căn bản chưa được giải đáp, thì với một trí óc như của EP còn vô
số những thí nghiệm có thể tiến hành. Thực ra, trên thế giới chỉ có một nhúm ít ỏi những cá nhân khác mà hồi hải mã và các cấu trúc quan trọng lân cận bị khoét một cách chính xác mà không ảnh hưởng gì tới các phần khác của bộ não. Một ca khác bị mất trí nhớ nghiêm trọng khác là Clive Wearing, nguyên là nhà sản xuất âm nhạc cho BBC, ông bị viêm não do virus herpes năm 1985. Cũng như EP, trí óc của ông giống như cái rây.
Mỗi lần ông chào vợ đều như thể hai mươi năm rồi ông chưa được gặp bà. Ông gửi cho bà những tin nhắn thống thiết vào điện thoại cầu xin bà đến đón ông ở nhà điều dưỡng nơi ông sống. Ông viết một cuốn nhật ký chi tiết, và nó đã trở thành một minh chứng hữu hình về nỗi đau đớn hàng ngày của ông. Nhưng thậm chí đến cuốn nhật ký ông cũng thấy khó mà tin được - như mọi chuyện khác trong đời sống của ông vậy - vì nó hoàn toàn xa lạ. Mỗi lần mở nó ra ông lại có cảm giác như đang đối mặt với một cuộc đời trong quá khứ. Nó đầy những đoạn viết như thế này:
8:31 AM: Giờ mình thực sự, hoàn toàn tỉnh rồi. 9:06 AM: Giờ mình tuyệt đối tràn trề tỉnh táo rồi. 9:34 AM: Giờ mình tỉnh táo cùng cực rồi.
Những dòng bị gạch ngang cho thấy ông biết tình trạng của mình, và điều này EP lại thiếu, có khi thế lại là may mắn cho ông. Ngồi đối diện nơi bàn, Squire hỏi EP trí nhớ của ông gần đây ra sao.
“Cũng bình thường. Thật khó nói là tốt hay xấu.”
Cổ tay trái của EP đeo một cái vòng kim loại để nhắc nhở. Dù biết rõ nó dùng để làm gì, tôi vẫn hỏi ông. Ông quay xuống nhìn cổ tay và đọc hững hờ.
“Hừm. Nó nói trí nhớ bị mất.”
EP dường như còn không nhớ ông bị trục trặc trí nhớ. Đấy là điều mới mẻ mà ông phát hiện ra vào bất kỳ giây phút nào. Và vì ông quên rằng mình luôn quên, mỗi ý nghĩ mất đi dường như chỉ là một sai lầm vặt vãnh - một sự khó chịu và không hơn - cũng như cách nó gây ra cho bạn hay cho tôi.
“Đầu óc của ông ấy không có sai lạc gì hết. Thật phúc đức,” như vợ ông, bà Beverly, bảo tôi sau đó, trong khi EP ngồi trên ghế, ngoài tầm nghe thấy. “Tôi đồ rằng ông ấy hẳn biết có chuyện gì đó không đúng, nhưng không thể hiện trong những lúc trò chuyện hay trong cách sống của ông ấy. Nhưng sâu thẳm, ông ấy hẳn phải biết. Chắc chắn thế.”
Khi nghe những lời ấy, tôi day dứt nhận ra không phải chỉ trí nhớ bị mất không thôi mà còn nhiều hơn thế. Ngay cả vợ EP cũng không thể tiếp cận những cảm xúc cơ bản hay suy nghĩ của ông ấy nữa. Thế không có nghĩa ông ấy không còn cảm xúc hay suy nghĩ. Từng giây phút một ông đều có. Khi hay tin về những đứa cháu chào đời, đôi mắt EP lại rớm ướt
- và ông lại quên ngay rằng chúng tồn tại. Song vì không có khả năng so sánh cảm xúc ngày hôm nay với cảm xúc hôm qua, ông không thể kể một câu chuyện liên tục về bản thân, hay về những gì xung quanh và do đó cũng không thể bồi đắp chút chất liệu cảm xúc nào dù là cơ bản nhất cho gia đình và bạn bè. Sau hết, EP chỉ có thể quan tâm thực sự đến ai hay điều gì chừng nào ông còn có thể duy trì được sự chú ý. Bất kỳ ý nghĩ nào chơi xỏ làm ông phân tán sẽ khiến cuộc đối thoại quay lại từ đầu. Một mối quan hệ có ý nghĩa giữa hai người không thể tự nó duy trì chỉ trong thời khắc hiện tại.
Kể từ sau trận ốm, không gian tồn tại của EP chỉ ở trong phạm vi mắt ông nhìn thấy. Đời sống xã hội của ông chỉ gói gọn trong những người trong phòng. Ông sống dưới một khoảnh sáng hẹp, còn lại là bóng tối bao quanh. Vào một buổi sáng bình thường, EP thức dậy, ăn sáng, và quay về giường nghe đài. Nhưng khi quay lại giường, thì ông không rõ mình vừa ăn sáng hay là vừa tỉnh giấc. Thường thì ông sẽ ăn sáng lại, và quay về giường để nghe đài tiếp. Có những hôm, ông ăn sáng đến lần thứ ba. Ông xem tivi, phấn khích từng giây, dù có chút phiền toái khi xem những chương trình có mở đầu, đoạn giữa và kết thúc rõ ràng. Ông thích kênh Lịch sử, hoặc bất kỳ chương trình nào về Chiến tranh thế giới II. Ông đi bộ xung quanh nơi ở, thường là vài lần trước lúc ăn trưa, và đôi khi đi tận bốn lăm phút. Ông ngồi trong sân. Ông đọc báo, hẳn sẽ giống như bước ra từ cỗ máy thời gian. Iraq ư? Internet ư? Lúc EP đọc xong đầu đề, ông thường quên ngay đoạn đầu là gì. Thường sau khi đọc tin thời tiết, ông nguệch ngoạc lên tờ giấy, vẽ râu lên những bức ảnh hoặc mò tìm cái thìa. Khi xem giá nhà trên trang bất động sản, lúc nào ông cũng tỏ ra rất sốc.
Không có trí nhớ, EP hoàn toàn thoát ra khỏi thời gian. Nhận thức của ông không thành dòng mà gồm những giọt nhỏ bốc hơi tức thì. Nếu bạn lấy chiếc đồng hồ khỏi tay ông - hay, tàn nhẫn hơn, thay đổi giờ - ông sẽ hoàn toàn mất hướng. Bị mắc kẹt trong ngục tù của thời hiện tại vĩnh cửu, giữa cái quá khứ ông không thể nhớ và cái tương lai ông không thể suy tính trước, ông sống một cuộc đời bất động, hoàn toàn thoát khỏi muộn phiền. “Lúc nào ông cũng vui vẻ. Rất hạnh phúc. Tôi đoán là bởi ông không có mối lo lắng nào trong cuộc sống,” con gái Carol của ông nói, cô sống gần đó. Trong bệnh quên mãn tính, EP đã đạt được một dạng khai sáng bệnh lý, một miền cực lạc của lý tưởng phật giáo về sự sống hoàn toàn trong hiện tại.
“Ông bao tuổi rồi?” Squire hỏi ông.
“Xem nào, năm chín hay sáu mươi gì đấy. Anh hiểu ý tôi mà,” ông nói, lông mày nhếch lên vẻ đăm chiêu, như thể ông đang tính toán, chứ không phán đoán. “Trí nhớ của tôi không hoàn hảo. Nó khá tốt, nhưng đôi khi người ta hỏi tôi những câu tôi không hiểu. Tôi chắc đôi khi anh cũng vậy.”
“Chắc chắn rồi,” Squire nói nhã nhặn, dù tuổi thực của EP đã gần thế kỷ.
Không có thời gian, sẽ không cần trí nhớ. Nhưng không có trí nhớ, liệu có tồn tại cái gọi là thời gian không? Tôi không muốn nói thời gian theo nghĩa như các nhà vật lý nói về nó: chiều thứ tư, biến số độc lập, là khối lượng bị nén lại khi tiệm cận vận tốc ánh sáng. Ý tôi là thời gian theo tâm lý học, là nhịp độ mà chúng ta trải nghiệm những sự diễn ra trong đời. Thời gian là một ý niệm của tâm trí. Nhìn EP vất vả tính tuổi của mình, tôi lại nhớ đến một câu chuyện Ed Cooke kể về nghiên cứu của anh ta ở Đại học Paris, khi chúng tôi gặp nhau tại Giải Vô địch Trí nhớ Hoa Kỳ.
“Tôi đang nghiên cứu việc kéo dài thời gian chủ quan, để tôi cảm thấy mình sống lâu hơn,” Ed lấm nhẩm nói với tôi ngay trên lề đường phía ngoài trụ sở Con Ed, điếu thuốc lá nhảy nhót trên miệng anh ta. “Ý tưởng là để tránh cảm giác ta có mỗi khi cuối năm, và cảm thấy kiểu năm vừa rồi trôi đi chỗ quái nào nhỉ?”
“Rồi anh định làm thế nào?” tôi hỏi.
“Bằng cách nhớ nhiều hơn. Bằng cách tạo cho đời tôi nhiều điểm nhớ theo thời gian. Bằng cách làm cho tôi nhận thức rõ hơn về thời gian trôi qua.”
“Nghe hoàn toàn hợp lý,” tôi nói, và bảo anh ta rằng kế hoạch của anh ta làm tôi nhớ đến Dunbar, viên phi công trong tiểu thuyết Catch-22 của Joseph Heller, nhân vật này lý lẽ rằng thời gian trôi như bay lúc ta vui, và cách chắc chắn nhất để cuộc đời trôi chậm lại là làm cho nó càng tẻ nhạt càng tốt.
Ed nhún vai. “Hoàn toàn ngược lại đấy. Chúng ta gói ghém cuộc đời với càng nhiều ký ức, thì thời gian dường như càng trôi chậm hơn.”
Những trải nghiệm chủ quan của chúng ta về thời gian biến đổi rất mạnh. Chúng ta đều biết rằng ngày có thể trôi đi dài như các tuần và các tháng có thể giống như năm, và điều ngược lại cũng có thể đúng: một tháng hoặc năm có thể co lại thành như không hề có.
Cuộc đời của chúng ta được tạo dựng từ ký ức về các sự kiện. Sự kiện X xảy ra ngay trước kỳ nghỉ lớn Paris. Tôi đang làm việc Y vào mùa hè đầu tiên sau khi tôi học lái xe. Z xảy ra vào ngày cuối tuần sau khi tôi kiếm được việc đầu tiên. Chúng ta nhớ các sự kiện bằng cách đặt chúng trong mối tương quan về thời gian với các sự kiện khác. Cũng như chúng ta tổng hợp những ký ức về các sự kiện bằng cách kết nối chúng vào một mạng lưới, chúng ta tổng hợp những trải nghiệm trong đời bằng cách nhập chúng vào một mạng lưới những ký ức theo trình tự thời gian. Mạng lưới càng dày đặc thì trải nghiệm về thời gian càng dày đặc.
Luận điểm này được minh chứng rất rõ bởi Michel Siffre, một chuyên gia thời sinh học (chronobiologist) người Pháp (ông nghiên cứu mối quan hệ giữa thời gian và các cơ thể sống), ông đã thực hiện một trong những hành vi tự thí nghiệm đặc biệt nhất trong lịch sử khoa học. Năm 1962, Siffre dành hai tháng sống hoàn toàn cô độc trong một cái hầm dưới đất, không có đồng hồ, lịch, và không thấy mặt trời. Ngủ và ăn chỉ diễn ra khi cơ thể bảo ông làm như vậy, ông muốn tìm xem nhịp tự nhiên của đời sống con người sẽ bị ảnh hương thế nào khi sống “ngoài thời gian.”
Rất nhanh chóng, trí nhớ của Siffre bị suy giảm. Trong bóng tối thê lương, hết ngày này nối sang ngày khác, thời gian trở thành một chuỗi liên tục không thể phân biệt. Không có ai để chuyện trò, và không có nhiều việc phải làm, không có gì mới để gây ấn tượng lên trí nhớ của ông. Không có mốc đánh dấu để ông có thể xác định thời gian trôi qua. Có lúc ông không còn nhớ điều gì xảy ra thậm chí vào ngày hôm trước. Trải nghiệm trong sự cô độc đã biến ông thành EP. Khi thời gian bắt đầu nhòa đi, ông trở nên mất trí thực sự. Không lâu sau, cơ cấu giấc ngủ của ông bị phá vỡ. Có những ngày, ông thức đến ba mươi sáu tiếng liền, những ngày khác là tám tiếng - ông không thể nhận ra sự khác biệt. Khi nhóm hỗ trợ trên mặt đất xuống tìm ông vào ngày 14 tháng Chín, theo dự tính là ngày kết thúc thí nghiệm, thì trong nhật ký của ông lúc đó chỉ mới ngày 20 tháng Tám. Ông nghĩ rằng chỉ mới một tháng trôi qua. Trải nghiệm của ông về tốc độ trôi của thời gian đã nén xuống hai lần.
Sự đơn điệu làm thời gian co lại; sự mới mẻ bung mở ra nó ra. Bạn có thể rèn luyện hàng ngày, ăn uống lành mạnh và sống lâu nhưng lại trải nghiệm một cuộc đời ngắn ngủi. Nếu bạn dành cả đời ngồi trong một căn phòng nhỏ và duyệt qua giấy tờ, ngày này sẽ lẫn lộn nhạt nhòa với ngày tiếp theo - và biến mất. Vậy nên mới thấy tầm quan trọng của sự thay đổi thói quen hàng ngày, và đi nghỉ ở nơi xa lạ, và có càng nhiều trải nghiệm mới càng tốt để níu giữ những ký ức. Tạo ra những ký ức mới sẽ kéo căng thời gian tâm lý học, và kéo dài nhận thức của chúng ta về cuộc đời.
William James lần đầu tiên viết về sự co rút kỳ lạ của thời gian tâm lý học trong cuốn sách
Nguyên tắc Tâm lý học năm 1890: “Thời tuổi trẻ, chúng ta có thể có một trải nghiệm tuyệt đối mới, chủ quan hay khách quan, từng giờ trong ngày. Sự băn khoăn rất rõ rệt, sự níu giữ thì mạnh mẽ, và những hồi tưởng về thời gian đó, như hồi tưởng về một thời kỳ trải qua trong chuyến du hành thú vị và chớp nhoáng, là những thứ phức tạp, phong phú và dài lâu,” ông viết. “Nhưng mỗi năm trôi qua lại chuyển một số những trải nghiệm này thành thói quen vô thức mà chúng ta gần như không hề chú ý đến, trong hồi tưởng của chúng ta những ngày và những tuần nhẹ nhàng rơi vào những đơn vị trống rỗng, và những năm giãn dần rồi tan biến.” Khi già đi, chúng ta thấy cuộc sống dường như chạy nhanh hơn bởi lúc ấy cuộc đời ít đáng nhớ đi. “Nếu ghi nhớ là để trở thành con người, thì ghi nhớ nhiều hơn làm ta càng “người” hơn,” Ed nói.
Hẳn có chút gì đó rất “Peter Pan”[7] trong cuộc truy tầm của Ed hòng làm cuộc đời của mình đáng nhớ tối đa, nhưng trong tất cả những gì mà người ta luôn ám ảnh phải có, thì ký ức cuộc đời cũng đâu phải mục tiêu phi lý nhất. Song có điều gì đó hợp lý một cách lạ kỳ. Có một câu đố triết học cũ rích thường được bàn tới trong các khóa học triết học dẫn nhập: trong thế kỷ mười chín, các bác sỹ bắt đầu tự hỏi liệu những thuốc gây tê toàn thân họ tiêm cho các bệnh nhân có thực sự không khiến bệnh nhân rơi vào giấc ngủ sâu đến mức làm tê cứng các cơ và xóa bỏ ký ức về cuộc phẫu thuật hay không. Nếu có thì phải chăng các bác sỹ đã làm gì đó sai trái? Như câu cách ngôn về cái cây ngã xuống không ai nghe thấy, nói một trải nghiệm đã xảy ra trong khi nó không hề được nhớ tới liệu có ý nghĩa gì hay không? Socrates nghĩ rằng cuộc đời chưa qua thử thách là cuộc đời không đáng sống. Vậy cuộc đời không được nhớ đến thì đáng giá hơn bao nhiêu?
Phần lớn những gì khoa học biết về trí nhớ là do tìm hiểu từ một bộ não bị hủy hoại đáng kể như trường hợp EP. Một trường hợp mất trí nhớ khác là Henry Molaison, gọi tắt là HM, ông đã sống phần lớn đời mình trong nhà điều dưỡng ở Connecticut trước khi qua đời năm 2008. (Những cá nhân trong tài liệu y khoa luôn được viết tắt để bảo vệ danh tính. Tên của HM được tiết lộ sau khi ông chết.) Lúc còn bé, HM bị mắc chứng động kinh sau một tai nạn xe đạp năm lên chín tuổi. Năm ông hai mươi bảy tuổi, mỗi tuần ông bị ngất đến mấy lần và không thể làm được gì nhiều. Một nhà phẫu thuật thần kinh tên William Scoville nghĩ ông ta có thể giảm nhẹ các triệu chứng của HM bằng một cuộc phẫu thuật thí nghiệm cắt bỏ phần của bộ não ông ta nghi là gây ra vấn đề.
Năm 1953, trong khi HM đang nằm tỉnh táo trên bàn mổ, da đầu của ông bị gây tê, Scoville khoan hai lỗ ngay phía trên mắt bệnh nhân. Nhà phẫu thuật dùng một dụng cụ nhỏ bằng kim loại nhấc thùy trước bộ não HM, rồi dùng ống kim loại hút ra gần hết hồi hải mã, cùng với phần lớn vùng não xung quanh thuộc thùy thái dương giữa. Ca phẫu thuật đã giảm số lần lên cơn động kinh của HM nhưng có một tác dụng phụ thê thảm: Người ta nhanh chóng thấy rõ là ông đã bị cướp mất trí nhớ.
Trong năm thập kỷ tiếp theo, HM là đối tượng của vô số thí nghiệm và trở thành bệnh nhân được nghiên cứu nhiều nhất trong lịch sử khoa học thần kinh. Xét tới hệ quả kinh hoàng từ cuộc phẫu thuật của Scoville, mọi người cho rằng HM là trường hợp duy nhất.
EP đã phá tan giả định đó. Điều Scoville làm với HM bằng một cái ống kim loại được tự nhiên làm với EP bằng loài virus HSV. Đặt cạnh nhau, hình ảnh MRI đen trắng nổi hột chụp hai bộ não của họ giống nhau đến kỳ lạ, dù tổn hại bộ não của EP có phần lớn hơn một chút. Thậm chí nếu bạn không biết bộ não thường trông như thế nào, thì hai lỗ trống đối xứng vẫn cứ đập vào mắt bạn như hai hốc mắt sâu.
Cũng như EP, HM có thể giữ lại những ký ức đủ lâu để hình thành được suy nghĩ về chúng,
nhưng một khi bộ não ông chuyển sang điều gì khác thì ông không bao giờ nhớ lại ký ức trước. Trong một thí nghiệm nổi tiếng do nhà khoa học thần kinh người Canada Brenda Milner thực hiện, bà đề nghị HM ghi nhớ số 584 càng lâu càng tốt. HM nói to khi ông ghi nhớ:
“Dễ lắm. Chỉ cần nhớ 8. Thế đấy, 5, 8, và 4 cộng thành 17. Ta nhớ 8, rồi lấy 17 trừ 8 còn 9. Tách 9 thành hai số, ta có 4 và 5 và ta có: 584. Dễ thôi.”
Ông tập trung vào câu thần chú tỉ mỉ này trong nhiều phút. Nhưng ngay khi ông bị phân tâm, con số biến mất. Ông không thể nhớ rằng mình được yêu cầu nhớ cái gì. Dù từ cuối thế kỷ mười chín các nhà khoa học đã biết rằng có một sự khác biệt nhỏ giữa trí nhớ ngắn hạn và dài hạn, giờ họ mới có bằng chứng nơi HM rằng hai dạng trí nhớ này nằm ở các phần khác nhau của bộ não, và do mất gần hết hồi hải mã, HM không thể chuyển trí nhớ ngắn hạn thành dài hạn được.
Từ trường hợp của HM, các nhà nghiên cứu cũng biết thêm về một dạng ghi nhớ khác. Dù ông không thể nói bữa sáng ông đã ăn gì hay nêu tên tổng thống đương nhiệm, thì vẫn có một số điều ông có thể nhớ. Milner phát hiện ra rằng ông có thể học được các nhiệm vụ phức tạp mà thậm chí không nhận ra điều đó. Trong một nghiên cứu có tính bước ngoặt vào năm 1962, bà cho thấy rằng HM có thể học cách lần theo nét vẽ ngôi sao năm cánh trên mảnh giấy khi nhìn ảnh nó trong gương. Mỗi lần Milner giao nhiệm vụ này cho HM, ông đều bảo trước đây chưa bao giờ thử. Vậy mà, mỗi ngày bộ não lại giúp ông điều khiển bàn tay vẽ ngược hình trong gương thành thạo hơn. Dù mắc chứng quên, ông vẫn đang ghi nhớ.
Những nghiên cứu sau này trên người mắc chứng quên, gồm cả thí nghiệm tiến hành với EP, đã cho thấy rằng những người này vẫn có khả năng học không cần ghi nhớ. Trong một thí nghiệm, Squire đưa cho EP một danh sách hai mươi bốn từ để ghi nhớ. Như dự tính, trong vòng vài phút, EP không nhớ gì về những từ đó, thậm chí không nhớ là có bài tập hay không. Khi được hỏi ông đã thấy những từ này chưa, ông trả lời đúng nửa số câu hỏi. Nhưng rồi Squire đặt EP ngồi trước một màn hình máy tính và cho ông thực hiện bài kiểm tra khác. Lần này, bốn tám từ thoắt hiện trên màn hình, mỗi hình chừng 25 mili giây, đủ lâu để mắt có thể ghi nhận một số chữ, nhưng không phải toàn bộ, (để so sánh, một cái chớp mắt xảy ra trong 100 đến 150 mili giây). Phân nửa số từ trên có trong danh sách mà EP đã đọc qua và quên và phân nửa là từ mới. Squire đã đề nghị EP đọc mỗi từ sau khi nó hiện ra trên màn hình. Ngạc nhiên thay, EP đọc những từ ông đã thấy lúc trước đúng hơn nhiều so với những từ mới. Dù ông không hồi tưởng lại chúng một cách có ý thức, đâu đó trong những rãnh nếp của bộ não, chúng đã để lại dấu ấn.
Hiện tượng ghi nhớ vô thức này, gọi là ghi nhớ sơ khai (priming), là bằng chứng về cả một thế giới ngầm thâm u của những ký ức ẩn náu dưới bề mặt những suy tư có ý thức của chúng ta. Dù vẫn còn bất đồng về việc có bao nhiêu hệ thống trí nhớ, các nhà khoa học nhìn chung chia trí nhớ thành hai dạng: trí nhớ hữu thức - (declarative) - và trí nhớ vô thức - (nondeclarative) Trí nhớ hữu thức là những gì bạn biết bạn nhớ, như màu chiếc xe, hay chuyện xảy ra chiều hôm qua. EP và HM mất khả năng tạo trí nhớ hữu thức mới. Trí nhớ vô thức là những gì bạn biết do tiềm thức, như cách lái xe hay cách vẽ hình trong khi nhìn vào gương (hoặc nhận ra nghĩa một từ thoáng hiện trên màn hình máy tính). Những trí nhớ vô thức dường như không đi qua bước đệm trí nhớ ngắn hạn như trí nhớ hữu thức, cũng không lệ thuộc vào hồi hải mã để được củng cố và lưu giữ. Chúng chủ yếu dựa vào những phần khác trong bộ não. Việc học cách lái xe máy chủ yếu diễn ra trong tiểu não; học hỏi qua tri giác ở phần vỏ não; việc học thói quen diễn ra ở hạch nền. Như trường hợp
EP và HM đã chứng minh rõ rệt, một phần bộ não có thể bị hủy hoại nhưng các phần còn lại vẫn hoạt động. Thực ra, phần lớn những gì quyết định chúng ta là ai và chúng ta suy nghĩ thế nào - phần cốt lõi tạo nên tính cách của chúng ta - được hình thành ở trí nhớ vô thức, không liên quan gì tới phần não ý thức.
Đối với trí nhớ hữu thức, các nhà tâm lý học lại chia thành trí nhớ ngữ nghĩa (semantic), hay trí nhớ về sự việc và khái niệm, và trí nhớ thời đoạn (episodic), hay trí nhớ về trải nghiệm trong cuộc sống. Việc nhớ rằng tôi đã ăn trứng vào bữa sáng là trí nhớ thời đoạn. Biết rằng bữa ăn sáng là bữa ăn đầu tiên trong ngày, ấy là trí nhớ ngữ nghĩa. Trí nhớ thời đoạn được xác định theo không gian và thời gian: chúng có ở địa điểm và thời gian gắn với chúng. Trí nhớ ngữ nghĩa nằm ngoài không gian và thời gian, như những mẩu tri thức trôi tự do. Hai dạng trí nhớ này dường như sử dụng bộ não theo cách khác nhau, và dựa vào các vùng khác nhau của bộ não, dù cả hai đều phụ thuộc hoàn toàn vào hồi hải mã và các cấu trúc khác trong thùy thái dương giữa. EP đã mất cả hai dạng trí nhớ ở mức độ ngang bằng nhau, nhưng kỳ lạ thay ông chỉ quên những gì xảy ra trong khoảng sáu mươi năm trở lại đây. Trí nhớ của ông phai mờ dần theo đường dốc.
Một trong nhiều bí ẩn của trí nhớ ấy là tại sao người mắc bệnh quên như EP có thể nhớ được thời điểm quả bom hạt nhân rơi xuống Hiroshima, mà không nhớ sự kiện gần đây hơn là Bức tường Berlin. Vì lý do nào đó còn chưa biết, những ký ức gần đây nhất lại phai nhòa trước nhất ở hầu hết những người mắc chứng quên, trong khi những ký ức xa xưa hơn lại vẫn hiện rõ. Hiện tượng này được gọi là Luật Ribot, đặt theo tên của nhà tâm lý học người Pháp ở thế kỷ mười chín, người đầu tiên phát hiện ra nó, và đây là hiện tượng cũng gặp ở các bệnh nhân Alzheimer. Nó gọi một điều sâu xa hơn: rằng ký ức của chúng ta không phải là tĩnh. Khi ký ức già đi thì hình thái của nó thay đổi. Mỗi lần chúng ta nghĩ về một ký ức nào đó, chúng ta lại gắn nó chặt hơn vào mạng lưới những ký ức khác, và vì vậy làm nó ổn định hơn và ít có khả năng bị xóa hơn.
Nhưng trong quá trình đó, chúng ta cũng chuyển đổi trí nhớ, và định hình lại nó - đôi khi đến một mức độ mà ký ức về những sự kiện chỉ hao hao giống với điều thực tế xảy ra. Các nhà khoa học thần kinh mãi gần đây mới bắt đầu nhận thấy quá trình này xảy ra trong bộ não, còn các nhà tâm lý học đã hiểu từ rất lâu rằng có sự khác biệt về chất giữa ký ức cũ và ký ức mới. Sigmund Freud lần đầu tiên nhận thấy một sự việc kỳ lạ là những ký ức cũ hơn thường được nhớ lại như thể do một người thứ ba đang cầm chiếc máy ảnh chụp lấy, trong khi những sự kiện gần đây hơn được nhớ lại qua con mắt người thứ nhất. Tưởng như những sự xảy ra với chúng ta chỉ đơn thuần là những sự việc nào đó đã xảy ra. Hay dường như theo thời gian, bộ não chuyển trí nhớ thời đoạn thành sự kiện một cách tự nhiên.
Ở mức độ tế bào thần kinh, quá trình này diễn ra thế nào vẫn còn là bí ẩn. Một giả thiết nhận được nhiều ủng hộ cho rằng trí nhớ của chúng ta có tính “xê dịch”. Trong khi hồi hải mã liên quan đến những thông tin ban đầu, thì nội dung của chúng rốt cuộc được lưu giữ trong trí nhớ dài hạn trên vỏ não. Theo thời gian, khi càng được ghé thăm và củng cố lại, những ký ức trở nên vững bền đến mức khó mà xóa bỏ. Chúng được bọc chặt trong một mạng lưới những kết nối trên vỏ não cho phép chúng tồn tại độc lập với hồi hải mã. Tới đây lại nảy ra một câu hỏi nan giải: Những ký ức của EP từ năm 1950 trở lại đây bị xóa sạch khi sau virus ăn thùy thái dương hay chúng vẫn còn đó nhưng ông ấy không thể tiếp cận được? Loài virus đó đốt nửa ngôi nhà, hay nó chỉ quẳng đi chiếc chìa khóa? Không ai biết.
Người ta cho rằng giấc ngủ đóng một vai trò thiết yếu trong quá trình củng cố trí nhớ và tạo ra ý nghĩa từ chúng. Những con chuột mất một tiếng chạy quanh một tuyến đường thì
khi ngủ chúng cũng chạy lại tuyến đường đó, và trong khi ngủ chúng cũng thể hiện một kiểu phản ứng thần kinh như khi chúng khám phá mê cung lần đầu tiên. Có ý kiến cho rằng lý do giấc mơ của chúng ta thường như một tái kết hợp siêu thực những yếu tố rút ra từ đời sống là bởi chúng là sản phẩm phụ của những trải nghiệm đang dần được củng cố trong trí nhớ dài hạn.
Ngồi cùng EP trên ghế trong phòng ông, tôi tự hỏi ông còn mơ khi ngủ không. Tất nhiên, ông không biết được, nhưng tôi vẫn hỏi, xem ông nói gì. “Liên tục,” ông bình thản nói, dù câu trả lời của ông chắc hẳn là bốc phét. “Nhưng những giấc mơ rất khó nhớ.”
Khi bước vào thế giới này, tất cả chúng ta đều như những người mắc chứng quên, và khi rời khỏi thế giới, rất ít người ra đi trong đúng trạng thái đó. Một ngày nọ, tôi hỏi đứa cháu ba tuổi của tôi về ngày sinh nhật thứ hai của nó. Dù sự kiện diễn ra gần một năm rồi, những hồi tưởng của nó lại chính xác đến ngạc nhiên. Nó nhớ tên của người thanh niên chơi đàn ghita mua vui cho nó và bạn bè, và có thể nhắc lại tên những bài chúng đã hát. Nó cũng nhớ bộ trống nhỏ tôi tặng nó làm quà. Nó nhớ đã ăn kem với bánh. Tuy nhiên, khoảng mười năm nữa, gần như chắc chắn nó sẽ không nhớ gì những chuyện này.
Trước tuổi lên ba lên bốn, gần như không có gì xảy ra với chúng ta để lại được dấu ấn lâu dài để có thể nhớ lại một cách có ý thức lúc ta trưởng thành. Tuổi trung bình mà người ta có ký ức sớm nhất là ba tuổi rưỡi, và đó thường là những mảnh hình ảnh lờ mờ, sai lạc. Thật lạ là trong giai đoạn đó con người học nhanh hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong đời- khi người ta học đi và học nói và tìm hiểu thế giới - nhưng có rất ít những điều đã học được nhớ một cách rõ ràng.
Freud nghĩ rằng chứng quên ở trẻ con liên quan đến việc người lớn kìm nén những tưởng tượng tình dục thái quá vào đầu thời thơ ấu, hành động đó chỉ trở nên đáng xấu hổ khi đứa bé lớn hơn. Tôi không chắc bạn có thể tìm được nhiều nhà tâm lý học vẫn còn bám víu vào diễn giải đó. Lời giải thích khả dĩ hơn cho chứng quên thời trẻ con kỳ lạ này nằm ở chỗ bộ não của chúng ta trưởng thành nhanh chóng trong vài năm đầu đời, những liên kết thần kinh không sử dụng sẽ bị gọt tỉa và những kết nối mới liên tục hình thành, vỏ não chỉ phát triển toàn vẹn vào quãng năm ba đến bốn tuổi, vào thời gian đó, trẻ em bắt đầu lưu giữ trí nhớ vĩnh viễn. Tuy nhiên, ngành giải phẫu học chỉ có thể lý giải một phần câu chuyện. Khi là trẻ con, chúng ta thiếu những hiểu biết để giải thích thế giới và liên hệ hiện tại với quá khứ. Không có trải nghiệm - và có lẽ quan trọng nhất, không có công cụ thiết yếu là ngôn ngữ - trẻ con thiếu khả năng ghi dấu trí nhớ vào mạng lưới ý nghĩa để có thể tiếp cận về sau này trong đời. Những cấu trúc đó chỉ phát triển theo thời gian, qua việc tiếp xúc với thế giới. Tri thức thiết yếu trong những năm đầu đời gần như hoàn toàn là trí nhớ ám thị, hay còn gọi trí nhớ vô thức. Nói cách khác, mọi người trên đời này đều từng có lúc trải nghiệm tình trạng của EP. Và giống như EP, chúng ta đều quên hết những trải nghiệm đó là như thế nào.
Tôi tò mò xem trí nhớ tiềm ẩn, vô thức của EP tác động thế nào nên tôi hỏi ông có muốn dẫn tôi đi bộ vòng quanh khu dân cư không. Ông bảo, “Không muốn lắm,” nên tôi chờ và hỏi ông lại vài phút sau. Lần này ông đồng ý. Chúng tôi bước ra của trước dưới ánh nắng chiều và rẽ phải - quyết định của ông, không phải tôi. Tôi hỏi EP tại sao không rẽ trái.
“Chỉ là tôi không thích lối kia. Tôi cứ đi như thế thôi. Tôi không biết tại sao,” ông nói.
Nếu tôi đề nghị ông vẽ sơ đồ lộ trình mà ông đi ít nhất ba lần một ngày hẳn ông sẽ không bao giờ làm được. Ông còn không biết địa chỉ nhà mình, hay đường nào ra biển (dù hầu
như bất kỳ ai ở San Diego cũng rõ). Nhưng sau nhiều năm đi bộ cùng trên một tuyến đường, hành trình này đã khắc sâu vào vào tiềm thức của ông. Bây giờ vợ ông, bà Beverly đã để ông ra ngoài một mình, dù một lần rẽ sai cũng khiến ông hoàn toàn lạc đường. Đôi khi ông quay về nhà với những vật ông tìm được dọc đường: một nắm đá cuội, một chú chó con, ví của ai đó. Ông không bao giờ có thể giải thích làm thế nào ông có nó.
“Hàng xóm chúng tôi yêu mến ông bởi ông cứ thế đến chỗ họ và trò chuyện rất tự nhiên” Beverly bảo tôi. Dù ông coi mỗi lần đều là lần đầu gặp họ, qua thói quen ông biết được rằng có thể yên tâm và thoải mái với những người này, và ông diễn giải những cảm xúc vô thức về sự dễ chịu thành lý do thuyết phục đủ khiến ông dừng chân và nói lời chào.
Việc EP biết phải quý mến những người hàng xóm dù không bao giờ nhận ra họ là ai đã chỉ ra nhiều hoạt động cơ bản hàng ngày được định hướng bởi những giá trị và xét đoán tiềm ẩn, không liên quan đến trí nhớ hữu thức. Tôi tự hỏi còn điều gì khác EP học được từ thói quen. Đâu là những trí nhớ vô thức khác đã tiếp tục hình thành trong ông hơn mười lăm năm qua, kể từ khi ông mất trí nhớ hữu thức? Chắc chắn, ông vẫn có ham muốn và sợ hãi, có cảm xúc và khát khao - dù sự hồi tưởng có ý thức về những cảm xúc đó thoảng qua nhanh đến nỗi ông không thể nhận ra đủ lâu để nói thành lời.
Tôi nghĩ đến mình mười lăm năm trước, và bao nhiêu thay đổi trong thời gian đó. Con người tôi ngày nay và con người tôi đã tồn tại lúc trước, nếu đặt cạnh nhau trông khá giống nhau. Nhưng chúng tôi là một tập hợp những phân tử hoàn toàn khác nhau, với đường viền chân tóc và vòng bụng khác nhau, và có khi hầu như chẳng có điểm chung nào ngoài cái tên. Điều ràng buộc con người kia với con người này của tôi, điều cho tôi giữ ảo tưởng rằng có sự liên tục từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, từ năm này sang năm khác, ấy là sự ổn định tương đối nhưng không ngừng dần dần biến đổi ngay trung tâm sự tồn tại của tôi. Gọi đó là linh hồn, là ngã, hay một sản phẩm phụ xuất hiện giữa mạng lưới thần kinh, nhưng dù bạn có gọi nó là gì, thì yếu tố liên tục hoàn toàn phụ thuộc vào trí nhớ.
Dù chúng ta hoàn toàn phó mặc cho trí nhớ trong việc hình thành căn tính, thì rõ ràng EP vẫn không hề là một sinh linh vô hồn. Bất chấp mọi thứ ông đánh mất, ông vẫn là một con người có tính cách riêng - mà còn thực sự là một cá tính hấp dẫn - với một thế giới quan độc đáo. Dẫu một loại virus đã xóa sạch trí nhớ của ông, thì nó không xóa sạch cái phần người của ông. Nó chỉ bỏ lại cái ngã tĩnh tại, trống rỗng, không bao giờ có thể phát triển hay thay đổi được nữa.
Chúng tôi băng qua đường, rời xa bà Beverly và cô Carol, giờ chỉ còn tôi ở riêng với EP lần đầu tiên. Ông không biết tôi là ai, hay tôi ở bên cạnh ông làm gì, dù dường như ông cảm thấy tôi ở đây vì thiện ý. Ông nhìn tôi, mím môi, và tôi có thể thấy ông đang tìm điều gì muốn nói. Thay vì cố lấp sự yên lặng trống trải, tôi nấn ná một lúc xem sự khó chịu này dẫn đến đâu. Tôi đồ rằng mình đang hy vọng ông thoáng nhận ra tình huống kỳ cục này như câu chuyện không có một lời mở đầu. Nhưng ông không hề nhận ra như vậy, hay nếu có thì EP không bao giờ để lộ ra cả. Tôi nhận ra ông bị mắc kẹt trong con ác mộng hiện sinh tột cùng, hoàn toàn mù mờ trước thực tế ông đang sống. Rồi cơn bốc đồng thúc đẩy tôi giúp ông thoát ra, dù chỉ trong một giây. Tôi muốn nắm cánh tay mà lay ông. “Ông bị rối loạn suy giảm trí nhớ hiếm gặp,” tôi muốn bảo ông thế. “Ông đã mất ký ức năm mươi năm qua. Chưa đầy một phút nữa, ông sẽ quên rằng cuộc trò chuyện này từng xảy ra.” Tôi tưởng tượng nỗi kinh hoàng đổ xuống đầu ông, sự minh mẫn thoáng chốc, sự trống trải rộng hoác vụt mở ra trước mặt ông rồi đóng lại cũng nhanh như thế. Rồi một chiếc xe chạy qua hay một tiếng chim kêu có thể kéo ông lại quả bóng lãng quên bao bọc lấy ông. Nhưng
tất nhiên tôi không làm như vậy.
“Chúng ta đi khá xa rồi,” tôi bảo ông, và chỉ về hướng chúng tôi đã ra đi. Chúng tôi quay lại và bước dọc xuống con phố ông đã quên tên, đi qua người hàng xóm đang vẫy tay mà ông không nhận ra, về ngôi nhà mà ông không biết. Trước căn nhà đỗ chiếc xe ô tô cửa kính màu. Chúng tôi quay sang nhìn bóng mình trong gương. Tôi hỏi EP ông thấy gì.
“Một ông già,” ông bảo. “Thế thôi.”
Chương bốn Chuyên gia của chuyên gia
D
ù sinh ra chịu kiếp làm gà chẳng phải sung sướng gì, song làm chú gà trống choai mới đúng là thậm vô phúc.
Từ góc độ người nuôi gà, gà trống là đồ vô dụng. Chúng không thể đẻ trứng, thịt thì dai, chúng quấy rầy những chị gà mái đang vất vả tự vỗ béo để dâng thịt lên bàn ăn chúng ta. Các xưởng ấp trứng thương mại có xu hướng coi gà trống như mớ vải thừa hay đống sắt vụn: sản phẩm phụ lãng phí nhưng không tránh khỏi của quá trình sản xuất công nghiệp. Chúng càng lộ giới tính sớm càng tốt, và thường chúng sẽ bị đem đi làm thức ăn cho gia súc. Nhưng có một vấn đề tốn kém làm người chăn nuôi đau đầu hàng nghìn năm nay: Gần như không thể phân biệt gà trống với gà mái cho tới khi chúng được bốn đến sáu tuần tuổi, lúc chúng bắt đầu phát triển lông đặc trưng và những đặc điểm giới tính phụ như mào gà. Còn trước đó, chúng vẫn chỉ là những con vật nhỏ xinh chẳng phân biệt được con nào ra con nào nên cứ phải giữ nuôi - với một chi phí đáng kể.
Mãi đến những năm 1920 mới có người tìm ra giải pháp cho nan đề tốn kém này. Khám phá quan trọng đó là của một nhóm nhà khoa học thú y Nhật Bản, họ đã nhận ra rằng đằng sau đít gà là một tập hợp những nếp, những dấu và vết, và những u mà mắt thường xem là ngẫu nhiên, nhưng nếu nhìn đúng cách thì có thể phân định được giới tính của gà mới một ngày tuổi. Khi phát hiện này được công bố năm 1927 tại Hội nghị Gia cầm Thế giới ở Ottawa, nó đã làm một cuộc cách mạng đối với ngành chăn nuôi gà toàn cầu và cuối cùng cũng giúp giảm giá trứng gà thế giới. Chuyên gia xác định giới tính gà, được trang bị kỹ năng phải rèn luyện nhiều năm mới thành thạo, trở thành những công nhân cao giá nhất ngành nông nghiệp. Những người giỏi nhất là các cử nhân đã qua hai năm học Trường Giới tính Gà Zen-Nippon, mà tiêu chuẩn ở đây khắt khe đến nỗi chỉ 5 đến 10 phần trăm sinh viên nhận được chứng chỉ. Nhưng những người tốt nghiệp có thể kiếm đến năm trăm đô la mỗi ngày, và họ như những nhà tư vấn kinh doanh hạng nhất, đi vòng quanh thế giới, từ xưởng ấp trứng này đến xưởng ấp trứng khác. Cộng đồng những chuyên gia giới tính gà người Nhật Bản đã lan tràn khắp địa cầu.
Xác định giới tính gà là một nghệ thuật tinh tế, đòi hỏi sự tập trung như thiền định, và sự khéo léo của một nhà phẫu thuật não. Con gà được cầm trong tay trái và bị bóp nhẹ cho nó bài tiết (nếu mạnh quá, ruột sẽ lòi ra, làm gà chết và lúc ấy xác định giới tính chẳng còn ý nghĩa gì cả). Bằng ngón cái và ngón trỏ, chuyên gia giới tính lật ngược con gà, vạch cái hõm nhỏ nơi thân sau và làm lộ ra một huyệt, là lỗ thông nhỏ vừa là bộ phận sinh dục vừa là hậu môn, rồi nhìn vào trong. Để làm cho khéo, móng tay anh ta phải cắt tỉa gọn gàng. Trong những trường hợp đơn giản - những trường hợp mà chuyên gia giới tính có thể giải thích được - anh ta đang tìm một cái u rất khó nhận ra, gọi là “hạt,” chỉ to bằng đầu ghim. Nếu hạt này lồi, thì là gà trống, rồi con gà bị vứt sang bên trái; nếu lõm hoặc phẳng thì là gà mái, và đưa xuống máng bên phải. Những trường hợp đó khá dễ. Thực tế, một nghiên cứu chỉ ra rằng những người không chuyên có thể học được cách xác định hạt này chỉ trong vài phút đào tạo. Nhưng trong gần 80 phần trăm gà con, hạt này không nhìn rõ, và chuyên gia giới tính cũng không thể chỉ ra được dấu vết rõ rệt độc lập nào khác để nhận diện. Thay vào đó anh ta sẽ tìm một tổ hợp các vết, nếp và rãnh nếu xét riêng ra thì vô nghĩa, nhưng kết hợp lại sẽ cho biết giới tính của gà.
Ước tính có đến hàng nghìn hình dạng hậu môn gà mà chuyên gia giới tính phải học để trở
nên thành thạo. Chuyên gia giới tính chỉ được nhìn thoáng qua là phải chẩn đoán ngay giới tính con gà nên công việc càng khó khăn bội phần. Không có thì giờ để lý lẽ bằng ý thức. Nếu anh ta do dự chỉ vài giây, con gà bị nắm chặt có thể bị sưng phồng lỗ hậu môn và trông nó giống hệt một con gà trống. Nhầm lẫn phải trả giá đắt. Những năm 1960, một trại gà trả cho chuyên gia giới tính một penny cho mỗi con gà được xác định đúng giới tính, và trừ đi 35 cent cho mỗi lần xác định sai. Công suất cao nhất trong ngành này là xác định giới tính cho 1.200 con gà trong một giờ, với độ chính xác 98 đến 99 phần trăm. Ở Nhật, vài “siêu anh hùng” trong ngành này học được cách nắm hai con cùng lúc để xác định giới tính của chúng, nâng hiệu suất lên 1.700 con mỗi giờ.
Điều gì làm cho việc xác định giới tính gà trở thành một chủ đề say mê như vậy - lý do mà các nhà triết học kinh viện và nhà triết học nhận thức đã viết nhiều luận văn về nó, và lý do mà nghiên cứu của tôi về trí nhớ đã đưa tôi đến đây - ấy là dù những chuyên gia giới tính giỏi nhất không thể diễn tả làm thế nào họ xác định giới tính trong những tình huống khó khăn nhất, mơ hồ nhất. Tài nghệ của họ không thể giải thích nổi. Họ nói rằng, trong ba giây họ biết ngay con gà là trống hay mái, nhưng họ không thể giải thích tại sao. Cả khi được các nhà nghiên cứu phỏng vấn cẩn thận, họ cũng không thể lý giải vì sao con này là trống, con kia là mái. Theo họ, cái họ có là linh cảm. Theo một nghĩa cơ bản, chuyên gia xác định giới tính gà nhìn nhận thế giới - ít nhất là thế giới bộ phận sinh dục của gà - theo cách hoàn toàn khác với tôi và bạn. Khi họ nhìn vào phao câu gà, họ thấy những điều mà người thường không thể. Vậy xác định giới tính gà thì có liên quan gì đến trí nhớ? Toàn bộ.
Tôi quyết định tốt hơn nên lặn (thực ra là vục mặt) vào các tư liệu khoa học. Tôi đang tìm bằng chứng vững chắc cho thấy rằng chúng ta thực sự có thể cải thiện đáng kể trí nhớ như Buzan và các vận động viên trí óc đã hứa hẹn. Tôi chẳng phải nhọc công tìm kiếm lâu lắm. Lúc tôi đang sục sạo tài liệu về việc cải thiện trí nhớ, một cái tên cứ nảy ra: K. Anders Ericsson. Ông là giáo sư tâm lý học tại Đại học bang Florida (FSU) và là tác giả của bài báo tựa đề “Những người có trí nhớ đặc biệt: do luyện tập, không phải bẩm sinh.”
Trước khi Tony Buzan tiếp thị rộng rãi ý tưởng “sử dụng bộ nhớ hoàn hảo của bạn,” Ericsson đã đặt nền tảng khoa học cho điều được gọi là “Lý thuyết Trí nhớ do Luyện tập,” nó giải thích làm thế nào và tại sao trí nhớ có thể cải thiện được. Năm 1981, trong một thí nghiệm nay đã trở thành kinh điển, ông và đồng nghiệp, nhà tâm lý Bill Chase nghiên cứu một sinh viên Carnegie Mellon, người đã hóa thành bất tử trong thư tịch qua cái tên viết tắt, SF. Chase và Ericsson trả tiền để SF đến phòng thí nghiệm của họ, một tuần vài tiếng, để làm một một thí nghiệm đơn giản, cứ lặp đi lặp lại suốt như vậy. Nó cũng tương tự như thí nghiệm Luria làm với S khi anh lần đầu tiên bước vào văn phòng ông. SF ngồi trên ghế nghe đọc các con số với tốc độ mỗi số một giây, và phải ráng nhớ được càng nhiều số càng tốt. Ban đầu, anh ta chỉ có thể nhớ bảy chữ số một lúc. Và theo thời gian, thí nghiệm cứ lặp lại như vậy - hai năm và 250 tiếng đồng hồ chán ngắt - SF đã tăng khả năng nhớ chữ số gấp mười lần. Thí nghiệm đã đập tan quan niệm cũ rằng năng lực trí nhớ của chúng ta không thay đổi. Ericsson tin rằng cách SF làm được như vậy sẽ là chìa khóa để hiểu quá trình nhận thức căn bản nằm sau mọi dạng thức chuyên môn - từ vận động viên trí óc đến đại kiện tướng cờ vua đến chuyên gia giới tính gà.
Tất cả mọi người đều có trí nhớ tuyệt vời về một mặt nào đó. Chúng ta đã thấy tài ghi nhớ của các tài xế London, và các tư liệu khoa học đầy rẫy những bài báo về “trí nhớ siêu đắng” của những bồi bàn, khả năng dồi dào của các diễn viên trong ghi nhớ dòng thoại, và kỹ năng ghi nhớ của những chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác. Các nhà khoa học đã nghiên cứu trí nhớ đặc biệt của các bác sỹ, người hâm mộ bóng chày, nghệ sĩ violon, cầu thủ bóng đá, cơ thủ bi-a, vũ công ballet, những người làm tính, người giải ô chữ, và cầu thủ
phòng ngự môn bóng chuyền. Thử chọn bất kỳ lĩnh vực nào trong hoạt động của con người, tôi cá với bạn rằng ở đâu đó đã có nhà tâm lý học viết một nghiên cứu về trí nhớ đặc biệt của những chuyên gia trong lĩnh vực ấy.
Tại sao bồi bàn kỳ cựu không cần ghi chép việc khách hàng gọi món? Tại sao những nghệ sĩ violon giỏi nhất thế giới nhớ các bản tổng phổ tốt đến vậy? Làm thế nào, như một nghiên cứu đã chứng minh, một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp chỉ nhìn thoáng một trận đấu bóng trên tivi là có thể thuật lại chính xác điều đang xảy ra trong trận đấu? Một lời giải thích khả dĩ có lẽ là những người có trí nhớ tốt về việc khách gọi món sẽ được hướng vào làm trong ngành dịch vụ ăn uống, hay cầu thủ bóng đá với trí nhớ tốt nhất về đội hình trên sân sẽ rộng đường leo lên chơi ở giải ngoại hạng, hay người có con mắt tuyệt vời xem giới tính gà hiển nhiên sẽ đổ về Trường Giới tính Gà Zen-Nippon. Song có lẽ không phải vậy. Sẽ hợp lý hơn nếu tin rằng mối quan hệ nhân quả đó diễn biến theo chiều ngược lại. Có một điều gì đó khiến ai thành thạo được một lĩnh vực cụ thể sẽ phát triển trí nhớ tốt hơn về những chi tiết thuộc lĩnh vực đó. Nhưng điều gì đó là cái gì? Và có thể tổng quát hóa “điều gì đó” không, để bất kỳ ai cũng có thể làm được?
“Phòng nghiên cứu khả năng con người,” do Ericsson điều hành, cùng một nhóm các nhà nghiên cứu khác ở FSU, là nơi các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực đến để kiểm tra trí nhớ và nhiều mặt khác. Có thể coi Ericsson là chuyên gia hàng đầu thế giới về những chuyên gia. Quả thật, những năm gần đây, ông trở nên nối tiếng nhờ vào nghiên cứu cho thấy rằng các chuyên gia cần ít nhất mười ngàn giờ luyện tập để đạt đến đẳng cấp quốc tế. Khi tôi gọi điện cho ông và bảo rằng tôi đang định cố gắng rèn luyện trí nhớ, ông muốn biết là tôi đã bắt đầu chưa. Tôi bảo tôi chưa thực sự bắt đầu. Nghe vậy ông cực kỳ phấn khích; ông bảo chưa bao giờ có cơ hội nghiên cứu một người mới bước vào quá trình trở thành chuyên gia. Ông bảo nếu tôi có ý định nghiêm túc, thì ông muốn tôi làm đối tượng nghiên cứu của ông. Ông mời tôi xuống Florida vài ngày để làm một số thí nghiệm. Ông muốn có vài thông số ban đầu về trí nhớ của tôi trước khi tôi bắt đầu cố cải thiện nó.
Trụ sở của Phòng Nghiên cứu Khả năng Con người là một tòa văn phòng sang trọng ở ngoại ô Tallahassee. Các giá sách dọc tường với một danh mục đầy những tựa sách liên quan đến nghiên cứu của Ericsson: Bản năng âm nhạc, Phẫu thuật Bàn chân, Trở thành ngôi sao trong công việc, Bí quyết chơi cờ vua hiện đại, Bách khoa thư về chạy bộ, Chuyên gia Giới tính Gà.
David Rodrick, một trợ lý trẻ tuổi ở phòng nghiên cứu, hồ hởi mô tả nơi này là “cung điện đồ chơi.” Tôi đến đây sau vài tuần kể từ cuộc gọi điện đầu tiên cho Ericsson; khi đến nơi tôi thấy ngay có một màn hình cao từ sàn lên trần, cỡ 2,7m x 4,2m đặt giữa một căn phòng, đang chiếu một cảnh phim với kích thước hệt như ngoài đời thực về một chốt giao thông. Nó được quay từ góc nhìn của một cảnh sát giao thông đang tiến đến một chiếc xe bị chặn lại.
Vài tuần trước đó, Ericsson và đồng nghiệp của ông đã mời những cảnh sát đặc nhiệm của Tallahassee (SWAT) và những sinh viên mới tốt nghiệp học viện cảnh sát đến phòng thí nghiệm của ông rồi đặt họ trước màn hình lớn cùng một khẩu súng ngắn Beretta đã nạp đạn giả cài nơi hông. Họ oanh tạc những cảnh sát bằng hết kịch bản dựng tóc gáy này đến kịch bản khác rồi quan sát cách họ phản ứng. Trong một kịch bản, viên cảnh sát thấy một kẻ đang bước đến cổng trường học với dáng cồm cộm khả nghi như đang giấu quả bom trên ngực. Nhà nghiên cứu muốn biết các cảnh sát với những kinh nghiệm khác nhau sẽ phản ứng ra sao.
Kết quả thật kinh ngạc. Những cảnh sát đặc nhiệm giàu kinh nghiệm ngay lập tức rút
súng ra và không ngớt hô hoán kẻ tình nghi đứng lại. Khi hắn ta không dừng, hầu hết họ sẽ nổ súng trước khi hắn vào được trong trường. Nhưng những người mới tốt nghiệp thường để kẻ mang bom bước qua được bậc thềm vào trong tòa nhà. Đơn giản là họ thiếu kinh nghiệm phỏng đoán tính huống và phản ứng phù họp. Ít nhất xét bề ngoài là vậy. Nhưng kinh nghiệm chính xác là gì? Đâu là điều mà những cảnh sát lâu năm nhìn ra, còn những lính mới lại không thấy? Mắt họ đã nhìn thấy gì, điều gì diễn ra trong đầu họ, sao họ xử lý tình huống theo cách khác? Điều gì họ rút ra được từ trí nhớ? Cũng như chuyên gia giới tính gà, những cảnh sát đặc nhiệm lâu năm có một kỹ năng không dễ diễn tả thành lời. Chương trình nghiên cứu của Ericsson có thể mô tả tóm tắt là một nỗ lực để khu biệt cái chúng ta gọi là sự tinh thông chuyên môn, để ông có thể mổ xẻ và xác định cơ sở nhận thức của nó.
Để làm như vậy, Ericsson và đồng nghiệp đề nghị nhóm cảnh sát kể lại trong đầu họ nghĩ gì khi kịch bản mở ra. Điều Ericsson dự kiến thu được từ những lời thuật này cũng y như điều ông phát hiện ở những lĩnh vực chuyên môn khác mà ông đã nghiên cứu: Các chuyên gia quan sát thế giới theo một cách khác. Họ nhận ra điều mà những người thường không nhận ra. Họ nhắm vào những thông tin quan trọng nhất, và có cảm nhận gần như vô thức rằng phải làm gì. Và quan trọng nhất, các chuyên gia xử lý một lượng thông tin khổng lồ chảy qua dòng cảm nhận của họ theo những cách phức tạp hơn. Họ có thể vượt qua một trong những giới hạn cơ bản nhất của bộ não: số bảy ma thuật.
Năm 1956, một nhà tâm lý học ở Harvard, tên George Miller đã đăng một tài liệu sau này trở thành kinh điển trong lịch sử nghiên cứu trí nhớ. Nó bắt đầu bằng lời dẫn ấn tượng:
Vấn đề của tôi ấy là tôi bị một số nguyên tố quấy rầy. Trong bảy năm qua, chữ số này cứ bám nhẵng lấy tôi, xâm nhập vào những dữ liệu riêng tư nhất của tôi, và đã công kích tôi từ những trang viết trên các tạp chí phổ thông nhất của nước ta. Chữ số này có nhiều hình thức ngụy trang lắm, đôi khi lớn hơn một chút và đôi khi nhỏ hơn một chút so với bình thường, nhưng không bao giờ thay đổi quả nhiều đến mức chẳng thể nhận ra. Sự phiền toái dai dẳng mà chữ số ấy gây ra cho tôi không chỉ là một tai nạn ngẫu nhiên. Nói như một thượng nghị sĩ nổi tiếng, thì hẳn có một sự xếp đặt đằng sau đó, một cách thức điều chỉnh vẻ ngoài của nó. Hoặc là thực sự có điều gì đó bất thường về chữ số này, hoặc là tôi bị một ảo giác hành hạ.
Thực ra, tất cả chúng ta đều bị hành hạ bởi chữ số nguyên tố Miller đang nhắc đến. Nghiên cứu của ông có tựa đề “Chữ số bảy ma thuật, Cộng hoặc trừ hai: Một số giới hạn của chúng ta về khả năng xử lý thông tin.” Miller đã phát hiện ra rằng, khả năng xử lý thông tin và việc ra quyết định của chúng ta đều chịu hai giới hạn cơ bản: Ta chỉ có thể nghĩ về chừng bảy thứ cùng một lúc.
Khi một ý nghĩ mới hoặc một nhận thức mới đi vào đầu chúng ta, nó không được cất ngay vào trí nhớ dài hạn. Thay vào đó, nó tồn tại trong một cái kho tạm bợ, gọi là bộ nhớ tạm (working memory), một tập hợp các hệ thống trong não bộ có chức năng giữ bất kể điều gì đang lướt qua nhận thức của chúng ta ở thời điểm hiện tại.
Hãy cô lập lại trước hết những từ trong câu này mà không nhìn hay đọc lại nó.
Không nhìn lại nhé.
Khá dễ.
Giờ, không nhìn lại, cố nhắc lại ba từ đầu tiên của câu trước đó. Nếu bạn thấy khó hơn, ấy là bởi câu đó đã bị trí nhớ tạm thời bỏ đi.
Trí nhớ tạm thời đóng một vai trò thiết yếu, là bộ lọc giữa nhận thức về thế giới và trí nhớ dài hạn. Nếu mọi cảm nhận và suy nghĩ bị truyền ngay vào kho dữ liệu khống lồ là trí nhớ dài hạn, như trường hợp của S và Funes, chúng ta sẽ bị chết ngập trong những thông tin vô bổ. Hầu hết những gì đi qua não không cần phải được nhớ quá lâu so với thời gian chúng ta cần để nhận thức được chúng, và nếu cần thiết thì có phản ứng lại với chúng. Quả thật, chia trí nhớ thành ngắn hạn và dài hạn là một cách khôn khéo để quản lý thông tin, hầu hết máy tính đều dựa trên mô hình này. Chúng có bộ nhớ dài hạn là các ổ cứng, và bộ nhớ ngắn hạn chính là bộ nhớ đệm (cache) trong CPU (đơn vị xử lý trung tâm), giúp lưu trữ bất kể thứ gì mà bộ vi xử lý đang tính toán ở thời điểm hiện tại.
Như một chiếc máy tính, năng lực hoạt động của chúng ta bị giới hạn bởi số lượng thông tin chúng ta có thể “tung hứng” vào một thời điểm. Trừ phi những sự việc được chúng ta lặp đi lặp lại nhiều lần, còn không thì chúng có xu hướng tuột khỏi khỏi trí nhớ. Ai cũng biết trí nhớ tạm thời của chúng ta khá kém cỏi. Nghiên cứu của Miller giải thích rằng chúng kém cỏi trong những giới hạn rất cụ thể.
Một số người có thể chỉ nhớ được năm sự việc trong đầu ở một thời điểm cụ thể, vài người có thể nghĩ trong đầu đến chín sự việc, nhưng “số bảy ma thuật” dường như đại diện cho khả năng phổ quát về trí nhớ ngắn hạn của chúng ta. Và tệ hơn, bảy sự việc đó chỉ lưu lại vài giây, và thường là chẳng lưu gì hết nếu chúng ta bị phân tâm. Chính vì giới hạn cơ bản này - cũng là hạn chế chung của tất cả chúng ta - khiến chúng ta thấy kỳ tích của các chuyên gia trí nhớ thật đáng kinh ngạc.
Cuộc kiểm tra trí nhớ của tôi không diễn ra trước màn hình máy chiếu cao bằng cả bức tường ở Phòng nghiên cứu khả năng con người. Không có súng ngắn đeo nơi đai lưng, không có thiết bị theo dõi ánh mắt gắn vào đầu. Đóng góp khiêm nhường của tôi cho tri thức nhân loại được chiết ra ở phòng 218 của khoa tâm lý FSU, một căn phòng nhỏ không cửa sổ, thảm lốm đốm vết bẩn và những tờ giấy kiểm tra IQ cũ vương vãi trên sàn. Nói không ngoa, nó chẳng khác gì cái nhà kho.
Người trông coi việc kiểm tra của tôi là một nghiên cứu sinh tiến sĩ năm thứ ba ở phòng nghiên cứu của Ericsson, tên Tres Roring. Tres đi đôi dép xỏ ngón và có mái tóc vàng như vận động viên lướt sóng, nhìn ngoài chẳng thể biết anh chàng lớn lên ở một thị trấn nhỏ miền nam Oklahoma. Ở tuổi mười sáu, anh là Vô địch Cờ vua thiếu niên bang Oklahoma. Tên đầy đủ của anh là Roy Roring III - nên gọi tắt là “Tres.”
Tres và tôi mất ba ngày tròn trong phòng 218 để làm các bài kiểm tra trí nhớ - tôi đeo một cái tai nghe gắn micro nối với một máy ghi âm cũ, Tres ngồi đằng sau, chân bắt tréo, đồng hồ bấm giờ đặt trong lòng, và ghi chép.
Có những bài kiểm tra trí nhớ chữ số (theo chiều xuôi, chiều ngược), kiểm tra khả năng nhớ từ, kiểm tra khả năng nhớ mặt người, kiểm tra đủ mọi thứ dường như chẳng liên quan gì đến trí nhớ - như tôi có thể hình dung trong đầu việc xoay một khối lập phương không, hay tôi có biết định nghĩa từ “jocose,” “lissome,” và “querulous”[8] không. Một bài thi trắc nghiệm gọi là Kiểm tra Thông tin Năng lực Đa chiều để kiểm tra kiến thức tổng hợp của tôi với những câu hỏi như:
Khổng Tử sống vào thời nào?
A. Năm 1650 sau Công nguyên
B. Năm 1200 sau Công nguyên
C. Năm 500 sau Công nguyên
D. Năm 500 trước Công nguyên
E. Năm 40 trước Công nguyên Và
Trong động cơ đốt xăng, công dụng chính của bộ chế hòa khí là để
A. Hòa xăng với khí
B. Duy trì việc nạp ắc quy
C. Kích hoạt lửa
D. Chứa các pít-tông
E. Bơm nhiên liệu vào động cơ
Nhiều bài kiểm trắc nghiệm do Tres đưa ra lấy trực tiếp từ các vòng thi của Giải vô địch trí nhớ Hoa Kỳ, như mười lăm phút học thơ, tên người và khuôn mặt, những từ ngẫu nhiên, nhớ số nhanh, nhớ bài nhanh. Anh ấy muốn biết tôi làm được đến mức nào trước khi thử cải thiện trí nhớ. Anh ta cũng muốn kiểm tra một vài phần thi chỉ sử dụng trong các giải vô địch trí nhớ quốc tế, như những số nhị phân, ngày tháng lịch sử, đọc số. Sau ba ngày ở Tallahasse, Tres thu thập bảy tiếng dữ liệu ghi âm đưa cho Ericsson và các sinh viên của ông để dành phân tích sau này. Họ rõ là may mắn.
Rồi sau đó là những cuộc phỏng vấn chi tiết do một sinh viên khác thực hiện, là Katy Nandagopal. Anh nghĩ anh có trí nhớ tự nhiên tốt không? (Khá tốt, nhưng không có gì đặc biệt.) Hồi nhỏ anh có chơi những trò trí nhớ không? (Tôi không thể nghĩ ra trò nào.) Chơi cờ chẳng hạn? (Chỉ chơi với bà tôi.) Anh có thích những câu đố không? (Ai không thích chứ?) Anh có thể xoay khối Rubik không? (Không.) Anh có hát không? (Chỉ trong nhà tắm thôi). Nhảy thì sao? (Như trên.) Anh có tập thể dục không? (Hỏi tới mà phát sầu). Anh có dùng miếng dán tiêu mỡ không? (Anh cần biết điều đó à?) Anh làm công việc tình nguyện không? (Có vài lần tôi làm ở điểm phát thức ăn miễn phí.) Anh có thành thạo việc đi dây điện không? (Hỏi nghiêm túc đấy à?)
Với những ai muốn biết người ta đang làm gì với mình để một ngày kia sẽ kể cho người khác nghe, việc trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học quả là một nỗi khó chịu cùng cực.
“Chính xác thì tại sao chúng ta làm việc này?” tôi hỏi Tres.
“Giờ tôi không thể nói hết cho anh được.” (Giả như sau này tôi lại bị kiểm tra về điều gì đó - mà hóa ra là đúng vậy - anh ta không muốn tôi biết.)
“Tôi đã làm bài kiểm tra vừa rồi thế nào?” “Chúng tôi sẽ cho anh biết khi xong mọi việc.”
“Ít nhất thì anh cũng nói giả thiết của anh chứ?” “Không phải bây giờ.”
“IQ của tôi bao nhiêu?” “Tôi không biết.”
“Vậy thì chắc là cao nhỉ?”
Cuộc kiểm tra trí nhớ chán ngắt mà SF, sinh viên trường Carnegie Mellon, đã làm đi làm lại trong 250 giờ trong hai năm, được gọi là kiểm tra chữ số. Đó là một biện pháp cơ bản để đo khả năng trí nhớ tạm thời về chữ số. Lúc mới bắt đầu, hầu hết mọi người khi làm bài kiểm tra như SF chỉ có thể nhớ bảy ± hai chữ số (tức từ 5 đến 9 số). Hầu hết mọi người nhớ được những số ấy bằng cách lặp đi lặp lại chúng trong “vòng âm vị” (phonological loop), một thuật ngữ lạ lùng để chỉ giọng nói nhỏ chúng ta có thể nghe trong đầu khi tự nói một mình. Vòng âm vị như là tiếng vọng, tạo thành bộ đệm trí nhớ ngắn hạn và chỉ lưu giữ âm thanh được trong vài giây, nếu chúng ta không nhắc lại những âm thanh đó. Khi bắt đầu tham gia vào thí nghiệm của Chase và Ericsson, FS cũng dùng vòng âm vị để lưu giữ thông tin. Và trong một thời gian dài, điểm số của anh ta ở phần kiểm tra này không hề cải thiện. Nhưng rồi điều gì đó đã xảy ra. Sau nhiều giờ kiểm tra, điểm số của SF bắt đầu nhích lên. Rồi một ngày anh ta nhớ được mười chữ số. Ngày tiếp theo là mười một. Số lượng các chữ số anh ta có thể nhớ được cứ tăng đều đặn. Anh ta có một khám phá: Dù trí nhớ ngắn hạn của anh ta có giới hạn, anh đã tìm ra cách lưu giữ thông tin trực tiếp vào trí nhớ dài hạn. Nó liên quan đến một kỹ thuật gọi là chia nhóm (chunking).
Chia nhóm là một cách giảm số lượng những sự việc phải nhớ bằng cách tăng quy mô của mỗi sự việc. Chia nhóm là lý do khiến các số điện thoại được chia thành hai phần kèm với mã vùng và mã số thẻ tín dụng được chia thành những nhóm bốn chữ số. Kỹ thuật chia nhóm liên quan chặt chẽ đến câu hỏi tại sao các chuyên gia thường có trí nhớ đặc biệt như vậy.
Lời giải thích thỏa đáng nhất là liên quan đến ngôn ngữ. Nếu bạn được đề nghị ghi nhớ hai mươi hai chữ cái HEADSHOULDERSKNEETOES, và bạn không nhận ra nên đánh vần chúng thê nào, chắc chắn bạn sẽ gặp khó khăn. Nhưng giờ hãy chia hai mươi hai chữ này thành bốn nhóm - HEAD, SHOULDERS, KNEES, và TOES (đầu, vai, gối, ngón chân) - rõ ràng nhiệm vụ trở nên dễ dàng hơn nhiều lần. Và giả như bạn biết được trọn bài đồng dao có câu này, thì dòng chữ “Head, Shoulders, knees, và toes” (Đầu, vai, đầu gối, ngón chân) có thể coi như là một nhóm. Những con số cũng vậy. Một dãy mười hai chữ số 120741 091101 thật khó mà nhớ được. Chia nó ra thành bốn nhóm - 120, 741, 091, 101 - dễ nhớ hơn chút rồi đấy. Rồi chuyển thành hai nhóm, 12/07/41 và 09/11/01, bạn sẽ rất khó mà quên được. Bạn có thể chuyến những ngày đó thành một nhóm thông tin duy nhất bằng cách ghi nhớ đó là “hai sự kiện lớn liên quan tới lịch sử Mỹ.
Chú ý rằng quá trình phân nhóm diễn đạt lại những thông tin tưởng như vô nghĩa bằng những thông tin đã được lưu trong trí nhớ dài hạn. Nếu bạn không biết hai sự kiện lịch sử trên, bạn sẽ không bao giờ có thể phân nhóm dãy mười hai chữ số theo cách đó. Nếu bạn nói tiếng Swahili, không nói tiếng Anh, thì bài đồng dao vẫn chỉ là mớ lộn xộn những chữ cái. Nói cách khác, khi bàn đến chuyện phân nhóm - và rộng hơn là về trí nhớ - thì điều chúng ta đã biết trước sẽ quyết định điều chúng ta có thể học.
Dù chưa bao giờ được học bài bản về kỹ thuật phân nhóm, SF tự tìm ra cách này. Là người thích chạy bộ, anh ta bắt đầu nghĩ về một dãy số ngẫu nhiên như là thời gian chạy. Ví dụ 3492 được chuyển thành “3 phút 49 phẩy 2 giây, suýt soát kỷ lục điền kinh thế giới cự li một dặm.” Và 4131 trở thành “4 phút, 13,1 giây, thời gian chạy một dặm.” SF không biết gì về những chữ số ngẫu nhiên anh ta phải nhớ, nhưng anh ta biết về chạy bộ. Anh ta phát hiện ra rằng anh ta có thể đưa những mẩu thông tin vô nghĩa qua một bộ lọc nhằm gán nghĩa cho chúng, và làm thông tin đó lưu lại dễ hơn. Anh ta đã sử dụng trải nghiệm trong quá khứ để định hình cách anh ta nhận thức hiện tại. Anh ta đang sử dụng những mối liên hệ trong trí nhớ dài hạn để nhìn những con số theo một cách khác.
Hiển nhiên, mọi chuyên gia đều làm như vậy: Họ sử dụng trí nhớ của mình để nhìn thế giới theo một cách khác. Trải qua nhiều năm, họ xây dựng được một kho kinh nghiệm và nó sẽ định hình cách họ tiếp nhận thông tin mới. Người cảnh sát đặc nhiệm giàu kinh nghiệm không chỉ nhìn thấy một người đang bước đến trước cổng trường; anh ta thấy cái vẻ giần giật căng thẳng nơi cánh tay kẻ kia và liên hệ đến hàng chục dáng vẻ căng thẳng tương tự mà anh ta đã thấy trong nhiều năm làm cảnh sát. Anh ta đặt kẻ tình nghi trong bối cảnh từng gặp những kẻ khả nghi khác. Anh ta nhìn nhận cuộc đụng độ hiện tại dưới ánh sáng của những cuộc đụng độ tương tự trong quá khứ.
Khi một người tốt nghiệp trường Trường Giới tính Gà Zen-Nippon nhìn vào phao câu gà, kỹ năng cảm nhận được mài giũa sắc bén giúp chuyên gia giới tính này nhanh chóng tổng hợp một lô thông tin nằm trong cơ thể gà, và trước khi suy nghĩ có ý thức xuất hiện, chuyên gia giới tính đã biết đó là gà trống hay mái rồi. Nhưng với trường hợp cảnh sát đặc nhiệm kỳ cựu, hiểu biết xuất hiện gần như tức thời đó không phải dễ mà có được. Nghe nói một sinh viên học nghề xác định giới tính phải xem ít nhất 250.000 con gà mới đạt được trình độ thuần thục. Như vậy dù chuyên gia giới tính gọi khả năng của họ là “trực giác” đi nữa, thì thật ra nó được rèn giũa trong suốt nhiều năm kinh nghiệm, cả một “ngân hàng ký ức” khổng lồ về đít gà cho phép người chuyên gia dù chỉ nhìn thoáng qua, cũng nhận ra những kiểu hậu môn gà khác nhau. Thường kỹ năng này không phải là kết quả của lý lẽ hữu thức, mà là một thứ nhận thức theo khuôn mẫu tổng hợp (pattern recognition). Nó là kết hợp của nhận thức và trí nhớ, không phải là kết quả phân tích.
Ví dụ điển hình về cách thức các ký ức định hình nhận thức của các chuyên gia lại xuất hiện ở một lĩnh vực tưởng như ít cảm tính nhất: cờ vua. Trên thực tế, kể từ khi trò chơi hiện đại này ra đời vào thế kỷ mười lăm, cờ vua đã được xem là bài thử thách lớn nhất về khả năng nhận thức. Những năm 1920, một nhóm các nhà khoa học Nga bắt đầu đo đếm tiến bộ trí tuệ của tám kỳ thủ cờ vua giỏi nhất thế giới bằng cách cho họ làm những bài kiểm tra nhận thức cơ bản. Ngạc nhiên thay, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng ở những bài kiểm tra, những đại kiện tướng không làm tốt hơn là mấy so với một người bình thường. Các kỳ thủ vĩ đại nhất thế giới dường như không có tiến bộ lớn nào về nhận thức.
Nhưng nếu kiện tướng cờ vua nhìn chung không thông minh hơn những người chơi cờ kém hơn, vậy họ là gì? Những năm 1940, một nhà tâm lý học người Hà Lan, có am hiểu cờ vua, tên là Adriaan de Groot đã đặt ra một câu hỏi chừng như đơn giản: Đâu là điểm phân biệt giữa kỳ thủ giỏi thuần túy với kỳ thủ đẳng cấp thế giới? Có phải những kỳ thủ đẳng cấp nhất nhìn thấy trước những nước đi trong đầu? Họ có tính toán những nước đi khả dĩ không? Họ có những công cụ tốt hơn để phân tích nước đi không? Hay chỉ vì họ có trực giác tốt hơn trong trò chơi này?
Một lý do làm cờ vua là bộ môn đáng chơi và đáng học tập, ấy là với hiểu biết trung bình về
cờ vua bạn cũng có thể bị một nước đi của đại kiện tướng làm cho mụ mị hoàn toàn. Thường thì nước đi hay nhất dường như hoàn toàn phản-trực-giác. Nhận ra điều đó, de Groot đã nghiền ngẫm các ván cờ giữa những kiện tướng và chọn một số thế cờ chỉ có duy nhất một nước đi đúng, nhưng không dễ nhận ra. Rồi ông đưa các thế cờ cho một nhóm kiện tướng quốc tế và những kỳ thủ hàng đầu. Ông đề nghị họ nói to suy nghĩ khi họ nghiền ngẫm tìm nước đi đúng.
Điều de Groot khám phá ra thậm chí còn gây ngạc nhiên hơn điều những tiền nhiệm người Nga phát hiện được. Trong đa số trường hợp, các chuyên gia cờ vua không thấy trước những nước đi trước, ít nhất ban đầu là vậy. Họ thậm chí còn không tính những nước đi khả dĩ. Thay vì vậy, họ xử sự giống những chuyên gia giới tính gà một cách đáng ngạc nhiên: Họ có xu hướng nhìn ra nước đi đúng, hơn nữa còn nhìn ra ngay lập tức.
Cứ như thế chuyên gia cò vua không nghĩ ngợi quá nhiều khi đặt quân cờ. Khi de Groot lắng nghe những gì họ nói, ông nhận ra rằng họ mô tả lại những ý nghĩ bằng một ngôn ngữ khác những kỳ thủ ít kinh nghiệm hơn. Họ nói về những thê cờ như “thế phối hợp các quân tốt” và nhận ra điều không ổn, ví như quân xe bị hở. Họ không xem bàn cờ có ba mươi hai quân riêng lẻ. Họ xem nó như một nhóm những quân cờ, một hệ thống ràng buộc chặt chẽ với nhau.
Theo nghĩa đen, các đại kiện tướng nhìn thấy một bàn cờ khác. Những nghiên cứu về cử động mắt phát hiện ra rằng họ nhìn mép những ô cờ nhiều hơn kỳ thủ thiếu kinh nghiệm, cho thấy họ tiếp thu thông tin từ nhiều ô cùng một lúc. Mắt họ cũng phóng xa hơn, và ít thời gian neo lại ở bất cứ điểm nào. Họ tập trung vào ít điểm khác nhau trên bàn cờ hơn, nhưng những điểm đó nhiều khả năng liên quan đến việc tìm ra nước đi đúng.
Nhưng phát hiện gây kinh ngạc nhất trong số những nghiên cứu ban đầu này ấy là trí nhớ kinh khủng của họ. Các chuyên gia này có thể nhớ toàn bộ bàn cờ chỉ sau một cái nhìn thoáng qua. Họ có thể dựng lại bằng trí nhớ một ván cờ đã chơi từ rất lâu. Quả thật, những nghiên cứu sau này xác nhận rằng khả năng ghi nhớ vị trí trên bàn cờ là một trong những chỉ số tổng quan để đánh giá kỳ thủ giỏi. Và những vị trí quân cờ này không đơn thuần mã hóa trong trí nhớ ngắn hạn tạm thời. Các chuyên gia cờ vua có thể nhớ vị trí của một ván cờ trong hàng giờ, hàng tuần, thậm chí hàng năm sau đó. Thực tế, đến một thời điểm nhất định trong quá trình phát triển của mỗi kiện tướng, việc nhớ vị trí quân cờ trên bàn trở thành một kỹ năng thông thường họ có thể đấu cờ với nhiều đối thủ cùng một lúc, hoàn toàn chỉ dùng đến trí nhớ.
Trí nhớ của các kiện tướng đối với các ván cờ ấn tượng bao nhiêu, thì trí nhớ của họ đối với mọi thứ khác cũng bình thường bấy nhiêu. Khi các chuyên gia cờ vua được xem cách bài trí các quân cờ ngẫu nhiên - nghĩa là vị trí các quân cờ không phải từ một trận cờ có thực - thì trí nhớ của họ đối với bàn cờ đó chỉ cao hơn một chút so với người mới chơi. Họ hiếm khi nhớ quá bảy vị trí quân cờ. Cũng những quân cờ đó, cũng với bàn cờ đó. Vậy tại sao họ bỗng dưng chịu sự giới hạn của con số bảy ma thuật?
Những thí nghiệm về cờ vua hé lộ một sự thật hùng hồn về trí nhớ, và về sự thành thạo chuyên môn (expertise) nói chung: Chúng ta không ghi nhớ những sự kiện đơn lẻ; chúng ta nhớ các sự vật theo bối cảnh. Một bàn cờ được sắp xếp ngẫu nhiên không có bối cảnh gì cả - không có một thế cờ nào tương tự để so sánh, không có những ván cờ trong quá khứ để liên hệ, không có cách nào để phân nhóm nó một cách có ý nghĩa. Thậm chí đối với kỳ thủ giỏi nhất thế giới, đám quân cờ đó nói chung vẫn là một mớ hỗn độn.
Cũng theo cách chúng ta sử dụng trí nhớ để nhớ những ngày trong lịch sử (phân nhóm chuỗi mười hai chữ số), các kiện tướng cờ vua dùng một thư viện khổng lồ những thế phối hợp quân cờ họ đã lưu trong trí nhớ dài hạn để phân nhóm thế cờ. về bản chất, kỹ năng của kiện tướng nằm ở chỗ anh ta sở hữu một “kho” thế cờ phong phú hơn. Đó là lý do ít ai đạt được đẳng cấp thế giới trong môn cờ vua - hay trong bất cứ lĩnh vực nào - mà không có nhiều năm kinh nghiệm. Thậm chí cả Bobby Fischer, người có lẽ là thần đồng cờ vua vĩ đại nhất mọi thời đại, cũng phải chơi miệt mài những chín năm mới được công nhận là đại kiện tướng ở tuổi mười lăm.
Trái ngược với những quan niệm xưa rằng cờ vua là hoạt động trí tuệ dựa trên phân tích, đa số nước đi quan trọng của kiện tướng được quyết định tức thì khi họ nhận ra thế cờ. Như chuyên gia giới tính nhìn con gà và thấy giới tính của nó, bác sĩ nhìn bệnh nhân và chẩn đoán bệnh, hay cảnh sát đặc nhiệm ngay lập tức nhận ra quả bom, kiện tướng cờ vua nhìn lên bàn cờ và thấy ngay nước đi hứa hẹn nhất. Quá trình này thường xảy ra trong vòng năm giây; và bạn có thể thực sự quan sát quá trình đó xảy ra trong bộ não. Sử dụng từ não đồ, một kỹ thuật đo từ trường yếu phát ra từ một bộ não đang suy nghĩ, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng khi nhìn vào bàn cờ, những kỳ thủ được xếp hạng cao thường sử dụng phần vỏ não trên trán và đỉnh, điều này cho thấy họ đang lục lại thông tin trong trí nhớ dài hạn. Những kỳ thủ xếp hạng thấp thường sử dụng thùy thái dương giữa, như vậy họ đang mã hóa thông tin mới. Các chuyên gia diễn giải bàn cờ hiện tại dựa trên hiểu biết rộng về những ván cờ trong quá khứ. Những người xếp hạng thấp xử lý thế cờ như xử lý một điều gì mới mẻ.
Dù cờ vua chỉ là một bộ môn bình thường để các nhà tâm lý nghiên cứu - rốt cục nó cũng chỉ là một trò chơi - nhưng de Groot tin rằng những thí nghiệm của ông với các kiện tướng cờ vua có hàm ý lớn hơn nhiều. Ông lập luận rằng sự thành thạo chuyên môn “trong lĩnh vực đóng giày, vẽ tranh, xây nhà, (hay) làm bánh kẹo” là kết quả của sự tích lũy những “mối liên kết kinh nghiệm.” Theo Ericsson, cái chúng ta gọi là thành thạo chuyên môn thực ra chỉ là “khối lượng khổng lồ tri thức, sự hồi tường các đặc điểm kết hợp, và cơ chế lập kế hoạch đạt được qua nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan.” Nói cách khác, trí nhớ vĩ đại không chỉ là sản phẩm phụ của sự thành thạo chuyên môn; mà về cơ bản nó là sự thành thạo chuyên môn.
Dù chúng ta có nhận ra hay không, tất cả chúng ta cũng như những kiện tướng cờ vua và chuyên gia giới tính gà, giải thích hiện tại dựa trên điều chúng ta đã học được trong quá khứ, và để cho những kinh nghiệm định hình không chỉ cách chúng ta nhận thức thế giới mà cả hành động nữa.
Chúng ta thường hay nói về trí nhớ như thể chúng là những ngân hàng nơi chúng ta gửi vào những thông tin mới và rút ra những thông tin cũ khi cần đến. Nhưng ẩn dụ đó không phản ánh đúng cách thức trí nhớ vận hành. Mọi ký ức luôn song hành cùng chúng ta, định hình và được định hình bởi thông tin chảy qua các giác quan, trong một dòng phản hồi liên tục. Mọi thứ chúng ta thấy, nghe, và ngửi đều bị biến đổi bởi tất cả những gì chúng ta đã thấy, đã nghe và đã ngửi trong quá khứ.
Theo các cách từ mơ hồ như xác định giới tính gà đến sâu sắc như chẩn đoán bệnh, về cơ bản chúng ta là ai và chúng ta làm gì, về cơ bản là một chức năng của những gì ta nhớ. Nhưng nếu việc diễn giải và ứng xử trong thế giới chỉ xoay quanh hành vi ghi nhớ, vậy còn Ed và Lukas và những vận động viên trí óc tôi gặp thì sao? Làm sao cái kỹ thuật được cho là “đơn giản” có tên sơ đồ trí nhớ giúp họ có được trí nhớ bậc thầy nhưng lại chẳng phải là chuyên gia của bất cứ lĩnh vực gì?
Dù Ericsson và những nghiên cứu sinh của ông không cho tôi biết kết quả của những bài kiểm tra đã làm tôi mất ba ngày vất vả, thì tôi cũng đã ghi chú đủ để đến lúc ra về, tôi biết khả năng trí nhớ của mình đến đâu. Con số giới hạn của tôi là chín (trên trung bình, nhưng không có gì đặc biệt), khả năng ghi nhớ thơ là rất kém, và tôi cũng chẳng biết Khổng Tử sống vào thời nào (dù tôi vẫn biết bộ chế hòa khí dùng để làm gì). Khi tôi từ Tallahassee trở về, có một e-mail của Ed đang chờ tôi trong hòm thư:
Chào anh học trò ngôi sao, tôi biết anh chẳng luyện tập gì hết trước khi mấy người Florida kia ép anh cố hết sức. Rất là hay đấy - thật ngưỡng mộ, ít nhất là nó có đóng góp vào tiến bộ khoa học. Nhưng giải vô địch không phải xa xôi vạn dặm gì đâu, nên anh phải bắt tay chuẩn bị ngay tức thì đi. Tốt hơn là nhận lấy mấy lời động viên của tôi: Cứ tập luyện hết mình đi và tận hưởng chuyện đó nhé.
Chương năm
Cung trí nhớ tôi thu xếp gặp lại Ed lần cuối trước khi anh ta quay về châu Âu. Anh ta muốn gặp tôi ở Central Park vì anh chưa được tới đây và cứ một mực bảo đây là điểm đến có tầm
quan trọng sống còn trong chuyến đi Mỹ của anh ta. Sau khi ngắm nghía những hàng cây trụi lá cuối đông và xem những người chạy bộ vòng quanh hồ, chúng tôi đi về phía nam công viên, đối diện Khách sạn Ritz-Carlton. Đó là một buổi chiều đông buốt giá với những cơn gió lạnh tê người - không phải là điều kiện lý tưởng cho hoạt động suy tư nào, chứ nói gì ghi nhớ. Song, Ed vẫn một mực muốn ở ngoài trời. Anh ta đưa tôi cây gậy rồi liều lĩnh trèo lên một tảng đá lớn gần ở rìa công viên, hẳn vụ này gây chút đau đớn cho những khớp xương bị viêm kinh niên của anh ta. Sau khi quan sát chân trời và nhận xét về “sự hùng vĩ tuyệt đỉnh” của nơi này, anh ta rủ tôi cùng lên mỏm đá. Anh ta hứa trong chưa đầy một tiếng đồng hồ sẽ dạy tôi được hẳn vài kỹ thuật ghi nhớ cơ bản. Thật khó tưởng tượng chúng tôi sẽ đương đầu được lâu hơn dưới thời tiết như vậy.
“Tôi phải cảnh báo trước,” Ed nói, khi đang khéo léo ngồi xếp bằng, “anh sẽ mau chóng chuyển từ niềm kính sợ những người có trí nhớ tốt sang bình phẩm rằng “Ồ, chỉ là một trò mèo vớ vẩn.” Đoạn, anh ta dừng lại và hếch mặt lên như để xem phản ứng của tôi có đúng thế chăng. “Và anh sẽ nhầm thôi. Đây là một giai đoạn đáng tiếc nhưng anh vẫn phải trải qua thôi.”
Anh ta bắt đầu bài giảng bằng nguyên tắc căn bản nhất của các chuyên gia trí nhớ: “mã hóa chi tiết.” Trí nhớ loài người sinh ra không phải để đáp ứng nhu cầu của thế giới hiện đại, anh ta giải thích. Cũng như thị giác, khả năng ngôn ngữ, khả năng đi thẳng, và mọi khả năng sinh học khác, trí nhớ của chúng ta tiến hóa qua quá trình chọn lọc tự nhiên trong một môi trường khác với môi trường sống ngày nay.
Cuộc tiến hóa biến bộ não nguyên thủy của người tiền sử thành bộ não với chức năng thần kinh, ngôn ngữ, biểu tượng để phục vụ chúng ta ngày nay (mà đôi khi phục vụ thật kém cỏi) phần lớn diễn ra ở kỷ Pleistocene, một giai đoạn bắt đầu 1,8 triệu năm trước và kết thúc cách đây mười nghìn năm. Trong giai đoạn đó - và ở vài nơi biệt lập trong thế giới ngày nay - loài người chúng ta kiếm sống bằng săn bắn-hái lượm, và nhu cầu của lối sống ấy đã gọt giũa nên trí óc chúng ta ngày nay.
Nếu tính háo đường và háo chất béo đã phục vụ chúng ta đắc lực trong một môi trường sống khan hiếm dinh dưỡng giờ đây không thích nghi tốt với một thế giới đầy rẫy những cửa hàng đồ ăn nhanh thì với trí nhớ cũng vậy, chúng không hoàn toàn thích nghi với kỷ nguyên thông tin hiện thời. Đơn giản là những việc mà chúng ta thường phải dụng đến trí nhớ ngày nay lại không ăn nhập gì với môi trường mà bộ não con người tiến hóa. Tổ tiên chúng ta không cần nhớ số điện thoại, hay những chỉ dẫn cặn kẽ từ ông chủ, hay như khóa học Lịch sử Mỹ ở trường trung học, hay (bởi họ sống theo từng nhóm nhỏ, cố định) tên của hàng tá người lạ tại một bữa tiệc cocktail.
Điều những người tiền sử và các tổ tiên họ người thực sự cần nhớ ấy là nơi tìm đồ ăn và tài nguyên, đường về nhà, và cây cỏ nào ăn được, cây cỏ nào độc. Hàng ngày họ lệ thuộc vào những kỹ năng ghi nhớ sống còn đó, và chí ít trí nhớ con người tiến hóa đến như ngày nay một phần cũng vì đáp ứng những nhu cầu đó.
Nguyên tắc nền tảng cho mọi kỹ thuật ghi nhớ là: bộ não có sự phân biệt mức độ ghi nhớ từng loại thông tin. Chúng ta có sức ghi nhớ tuyệt vời đối với hình ảnh (cứ nghĩ về bài kiểm tra nhận thức qua hai tấm hình mà xem), nhưng lại ghi nhớ rất kém đối với những dạng thông tin khác, như danh sách từ ngữ hay con số. Điểm cốt yếu của kỹ thuật ghi nhớ là làm điều mà S đã làm theo bản năng do chứng giác quan liên đới: Chuyển những ký ức mà bộ não chúng ta kém khả năng lưu giữ thành dạng ký ức phù hợp với hướng tiến hóa của bộ não con người.
“Điểm chung của hầu hết kỹ thuật ghi nhớ là biến bất kỳ thông tin tẻ nhạt nào được đưa vào bộ nhớ thành một thứ đầy màu sắc và thật hào hứng, khác hẳn với bất cứ gì anh thấy trước đây, khiến anh không thể nào quên được,” Ed vừa giải thích cho tôi, vừa hà hơi thổi vào hai nắm tay. “Đó gọi là mã hóa chi tiết. Một lát nữa, chúng ta sẽ thử với một danh sách các từ, đây chỉ là một trong số những bài tập thông thường để làm quen kỹ thuật này. Sau đó anh có thể chuyển sang luyện với những con số, lá bài, rồi đến những khái niệm phức tạp. Về cơ bản, khi học xong kỹ thuật này, anh có thể học thuộc bất cứ điều gì anh muốn, thực đấy.”
Ed kể trong một chuyến đi tới Vienna gần đây, hai ngày trước kỳ thi quan trọng nhất trong năm của Lukas, anh ta và Lukas đã đi tiệc tùng thâu đêm và chệnh choạng về nhà lúc bình minh lên. “Lukas ngủ đến trưa mới dậy, học thuộc mọi thứ cần cho kỳ thi trong chớp nhoáng thế thôi mà qua được đấy,” Ed nói. “Khi anh học hiệu quả đến mức đó, thì chuyện tới phút cuối mới phải sờ tới bài vở mà không cần áy náy cũng cám dỗ đấy. Với Lukas thì lần gắng sức đó chẳng qua như bài luyện tập tầm thường mà thôi.”
Ed vén mớ tóc xoăn ra sau tai rồi hỏi tôi muốn ghi nhớ cái gì trước. “Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách học gì đó hữu ích, như tên các vị pharaoh Ai Cập hoặc tên tổng thống Mỹ qua các nhiệm kỳ,” anh ta đề nghị. “Hoặc có lẽ một bài thơ thời kỳ Lãng mạn? Chúng ta có thể ghi nhớ các kỷ địa chất, nếu anh muốn.”
Tôi bật cười. “Mấy thứ đó nghe rất có ích đấy nhỉ.”
“Chúng ta có thể nhanh chóng thuộc làu các đội vô địch bóng bầu dục Mỹ trong thế kỷ qua, hoặc điểm số bình quân mỗi trận của các ngôi sao bóng rổ hàng đầu, nếu anh muốn.”
Cho đến lúc này, cảm giác tôi đối với Ed có thể cho là nằm chênh vênh giữa “kinh ngạc” và “hoài nghi”. Còn bây giờ, trước khi chúng tôi bắt đầu bài học trong tiết trời lạnh cắt da thế này, tôi cảm thấy cái phần “hoài nghi” ngày càng lấn lướt. “Anh biết - thực sự biết - tất cả những đội giành Cúp vô địch sao?”
“Không, tôi không biết. Tôi thích cricket hơn. Nhưng tôi rất vui chỉ cho anh cách ghi nhớ những đội đó. Vấn đề là: Bằng các kỹ thuật này, chúng ta có thể nhanh chóng ghi nhớ bất cứ điều gì. Xem nào, anh có hào hứng không?”
“Tôi cũng muốn lắm,” tôi thận trọng đáp,
“Được, tôi cho rằng tác dụng thực tiễn nhất, rõ ràng nhất của kỹ thuật này là giúp ta thuộc lòng danh sách việc cần làm. Anh có lên danh sách công việc nào đấy không?”
“Tôi có, ở nhà. Danh sách kiểu thế. Nhưng thi thoảng mới làm thôi.”
“Tôi hiểu. Tôi tôi thì luôn lập danh sách trong trí nhớ. Chúng ta sẽ sử dụng danh sách của tôi.”
Ed hỏi xin một tờ giấy, rồi viết lên mấy chữ. Anh ta đưa lại cho tôi, kèm theo nụ cười tinh quái. Đó là một danh mục mười lăm việc. “Chỉ là những việc tôi phải làm trước khi lên mạn Bắc thành phố dự tiệc do một người bạn tổ chức,” anh ta nói.
Tôi đọc to lên: Tỏi ngâm dấm. Pho mát sữa kem
Cá hồi (xông khói, nếu có thể)
Sáu chai rượu trắng Tất (3 đôi)
Ba cái vòng lắc hông (nhiều không nhỉ?) Ống lặn
Máy tạo khói
Gửi e-mail cho Sophia Bộ đồ sát người màu da.
Tìm phim của Paul Newman - Trên ấy có người quý tôi Xúc xích nai sừng tấm??
Loa và ghế xếp
Đai bảo hộ và dây thừng Phong vũ biểu.
“Danh sách trong trí nhớ của anh đây à?” tôi hỏi đầy ngờ vực.
“Từ trí nhớ tôi đấy. Và sẽ vào trí nhớ của anh,” Ed nói. “Danh sách này là thật chứ?” “Tôi không chắc có thể tìm tất cả những thứ đó không.
Ở New York có pho mát sữa kem không nhỉ?”
“Tôi thì nghĩ xúc xích nai sừng tấm và bộ đồ sát người màu da đáng bận tâm hơn đấy,” tôi bảo anh ta. “Mà không phải ngày mai anh về Anh rồi sao?”
“Đúng thế. Tôi đã chuẩn bị tâm lý chấp nhận rằng những thứ này không tuyệt đối cần thiết.” Anh ta nheo mắt. “Tuy nhiên, mục đích tập luyện là anh sẽ đưa danh sách này vào bộ nhớ.”
Ed bảo tôi rằng với việc học những kỹ thuật này anh ta sắp dạy, tôi sẽ dấn thân vào một “truyền thống tự hào của những chuyên gia trí nhớ.” Truyền thống tự hào đó bắt đầu, vào
thế kỷ thứ năm trước Công nguyên (ít ra theo truyền thuyết là như vậy), khi nhà thơ Simonides of Ceos đứng trước đống vụn nát của phòng tiệc bị sập ở Thessaly. Khi nhà thơ nhắm mắt và dựng lại trong trí tưởng tượng ông tòa nhà vụn nát ấy, ông nhận ra một điều phi thường: Ông nhớ vị trí ngồi của từng vị khách trong bữa tiệc tai ương kia. Dù ông không chủ ý ghi nhớ sự bày bố trong phòng, nó vẫn để một ấn tượng lâu dài trong trí nhớ ông. Từ quan sát đó, người ta cho rằng Simonides sáng tạo ra một kỹ thuật làm nền tảng của thuật ghi nhớ. Ông nhận ra rằng nếu không phải những vị khách ngồi quanh bàn tiệc, mà là đối tượng khác - ví như các nhà viết kịch Hy Lạp vĩ đại ngồi theo thứ tự ngày sinh - thì ông sẽ nhớ được đối tượng mới này. Hay nếu, thay vì những khách dự tiệc, ông thấy những lời trong một bài thơ của ông được sắp xếp quanh bàn thì sao? Hay những việc ông cần để hoàn thành ngày hôm đó thì sao? Chỉ cần sử dụng trí nhớ không gian trong quá trình ghi nhớ, thì bất cứ điều gì có thể hình dung ra, cũng đều có thể ghi dấu lên trí nhớ, và giữ theo đúng trật tự.
Để sử dụng kỹ thuật của Simonides, người ta chỉ cần chuyển điều khó nhớ, như một dãy số hay một cỗ bài hay một danh mục mua sắm hay bài thơ Thiên đường đã mất (John Milton, nhà thơ Anh thế kỷ 17), thành một chuỗi những hình ảnh lôi cuốn rồi sắp xếp chúng theo một không gian tưởng tượng, thế là bỗng nhiên những việc dễ quên trở thành dễ nhớ.
Hầu hết mọi chi tiết về phương pháp rèn luyện trí nhớ truyền thống - thực ra là gần như toàn bộ các mẹo ghi nhớ trong vốn liếng của các vận động viên trí óc - được mô tả lần đầu tiên trong một cuốn sách nhỏ dạy hùng biện, tác giả khuyết danh, có tựa Rhetorica ad Herennium, viết bằng tiếng Latin vào khoảng năm 86 và 82 trước Công nguyên. Đây là cuốn sách duy nhất bàn đến một cách thực sự toàn diện về những kỹ thuật ghi nhớ do Simonides sáng tạo ra và còn truyền lại được đến thời Trung cổ. Dù trong hai ngàn năm qua thuật ghi nhớ đã có nhiều đổi mới, nhưng những kỹ thuật căn bản vẫn hầu như không thay đổi so với các kỹ thuật được tả trong Ad Herennium. “Cuốn sách này là Kinh thánh của chúng ta,” Ed bảo tôi.
Ed đọc được tiếng Latin và tiếng Hy Lạp cổ (cũng như nói thạo tiếng Pháp và tiếng Đức) và tự coi mình là một nhà nghiên cứu ngôn ngữ cổ điển không chuyên. Ad Herennium là một trong các thư tịch cổ đầu tiên anh ta nhồi cho tôi. Trước khi tôi sờ đến số sản phẩm đồ sộ của Tony Buzan (ông ta là tác giả hay đồng tác giả của hơn 120 cuốn sách về việc sử dụng trí óc) hay bất cứ sách tự học nào do của những vận động viên trí óc hàng đầu viết ra, anh ta muốn tôi bắt đầu công cuộc tìm hiểu với những cuốn sách kinh điển. Ngoài Ad Herennium, tôi còn phải đọc các những phần trích đoạn đã chuyển ngữ của các cuốn Institutio Oratoria của Quintilian và De Oratore của Cicero, sau đó là một tập hợp các tác phẩm viết về trí nhớ của các tác giả Thomas Aquinas, Albertus Magnus, Hugh of St. Victor, và Peter of Ravenna.
Những kỹ thuật trong cuốn Ad Herennium được thực hành rộng rãi vào thời cổ đại. Quả thật, trong những bài về thuật ghi nhớ, Cicero bảo những kỹ thuật đó nổi tiếng đến mức ông cảm thấy không cần tốn thêm giấy mực tả lại chi tiết (cũng vì vậy mà chúng ta tin vào Ad Herennium). Ngày xưa, tất cả những ai biết biết đọc đều thuần thục những kỹ thuật mà Ed sắp dạy cho tôi. Rèn luyện trí nhớ được coi là trung tâm của giáo dục ngôn ngữ, bên cạnh ngữ pháp, lý luận, và hùng biện. Học sinh không chỉ được dạy phải ghi nhớ điều gì, mà còn cả cách ghi nhớ như thế nào.
Trong một thế giới sách vở ít ỏi, trí nhớ là một điều thiêng liêng. Hãy xem cuốn Lịch sử tự nhiên của Pliny Elder, bách khoa toàn thư thế kỷ thứ nhất, ghi chép mọi điều kỳ thú và hữu ích để thắng cho các trò đố vui trong các quán rượu thời cổ đại, có nhắc đến những trí nhớ nổi tiếng lịch sử thời ấy. “Vua Cyrus có thể nhớ tên mọi binh lính trong quân đội,”
Pliny viết. “Lucious Scipio biết hết tên của toàn bộ thần dân La Mã. Sứ giả Cineas của vua Pyrrhus biết các thành viên Viện nguyên lão và các hiệp sĩ La Mã chỉ sau một ngày ông ta đến đây... Ở Hy Lạp một người tên Charmadas, khi được đề nghị, có thể thuật lại nội dung của bất kỳ cuốn sách nào trong thư viện, như thể anh ta đang đọc chúng.” Vì nhiều lý do nên không phải mọi thứ Pliny viết ra đều tin được (ông ta còn bảo ở Ấn Độ tồn tại một loài sinh vật mình người đầu chó[9]) nhưng cái phần nhỏ những giai thoại về trí nhớ phi thường ở thế giới cổ đại lại có tính thuyết phục. Seneca the Elder có thể nhắc lại hai ngàn cái tên theo thứ tự mà người ta đưa cho ông. St. Augustine kể về người bạn Simplicius, người có thể đọc thuộc bài trường ca của Virgil - theo chiều ngược. (Rằng việc ông ta có thể đọc xuôi chiều chẳng có gì là đặc biệt). Một trí nhớ tốt được xem là một phẩm chất vĩ đại, bởi nó đại diện cho sự nội hóa thế giới tri thức bên ngoài. “Người cổ đại và trung cổ đặc biệt trân trọng trí nhớ. Những thiên tài vĩ đại nhất là những người có trí nhớ siêu phàm,” lời của Mary Carruthers, tác giả hai cuốn sách về lịch sử những kỹ thuật ghi nhớ. Quả thật, điểm chung duy nhất thường thấy trong đời sống của các vị thánh - bên cạnh tài năng phi thường của họ - là họ thường có trí nhớ siêu việt.
Phần bàn về trí nhớ trong Ad Herennium - “kho báu của những sáng tạo và là nơi trông giữ toàn bộ thuật hùng biện” - thực ra khá ngắn, chừng mười trang, thuộc một luận thuyết khá dài về thuật hùng biện và diễn thuyết. Nó mở đầu bằng việc phân biệt giữa trí nhớ tự nhiên và trí nhớ nhân tạo: “Trí nhớ tự nhiên là trí nhớ gắn liền với tâm trí, hình thành đồng thời với suy nghĩ. Trí nhớ nhân tạo là trí nhớ được củng cố qua rèn luyện và hệ thống nguyên tắc.”
Nói cách khác, trí nhớ tự nhiên là phần cứng khi sinh ra bạn đã có. Trí nhớ nhân tạo là phần mềm bạn chạy trên phần cứng đó.
Trí nhớ nhân tạo có hai phần cơ bản: hình ảnh và nơi chốn. Hình ảnh thể hiện nội dung chúng ta muốn nhớ. Nơi chốn - loci, như người ta gọi trong tiếng Latin - là nơi những hình ảnh đó được lưu giữ.
Ý tưởng tạo ra một không gian trong tâm trí, một nơi bạn biết rõ và có thể hình dung dễ dàng, rồi gắn nơi chốn tưởng tượng đó với những hình ảnh đại diện cho điều bạn muốn ghi nhớ được người La Mã gọi là “phương pháp loci”, sau này người ta gọi nó là “cung trí nhớ.”
Cung trí nhớ không nhất thiết phải là lâu đài cung điện - hay nhà cửa. Chúng có thể là những con đường xuyên qua thành phố - như trường hợp với S - hay những sân ga dọc theo một tuyến đường tàu, hay những cung hoàng đạo, hay thậm chí những nhân vật thần thoại. Chúng có thể lớn hay nhỏ, trong nhà hay ngoài trời, có thực hay tưởng tượng, miễn là có sự tương đồng về thứ tự để liên hệ một vị trí với vị trí tiếp theo, và miễn là chúng thân thuộc. Scott Hagwood, người bốn lần vô địch trí nhớ Mỹ, đã sử dụng những dinh thự hào nhoáng trong tạp chí Kiến trúc (Architectural Digest) để lưu giữ trí nhớ. Tiến sĩ Yip Swee Chooi, một con người cuồng nhiệt, nhà vô địch trí nhớ Malaysia, dùng cơ thể của ông làm cung trí nhớ để ghi nhớ toàn bộ 56.000 từ, 1.774 trang của cuốn từ điển Oxford Trung-Anh. Một người có thể có hàng tá, hàng trăm, hay thậm chí hàng nghìn cung trí nhớ, mỗi cung được tạo ra để lưu giữ từng bộ ký ức khác nhau.
Người bản địa châu Úc và người da đỏ Apache ở tây nam nước Mỹ, đã độc lập sáng tạo ra các hình thức của phương pháp loci. Nhưng thay vì sử dụng những ngôi nhà, họ dựa trên địa thế nơi mình ở để kể những câu chuyện, và họ ca những câu chuyện kể đó trên khắp vùng đất quê hương. Mỗi mảnh đồi, mỗi tảng đá hay dòng nước đều nằm trong một phần
câu chuyện. “Truyền thuyết và bản đồ trở nên đồng nhất,” theo lời John Foley, một nhà nhân loại học ngôn ngữ ở Đại học Missouri, ông nghiên cứu ký ức và những truyền thống được truyền miệng. Một trong những hệ lụy bi thảm của việc gắn những câu chuyện kể vào khung cảnh tự nhiên, đó là khi chính quyền Mỹ chiếm đất của người Mỹ bản địa, người bản địa không chỉ mất đi quê nhà mà còn mất luôn những thần thoại.
“Josh ạ, cái cần hiểu ở đây là con người làm quen với không gian rất giỏi,” Ed nhận xét khi đang ở trên tảng đá. “Ví dụ nhé, nếu anh bị bỏ lại một mình, trong năm phút, tại nhà một người mà anh chưa bao giờ đến, anh cảm thấy táy máy và muốn sục sạo, cứ nghĩ xem trong một thời gian ngắn ngủi như vậy, bao nhiêu thứ của căn nhà sẽ gắn vào trí nhớ của anh. Anh không những biết các phòng ở đâu, nối với nhau thế nào, mà còn rõ kích thước và trang trí của chúng, sắp xếp đồ đạc trong phòng, và nơi đặt cửa sổ. Anh không nhận ra rằng, anh sẽ nhớ được hàng trăm đồ vật với đủ mọi kích cỡ mà anh thậm chí không nhận ra là mình nhận ra. Nếu anh tổng hợp tất cả những thông tin đó, nó tương đương với một tiểu thuyết ngắn. Nhưng chúng ta còn không xem đó thành quả trí nhớ. Con người nuốt ngấu nghiến mọi thông tin về không gian.”
“Nguyên tắc của cung trí nhớ,” anh ta nói tiếp, ấy là sử dụng trí nhớ không gian nhạy bén để cấu trúc và lưu giữ thông tin với trật tự kém tự nhiên hơn - trong trường hợp này, là danh sách những việc cần làm của Ed. “Anh sẽ nhận ra rằng theo cách này ta không thể nào nhầm lẫn trật tự các phòng trong căn nhà đó, nó sẽ rõ ràng như thể ngay sau khi tôi tìm được vị trí của ba cái vòng, cái ống thở, và máy tạo khói, thì việc tiếp theo sẽ là gửi email cho Sophia.”
Điều cốt yếu là chọn một cung trí nhớ mà tôi thấy quen thuộc. “Với cung trí nhớ đầu tiên, tôi muốn anh dùng ngôi nhà anh lớn lên, vì đó là một không gian anh biết rõ,” Ed nói. “Chúng ta sẽ rải những việc trên danh sách này theo một con đường vòng vèo quanh ngôi nhà tuổi thơ của anh. Khi muốn nhớ lại danh sách, anh chỉ cần lần theo những bước mà chúng ta sắp đưa vào trí tưởng tượng của anh. Hy vọng là mọi vật anh sắp nhớ sẽ nhảy vào trí óc. Bây giờ nhé, có phải ngôi nhà thời thơ ấu của anh là nhà gỗ một tầng không?”
“Là nhà gạch hai tầng,” tôi nói.
“Nó có hộp thư xinh xắn ở cuối lối vào không?” “Không. Tại sao?”
“Chán thật. Đó sẽ là vị trí tuyệt vời ban đầu để đặt hình ảnh đồ vật trước tiên trên danh sách. Nhưng không sao. Chúng ta có thể khởi đầu ở lối vào. Tôi muốn anh nhắm mắt và cố hình dung càng nhiều chi tiết càng tốt, một lọ lớn tỏi ngâm dấm đặt ngay nơi chiếc xe đỗ.”
Tôi hoàn toàn không dám chắc điều mình phải hình dung. “Tỏi ngâm là cái gì thế? Một món đặc sản của người Anh à?” tôi hỏi.
“Ồ, không, nó chỉ là một loại đồ ăn người ta thường mang theo khi đi chơi miền núi vào dịp cuối tuần thôi.” Anh ta lại nhếch miệng cười tinh quái. “Bây giờ, điều rất quan trọng là phải nhớ hình ảnh này bằng nhiều giác quan.” Một mẩu thông tin mới có càng nhiều mối liên kết níu giữ, thì nó càng bám chặt vào mạng lưới những sự vật anh đã biết, và nó càng dễ lưu lại trong trí nhớ. Giống như hành động tự phát và vô thức của S chuyển những âm thanh đi qua tai anh ta thành một hợp tuyển màu sắc và mùi vị, tác giả của Ad Herennium đã kêu gọi độc giả làm điều tương tự với từng hình ảnh họ muốn ghi nhớ.
“Quan trọng là anh xử lý rốt ráo hình ảnh đó, và anh chú ý đến nó nhiều nhất có thể được,” Ed tiếp tục. “Những sự vật khiến ta chú ý thì dễ nhớ hơn, và sự chú ý không phải là điều anh dùng ý chỉ mà có ngay được. Nó thu hút bởi các chi tiết. Khi đặt vào trong tâm trí một hình ảnh sống động, nhiều chi tiết và hấp dẫn, thì chắc hẳn, dù ít dù nhiều, bộ não anh sẽ lưu giữ một ký ức bền vững và đáng tin. Nên cứ cố mà nhớ cái mùi dễ chịu của tỏi ngâm dấm, và cường điệu hóa nó lên. Tưởng tượng như đang nếm nó. Thực sự để cho hương vị nó vương vấn trên lưỡi anh. Và phải chắc là anh thấy mình đang làm như vậy ở cuối lối vào.” Tôi không biết tỏi ngâm là gì, càng không chắc vị nó thế nào. Dù vậy, tôi cứ tưởng tượng một cái lọ rất to đựng tỏi đang đứng hiên ngang ở cuối lối đi vào nhà cha mẹ tôi.
(Tôi khuyến khích các độc giả hãy làm như vậy cùng tôi. Cố tưởng tượng một lọ tỏi ngâm đặt ở cuối lối vào nhà bạn, hay nếu nhà bạn không có lối đi vào, thì chọn một nơi nào đó ở bên ngoài nhà bạn. Hãy cố hình dung nó.)
“Anh đã đặt xong tấm hình đa giác quan về tỏi ngâm dấm, giờ chúng ta sẽ bước vào nhà anh và hình dung vật tiếp theo trên danh sách rồi đặt nơi cửa trước. Nó là pho mát sữa kem. Tôi muốn anh nhắm mắt lại và tưởng tượng đang nhìn thấy một hộp pho mát sữa kem khổng lồ, to bằng cái hồ bơi. Hình dung ra chưa nào?”
“Tôi nghĩ là rồi.” (Bạn thì sao?)
“Giờ tôi muốn anh tưởng tượng Claudia Schiffer đang bơi trong cái hồ pho mát này. Tôi
muốn anh tưởng tượng cô ta đang bơi trần truồng, người dính đầy kem sữa. Anh có hình dung được không? Tôi không muốn anh bỏ qua bất kỳ chi tiết nào ở đây.”
Từ xưa, cuốn Ad Herennium khuyên bạn đọc hãy tạo ra những hình ảnh đưa vào cung trí nhớ: càng buồn cười, dâm dục, và càng kỳ lạ càng tốt. “Trong đời thường, khi chúng ta thấy những thứ đèm đẹp, tầm thường và vô vị, chúng ta thường không nhớ ra chúng, vì không có bất kỳ điều gì mới mẻ hay phi thường khuấy động tâm trí cả. Nhưng nếu chúng ta thấy hay nghe gì đó khác thường, đáng hổ thẹn, phi thường, vĩ đại, không thể tin nổi, hay buồn cười quá đỗi, thì chúng ta có thể nhớ lâu hơn.”
Hình ảnh càng sinh động, thì nó càng dễ đọng lại. Tôi nhận ra, điểm khác biệt của một chuyên gia trí nhớ vĩ đại ấy là khả năng tạo ra những hình ảnh sinh động, gây ấn tượng, vẽ lên tâm trí cảnh tượng khác lạ đến nỗi không thể nào quên được. Và hãy làm thật nhanh. Đó là lý do những ai trò chuyện với Tony Buzan đều nghe ông ta bảo rằng Giải Vô địch thế giới trí nhớ giống một cuộc thi sáng tạo hơn là cuộc thi trí nhớ.
Đầu óc tục tĩu lại là một lợi thế khi tạo những hình ảnh. Sự tiến hóa đã lập trình bộ não chúng ta phải tìm ra hai điều đặc biệt thú vị, và vì vậy dễ nhớ: truyện cười và tình dục - đặc biệt là truyện cười về tình dục. (Bạn có nhớ Rhea Perlman và Manute Bol làm gì ở trang đầu cuốn sách này không?) Ngay cả những cuốn sách về trí nhớ được viết vào những thời kỳ tương đối khắt khe (về tình dục) cũng nhận định như vậy. Peter of Ravenna, tác giả của cuốn sách nổi tiếng nhất về trí nhớ vào thế kỷ mười lăm, ngay từ đầu đã mong được những bậc tao nhã và các tín đồ lượng thứ trước khi ông tiết lộ “một bí quyết mà từ lâu tôi vẫn giữ trong lòng (qua sự e dè): nếu bạn muốn nhớ cho nhanh, thì hãy đưa vào cung trí nhớ hình ảnh những cô gái đồng trinh đẹp nhất; trí nhớ bị những hình ảnh về phụ nữ gây kích thích một cách lạ kỳ.”
Tuy nhiên, tôi lại thấy khó mà phấn khích với hình ảnh Claudia Schiffer trong hộp pho mát sữa kem. Mũi và tai tôi nhức nhối vì cơn gió buốt. “Ed này, chúng ta tìm chỗ đâu đó trong nhà để học tiếp được không?” tôi đề nghị. “Hẳn quanh đây có nhiều quán Starbucks đấy.”
“Không không. Trời lạnh lại tốt cho bộ não,” anh ta nói. “Giờ chú ý nhé. Chúng ta vừa đi qua cửa nhà anh. Tôi muốn anh hình dung trong đầu là đang rẽ trái. Căn phòng anh sắp đi vào là phòng nào?” anh ta hỏi.
“Phòng khách. Có cái đàn piano ở đó.”
“Tuyệt lắm. Đồ vật thứ ba, cá hồi xông khói. Cứ tưởng tượng dưới những dây đàn, có một đống than bùn đang tỏa khói. Và đặt trên những dây đàn kia là một con cá hồi Hebridean. Ôi... anh có ngửi thấy không?” Anh ta phì hơi giữa trời lạnh.
Lần này, tôi không dám chắc cá hồi xông khói là cái gì, nhưng nghe có vẻ như món lox[10], nên tôi hình dung ra như vậy. “Mùi tuyệt lắm,” tôi nói, mắt vẫn nhắm.
(Nếu nhà bạn không có đàn piano, cứ đặt món cá hồi xông khói nơi nào đó bên trái cửa chính.)
Món đồ tiếp theo trên danh sách là sáu chai rượu trắng, tôi quyết định đặt trên cái trường kỷ trắng lốm đốm vết bẩn, gần đàn piano.
“Giờ, sẽ rất hay nếu nhân cách hóa những chai rượu này,” Ed đề nghị. “Những hình ảnh linh động thường dễ nhớ hơn những hình ảnh bất động.” Lời khuyên đó cũng từ cuốn sách Ad Herennium mà ra. Tác giả chỉ dẫn người đọc nên tạo những hình ảnh “đẹp lạ thường và xấu dị thường,” để chúng chuyển động, và tô điểm chúng sao cho nổi bật hơn. Người ta có thể “biến đổi nó, bằng cách vấy máu, trát bùn hay phết sơn đỏ,” hay bằng cách khác là “tạo các hiệu ứng khôi hài lên những hình ảnh đó.”
“Có lẽ anh nên tưởng tượng những chai rượu đang bàn cãi chất lượng của chúng,” Ed đề nghị.
“Giống như ông Merlot đang nói -”
“Merlot không phải là rượu trắng, Josh,” anh ta ngắt lời, cười bối rối. “Mà là, hãy tưởng tượng rượu chardonnay đang ca thán về chất lượng đất của vùng làm rượu sauvignon blanc, còn kế đó rượu gewurztraminer đang khúc khích cười nhạo rượu rieslings... Đại khái như vậy.”[11]
Tôi nghĩ rằng đó là một hình ảnh buồn cười, và chắc nó sẽ dính vào trí óc tôi. Nhưng tại sao vậy? Điều gì khiến sáu chai rượu được nhân hóa, với vẻ kênh kiệu lại trở nên dễ nhớ hơn những từ “sáu chai rượu”? Vâng, chỉ vì một lý do thôi, hình dung ra hình ảnh kỳ dị như vậy gây ra nhiều thích thú cho đầu óc hơn là chỉ đọc những chữ kia. Trong quá trình thực hiện nỗ lực trí óc đó, tôi đang hình thành những mối liên hệ bền vững giữa những tế bào thần kinh sẽ mã hóa ký ức kia. Nhưng quan trọng hơn, tôi nhớ những chai rượu nói năng kia vì nó mới lạ. Trong đời mình, tôi đã thấy rất nhiều chai rượu, nhưng chưa bao giờ tôi thấy chai rượu nào biết nói cả. Nếu tôi định cố nhớ những từ “sáu chai rượu”, ký ức đó sẽ nhanh chóng trộn lẫn với mọi ký ức khác về những chai rượu.
Hãy xem xét: Bạn có thể nhớ tuần vừa rồi ăn bữa trưa mấy lần không? Bạn có nhớ mình ăn gì hôm nay không? Tôi hy vọng có. Ngày hôm qua? Tôi cá là mất một lúc đấy. Còn ngày hôm kia thì sao? Còn tuần trước thì sao? Không hẳn là trí nhớ về bữa ăn trưa tuần trước đã biết mất; nếu được cung cấp gợi ý phù hợp, như bạn ăn ở đâu, hay ăn với ai, bạn có thể nhớ có món ăn gì trên đĩa. Lý do bạn khó có thể nhớ bữa ăn tuần trước, là bởi bộ não của bạn đã lưu giữ lẫn bữa ăn trưa đó với mọi bữa ăn trưa khác, coi đó chỉ là một bữa ăn trưa. Các ký ức về “ăn trưa” hay “rượu” có quá nhiều, và khi cố hồi tưởng lại một trong những ký ức đó, chúng sẽ cạnh tranh nhau để thu hút sự chú ý của chúng ta. Ký ức về bữa ăn trưa thứ tư tuần trước không hẳn đã mất; chỉ là bạn thiếu đầu mối để lôi nói ra khỏi một biển ký ức những bữa ăn trưa. Nhưng một chai rượu biết nói: Thật đặc biệt. Đó là thứ ký ức không đối thủ cạnh tranh.
“Tiếp theo trên danh sách là ba đôi tất,” Ed tiếp tục. “Có lẽ nên treo trên một cây đèn gần đó?”
“Vâng, có một cái đèn gần ghế,” tôi nói.
(Nếu bạn vẫn cùng tưởng tượng, bạn nên đặt những chai rượu và ba đôi tất đâu đó trong phòng đầu tiên ở nhà bạn.)
“Tuyệt lắm. Bây giờ, tôi biết chính xác hai cách để làm những chiếc tất gây được chú ý. Thứ nhất là chúng bốc mùi kinh khủng. Cách kia là biến chúng thành những đôi tất lạ thường, với chất liệu cotton, màu sắc tinh tế mà anh chưa bao giờ thấy. Thử theo cách sau đi. Tôi muốn anh treo chúng lủng lẳng trên đèn. Và vì những chuyện kỳ quái vớ vẩn lại rất có hiệu quả, nên anh hãy tưởng tượng rằng trong những chiếc tất kia có những hồn ma thanh lịch đang ngồi co kéo chúng. Thực sự hãy cố nhìn nó. Tưởng tượng cái cảm giác những chiếc tất cotton mềm mát rượi đang cọ vào trán anh.”
Theo gợi ý của Ed tôi đã đi vòng quanh ngôi nhà tuổi thơ của mình, và trong chuyến rong chơi tưởng tượng từ hết phòng này sang phòng nọ ấy, tôi thả những tấm hình dọc theo đường đi. Trong phòng ăn, tôi hình dung ba phụ nữ đang đứng trên bàn và lắc vòng. Bước xuống bếp, tôi thấy một người đàn ông mang ống thở lặn xuống chậu rửa, và một chiếc máy tạo khói đang phun khói trên bàn. (Các bạn có theo kịp không?) Từ đây, tôi đi vào phòng làm việc. Việc làm tiếp theo trên danh sách là “gửi e-mail cho Sophia.”
Tôi mở mắt ra kêu Ed giúp đỡ, và trông thấy anh ta đang liếm mép giấy để cuốn thuốc. “Gửi e-mail cho Sophia sẽ trông như thế nào nhỉ?” tôi hỏi.
“Ồ, cái này khó đấy,” anh ta nói, bỏ điếu thuốc xuống. “Anh biết đấy, bản thân e-mail không phải là từ dễ nhớ. Từ càng trừu tượng, càng khó nhớ. Chúng ta cần làm cho e-mail cụ thể hơn.” Ed dừng lại và suy nghĩ một lát. “Tôi đề nghị anh hãy tưởng tượng một người lưỡng tính[12] đang gửi e-mail. Anh có thể tưởng tượng ra không? Và anh sẽ liên hệ người lưỡng tính đó với Sophia. Hình ảnh đầu tiên hiện ra trong đầu anh khi tôi nói từ ‘Sophia’ là gì nào?”
“Là thủ đô Bulgary,” tôi nói.
“Anh đúng là kẻ có học, Josh. Hoan hô, nhưng vậy không dễ nhớ. Hãy nghĩ đến Sophia Loren. Và để bà ấy ngồi vào lòng người lưỡng tính kia, khi cô/anh ta đang gõ bàn phím. Anh hình dung ra chưa? Anh thấy hình ảnh này đã đủ gắn kết chưa? Tuyệt cú mèo.”
Tốc độ tạo hình ảnh bây giờ tăng lên. Tôi rời phòng làm việc và hình dung một phụ nữ trong bộ độ liền thân màu da nơi hành lang. Tôi đặt Paul Newman trong hốc tường gần đó, và một con nai sừng tấm trên đầu cầu thang xuống tầng hầm. Tôi bước xuống cầu thang và vào nhà để xe, ở đây tôi bỏ một tấm hình Ed đang ngồi trên ghế xếp đang quát tháo ầm ỹ qua một cái loa khổng lồ. Rồi tôi tưởng tượng mình đang nhấn nút điều khiển nâng cửa nhà để xe lên, và bước ra sân sau, ở đây một người leo cây trong bộ đai bảo hộ đang dùng thừng leo xuống một cây sồi lớn. Và hình ảnh cuối cùng, một máy đo khí áp, được đặt cạnh hàng rào sân sau. “Nên nhớ rằng vì đó là một máy đo khí áp, anh nên tưởng tượng một cái cột giống như máy đo nhiệt kế đang đặt trên giường đầy những đồ ăn vặt như da heo rán giòn và các loại đồ nhắm rượu khác,” Ed gợi ý rất hữu ích. Sau khi hoàn thành một vòng quanh nhà, tôi mở mắt ra.
“Làm tốt lắm,” Ed nói, với một tràng pháo tay chậm rãi và có chủ ý. “Bây giờ, tôi nghĩ anh sẽ nhận ra rằng quá trình hồi tưởng lại những ký ức này tự nhiên đến kinh ngạc. Thông thường, những ký ức được lưu giữ ít nhiều ngẫu nhiên trong mạng lưới trí nhớ ngữ nghĩa, hay mạng lưới liên kết. Nhưng giờ đây anh lưu giữ một lượng lớn ký ức trong những bối cảnh anh biết rõ. Do cách hoạt động của nhận thức không gian, anh chỉ cần lần bước qua cung trí nhớ, và hy vọng rằng những hình ảnh anh đã đặt xuống tại mỗi điểm sẽ nhảy ra trong đầu khi anh đi qua chúng. Rồi anh chỉ cần diễn giải chúng thành những thứ anh đang cố học thuộc lúc ban đầu.”
Tôi lại nhắm mắt và thấy mình ở cuối lối vào nhà cha mẹ tôi. Cái lọ to đùng đựng tỏi ngâm dấm nằm ngay nơi tôi đã bỏ nó lại. Tôi đến cửa chính. Đây rồi, cảnh hấp dẫn Claudia Schiffer ngồi trong hộp pho mát bơ kem, đang dùng miếng bọt lau người. Tôi mở cửa rồi rẽ trái, và sặc vào mũi mùi con cá vẫn nằm trên những sợi dây đàn dương cầm, đang xông khói. Tôi còn cảm thấy mùi vị trên lưỡi mình. Tôi có thể nghe tiếng chuyện trò the thé của những chai rượu kênh kiệu trên trường kỷ, và cảm thấy ba đôi tất chất liệu cotton xa xỉ treo trên đèn đang cọ nhẹ lên trán tôi. Tôi không thể tin nó thực sự hiệu quả. Tôi gọi tên năm việc trên danh sách để Ed xác nhận. “Tỏi ngâm dấm! Pho mát bơ kem! Cá hồi xông khói! Sáu chai rượu! Ba đôi tất!”
“Tuyệt vời! Ed hét lên trong gió lạnh. “Tuyệt vời! Có tố chất vào KL7 đấy!”
Vâng, tôi biết thành tích của mình không tuyệt vời đến như vậy, nếu so với những màn trình diễn ấn tượng hơn rất nhiều mà tôi chứng kiến ngày hôm trước. Dẫu vậy, tôi cảm thấy khá hài lòng với những gì mình làm được. Tôi tiếp tục đi quanh nhà, nhặt lên từng mảnh vụn những hình ảnh lạ kỳ tôi đã bỏ lại lúc trước. “Ba cái vòng trên bàn phòng ăn! Ống thở trong chậu rửa! Máy tạo khói trên bàn!” Tôi ngạc nhiên vui sướng, mười lăm hình ảnh vẫn nằm ngay tại nơi tôi bỏ chúng lại. Nhưng những ký ức đó thực sự bám vững không, tôi tự hỏi? Một tuần sau, liệu tôi còn nhớ danh sách này của Ed không?
“Trừ phi có một cuộc chè chén say sưa hoặc một cú giáng mạnh vào đầu, còn không thì anh sẽ thấy rằng những hình ảnh đó sẽ lưu lại lâu hơn anh tưởng đấy,” Ed hứa với tôi. “Và nếu anh thăm lại hành trình qua cung trí nhớ này vào tối nay, vào chiều hôm sau, và có lẽ một tuần nữa, danh sách này vẫn để lại ấn tượng thực sự lâu dài. Và giờ anh đã ghi nhớ mười lăm từ này, chúng ta có thể dễ dàng làm với một ngàn năm trăm từ, với điều kiện anh có một cung ký ức rộng lớn hơn để lưu giữ chúng. Và sau khi đã làm chủ phương pháp nhớ những từ ngẫu nhiên, chúng ta có thể chuyển sang thứ thú vị hơn, như những quân bài và tác phẩm Hiện hữu và thời gian (Being and Time) của Heidegger.”
Chương sáu
Làm thế nào nhớ một bài thơ
Nhiệm vụ trước mắt của tôi là sưu tầm những công trình kiến trúc. Trước khi bắt tay vào công cuộc rèn luyện trí nhớ một cách nghiêm túc, tôi cần thủ sẵn một kho những cung trí nhớ để khi cần là dùng đến. Tôi dạo bộ quanh nơi mình sống. Tôi thăm nhà bạn bè, đến sân chơi, sân bóng chày Oriole Park tại Camden Yards vùng Baltimore, Tòa East Wing của Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia. Và tôi quay ngược về quá khứ: đến trường trung học, trường cơ sở, ngôi nhà trên phố Reno nơi gia đình tôi sống tới năm tôi lên bốn. Tôi chú ý đến giấy dán tường và sự bài trí đồ đạc. Tôi cố cảm nhận sàn nhà dưới chân. Tôi ôn lại những biến cố gợi nhiều cảm xúc xảy ra trong mỗi căn phòng. Rồi tôi cố nhớ thật kỹ chúng để làm không gian chứa ký ức sau này. Như Ed giải thích, mục đích việc này là để thật rành rẽ các tòa nhà này, từ đó hình thành được những mối liên tưởng phong phú đa dạng tới từng ngóc ngách mỗi căn phòng, như vậy khi tiếp nhận những thông tin mới, tôi có thể lướt qua những cung trí nhớ, rải các hình ảnh ngay khi đi dọc con đường trong cung tưởng tượng đó. Càng biết nhiều những tòa nhà, càng cảm thấy chúng thân thuộc bao nhiêu, thì những hình ảnh sẽ bám dính bấy nhiêu, và sau này muốn lấy lại những hình ảnh đó cũng sẽ dễ dàng hơn. Để bắt đầu cuộc rèn luyện, Ed dự tính tôi cần một tá cung trí
nhớ. Bản thân anh ta có đến vài trăm, cả một đô thị trong tưởng tượng.
Đến lúc này, để khai báo cho đầy đủ, tôi nên nói đôi lời về cuộc sống của mình vào thời điểm tôi bắt đầu dây dưa với trò rèn luyện trí nhớ này. Tôi mới tốt nghiệp đại học, đang cố trở thành một nhà báo, và vẫn phải đang sống bám bố mẹ ở Washington, D.C., nơi tôi đã lớn lên. Tôi vẫn ngủ trong phòng đã ngủ hồi còn nhỏ, trên cửa sổ treo đôi cờ hiệu của đội Baltimore Orioles, và một tập thơ Shel Silverstein trên giá sách, và làm việc trong văn phòng tạm bợ dưới tầng hầm, với cái bàn đặt giữa chiếc xe Nordic Track của cha tôi và một chồng hộp đựng những bức ảnh cũ gia đình.
Văn phòng của tôi ngổn ngang giấy nhắc việc Post-it, một danh sách dài những việc cần theo dõi: trả lời những cuộc điện thoại, những ý tưởng viết bài cần nghiên cứu, những việc lặt vặt cần hoàn thành. Thành công ở Central Park đã cho tôi niềm tự tin, tôi giật xuống tờ giấy ghi những việc khẩn thiết nhất, chuyển chúng thành hình ảnh, và cặm cụi đưa vào một cung trí nhớ tôi đã xây dựng từ căn nhà ngoại ô của bà tôi. “Đi kiểm tra xe” trở thành hình Thanh tra Gadget đang quay đầu chiếc Buick trên lối vào nhà bà. “Tìm một cuốn sách về những ông vua châu Phi” là cơ hội để tưởng tượng lãnh tụ Shaka Zulu đang khua giáo nơi cửa chính nhà bà tôi. “Đặt vé trận Phoenix” khiến tôi biến phòng khách của bà thành quang cảnh sa mạc và những vực sâu, và hình dung một con chim phượng hoàng bay lên từ tàn tích chiếc kệ cổ của bà. Cách này thật hay, thậm chí khá buồn cười, mà cũng mất sức. Khi ghi nhớ được chừng mười việc trên giấy nhắc, tôi cảm thấy cơ thể mệt mỏi, hai mắt như đang đỏ ngầu lên. Công việc này khó nhọc chứ chẳng bở, và kém hiệu quả hơn nhiều so với tôi tưởng. Trên tường còn ghi vài đầu việc mà tôi không biết nên liên hệ với hình ảnh gì. Làm sao tôi có thể chuyển những số điện thoại thành hình ảnh? Tôi phải làm thế nào với những địa chỉ e-mail đây? Tôi ngồi phệt xuống ghế trong phòng, mấy tờ giấy nhắc còn dính vào lòng bàn tay, rồi tôi lại nhìn lên tường, màu sơn trắng lờ nhờ hiện ra lốm đốm ở những chỗ giấy bị bóc đi, tất cả những chuyện này thật ra là gì nhỉ. Thực sự, từ trước đến nay những giấy nhắc dính trên tường ấy vẫn hữu dụng. Chắc chắn thuật ghi nhớ phải có những ứng dụng giá trị hơn.
Tôi đứng dậy, với trên giá sách cuốn Norton Hợp tuyển Thơ Hiện đại. Cuốn sách như cục
gạch, dày 1.800 trang, tôi mua ở một hiệu sách cũ đã lâu lắm rồi, và mới giở duy nhất một lần. Tôi mường tượng, nếu thuật ghi nhớ hữu ích cho công việc nào, thì hẳn ấy là việc học thuộc thơ ca. Tôi biết Simonides không trở thành người hùng trong thế giới cổ đại chỉ vì đã khám phá một phương pháp tài tình để ghi nhớ những việc ông cần làm. Khám phá của ông nhằm phục vụ cho những hoạt động mang tính nhân văn. Và còn gì có thể nhân văn hơn là đưa thơ ca vào bộ nhớ?
Tôi đã phát hiện ra rằng Ed luôn ghi nhớ điều gì đó. Anh ta từ lâu đã học thuộc Thiên đường đánh mất (với tốc độ hai trăm dòng mỗi giờ, anh ta bảo tôi), và đang miệt mài cày cuốc Shakespeare. “Triết lý đời tôi là một kẻ anh hùng phải có thể chống chịu được mười năm giam nhốt trong cô độc mà không khó chịu quá,” anh ta nói. “Giả sử một tiếng đồng hồ ta có thể ghi nhớ một lượng thơ mà đọc ra mất mười phút, và mười phút đó ẩn chứa đủ nội dung khiến ta bận rộn cả một ngày, và nếu bỗng dưng anh thấy mình bị giam hãm trong cô đơn thì tôi nghĩ anh có thể tìm được niềm vui trong một ngày nhờ một giờ ghi nhớ.”
Cái thế giới quan này có được là nhờ tuyển tập các tài liệu cổ đại và trung cổ viết về trí nhớ mà Ed đã cố nhồi nhét vào tôi không ngớt. Với những tác giả xa xưa đó, một trí nhớ qua đào luyện không chỉ để tiếp cận thông tin dễ dàng mà còn giúp trau dồi đạo đức cá nhân và có óc xét đoán hợp lẽ. Một trí nhớ được rèn luyện có vai trò then chốt để phát triển “óc phán xét, tư cách công dân, và lòng mộ đạo.” Những gì người ta ghi nhớ sẽ định hình nên tính cách của họ. Cũng như bí quyết trở thành đại kiện tướng cờ vua là học những ván cờ cũ, bí quyết trở nên đại kiện tướng cuộc đời là đọc các thư tịch cổ. Vào lúc khó khăn, người ta có thể tìm sự hướng dẫn cách ứng xử ở đâu, nếu không phải trong những tầng sâu trí nhớ? Việc đọc thuần túy không thôi thì chưa hẳn được xem là học tập - đấy là thực tế mà bản thân tôi gặp phải mỗi lần cố nhớ nội dung cuốn sách tôi vừa đọc xong. Để thực sự học hỏi được từ một cuốn sách, người ta phải ghi nhớ nó. Như nhà thơ Hà Lan đầu thế kỷ mười tám Jan Luyken đã nói, “Một cuốn sách được khắc sâu vào lòng /Đáng giá hàng ngàn cuốn xếp chồng.”
Cách đọc ở thời cổ đại và Trung cổ hoàn toàn khác với cách đọc của chúng ta ngày nay. Người ta không chỉ nhớ những cuốn sách; họ nhai đi nhai lại chúng - họ nghiền nát chúng rồi nhổ ra nhai lại - và trong quá trình ấy, chúng trở nên thân thuộc như là của bản thân họ vậy. Trong một bức thư gửi bạn, Petrarch đã nói, “Buổi sáng tôi ăn thứ tôi sẽ tiêu hóa vào ban đêm; khi còn bé tôi nuốt vào những gì, thì lúc trưởng thành tôi sẽ nghiền ngẫm chúng. Tôi đã hấp thụ hoàn toàn những trang viết này, tôi không những in sâu chúng vào trong trí nhớ, mà trong tận xương tủy.” Người ta bảo rằng Augustine chìm đắm trong những bài Thánh ca, và cả tiếng Latin, đến mức chúng trở thành thứ ngôn ngữ chủ đạo trong những gì ông viết ra.
Quả là một cảnh tượng hấp dẫn: Tôi hình dung nếu tôi có khả năng học như Simonides, tôi sẽ có thể ghi sâu vào lòng hàng chồng thơ ca. Tôi có thể tìm ra áng thơ hay nhất và thực sự hấp thụ nó. Tôi tưởng tượng mình sẽ trở thành một trong những cá nhân khả kính (dù đôi lúc khó chịu) bao giờ cũng tìm ra câu trích dẫn thích đáng đặng đưa vào cuộc trò chuyện. Tôi tưởng tượng mình trở thành một cái kho di dộng chứa những vần thơ.
Tôi quyết định biến việc ghi nhớ thành một phần thói quen hàng ngày. Giống như việc dùng chỉ nha khoa làm sạch răng. Chỉ khác là tôi thực sự sẽ làm thế. Mỗi sáng, sau khi thức dậy và làm ly cà phê, trước cả khi đọc báo hay tắm táp, thậm chí chưa cả mặc quần áo chỉnh tề, tôi ngồi xuống bàn và cố dành mười đến mười lăm phút để ghi nhớ một bài thơ.
Vấn đề là tôi không giỏi ghi nhớ lắm. Khi ngồi xuống cố lấp đầy một cung trí nhớ bằng bài thơ “Jabberwocky,” của Lewis Carroll, một bài thơ hai mươi tám câu mà gần như toàn những từ vô nghĩa, tôi không biết làm thế nào chuyển những từ “brillig” và “slithy toves[13]” thành các hình ảnh, và rốt cuộc chỉ nhớ được bài thơ bằng cách học vẹt, mà đó lại là điều tôi không định làm. Tiếp theo, tôi thử bài “Tình ca của J. Alfred Prufrock,” của T.S. Eliot, một bài thơ tôi hằng ngưỡng mộ, và tôi đã biết rõ từng tí một. “Trong căn phòng, những người phụ nữ đến rồi đi / Họ nói về Michelangelo.” Sao tôi có thể quên được? Hay tôi sẽ ghi nhớ nó thế nào đây? Tôi sẽ chuyển hình ảnh những người phụ nữ, họ đến rồi đi, họ nói về Michelangelo trong phòng tắm ông chú nhà tôi? Và điều đó trông thế nào nhỉ? Hay tôi sẽ tưởng ra hình ảnh những phụ nữ, hình ảnh đang đến, một hình ảnh đang đi, và một hình ảnh về Michelangelo? Tôi bối rối quá. Mãi chẳng nghĩ được. Những kỹ thuật ghi nhớ này, dường như rất hứa hẹn khi tôi túm tụm cùng Ed trên một tảng đá ở Central Park trong tiết trời tê tái, thì giờ đây lại chẳng hiệu quả mấy khi tôi ở một mình dưới tầng hầm tại nhà. Tôi cảm giác như mình đang thử một đôi giày bóng lộn tại cửa hàng, và giờ khi đi đôi giày đó về đến nhà, tôi bị phồng rộp. Rõ là tôi bỏ quên điều rồi.
Tôi quay sang cuốn Rhetorica ad Herennium mới mua và giở đến phần bàn về ghi nhớ từ. Tôi hy vọng nó sẽ đưa ra vài gợi ý giải thích tại sao tôi lại kém như vậy, song cuốn sách hai ngàn năm kia chỉ đưa ra lời động viên. Ghi nhớ thơ văn thực sự rất khó, tác giả thừa nhận. Nhưng vấn đề chính là ở đấy. Ông giải thích rằng học thuộc thơ văn là việc đáng làm không phải vì nó dễ, mà vì nó khó. “Tôi tin là hễ ai muốn làm điều dễ dàng mà không gặp khó khăn gì, thì trước đó họ đã phải được rèn luyện làm những điều khó khăn hơn,” ông viết.
Dù đã đổ bao nhiêu thì giờ cho những kỹ thuật ghi nhớ, tôi chẳng hiểu chút gì về tầm vóc thật sự của cuộc phiêu lưu mình đã đặt chân lên. Tôi vẫn coi dự định này chỉ là một thử nghiệm ngẫu nhiên vô hại. Tôi chỉ muốn biết mình có thực sự cải thiện trí nhớ không, và nếu có, thì được bao nhiêu. Chắc chắn tôi chẳng hề nghiêm chỉnh cân nhắc nếp rèn luyện đầy thách thức mà Tony Buzan nêu ra nếu muốn tranh tài ở Giải vô địch Trí nhớ Mỹ. Dù sao thì hàng năm cứ vào tháng Ba ở thành phố New York, ở Mỹ có gần bốn chục vận động viên trí nhớ luyện tập để tham gia sự kiện này. Chẳng có lý nào tin rằng một gã nhà báo thỉnh thoảng vẫn quên số An sinh Xã hội của mình tranh đua được với các chuyên gia trí nhớ hàng đầu của Mỹ. Nhưng rồi tôi sớm vỡ ra rằng, tại những giải trí nhớ quốc tế thì người Mỹ cũng chỉ như người Jamaica ở giải trượt tuyết quốc tế mà thôi - đội Mỹ hẳn sẽ là những gã ung dung nhất ở bất kỳ cuộc thi nào, và có lẽ là đội sành điệu nhất, nhưng trên trường quốc tế, họ được xem như những kẻ xách dép cả về phương diện kỹ thuật lẫn sự rèn luyện.
Dẫu chuyên gia trí nhớ giỏi nhất Hoa Kỳ có thể nhớ hàng trăm chữ số ngẫu nhiên trong vòng một tiếng, thì thành tích của họ hãy còn nhạt nhoà so với các đấu thủ từ châu Âu. Nhìn chung, chẳng ai ở Bắc Mỹ coi trọng môn thể thao trí nhớ này đến mức chịu bỏ nhậu nhẹt cả ba tháng trời trước giải vô địch thế giới, như người tám lần đoạt giải vô địch trí nhớ Dominic O’Brien từng làm, và từ góc nhìn ấy, ít thí sinh nào thực hành một chế độ rèn luyện thể chất khắt khe như Buzan khuyến nghị. (Một trong những lời khuyên đầu tiên của ông ta cho tôi, dù tôi chẳng hề xin ấy là phải giữ gìn vóc dáng.) Chẳng ai ngày nào cũng uống mấy ly dầu gan cá tuyết hay những viên omega-3. Chỉ có một người Mỹ, bốn lần vô địch quốc gia là Scott Hagwood, là được kết nạp vào KL7.
Dù nước Mỹ cũng tổ chức giải vô địch từ lâu như nhiều nước khác, nhưng chuyên gia trí nhớ xuất sắc nhất của Mỹ chỉ một lần lọt được vào tốp 5 giải vô địch thế giới năm 1999. Có lẽ việc người Mỹ không sản sinh ra được vận động viên trí nhớ giỏi nhất thế giới nói lên
điều gì đó về dân tộc tính của người Mỹ - chúng ta không ám ảnh với chi tiết như người Đức, hay tỉ mỉ như người Anh, hay nghị lực như người Malaysia. Có lẽ, như một người Âu nghiêm nghị lý giải cho tôi, rằng người Mỹ nghèo nàn về trí nhớ là bởi chúng ta quan tâm đến tương lai, trong khi những người bạn ở bên kia bờ Đại Tây Dương bận tâm nhiều về quá khứ. Dù lý do là gì, nếu tôi muốn học hỏi thêm về thuật ghi nhớ - nếu tôi muốn theo học những người giỏi nhất thế giới - thì rõ ràng tôi sẽ phải sang châu Âu.
Sau khi mất vài tuần đánh vật với việc trang hoàng cho các cung trí nhớ của tôi bằng những bài thơ với đôi chút thành công,tôi nghĩ đã đến lúc lên danh sách những nguồn trợ giúp để đưa những nỗ lực của mình lên cấp độ tiếp theo. Ở tầm quốc tế, sự kiện trọng đại nhất trong năm của lĩnh vực trí nhớ, Giải vô địch Trí nhớ Thế giới, sẽ được tổ chức ở Oxford, Anh, vào cuối mùa hè. Tôi quyết định cần phải đến đó, và thuyết phục tạp chí Discover phái tôi đến viết bài về cuộc thi này. Tôi gọi cho Ed hỏi xem đến ở nhờ nhà anh ta được không. Oxford là quê nhà anh ta - anh ta lớn lên ở đó, đã vào đại học ở đó, và giờ sống cùng cha mẹ ở đó, tại một căn nhà xây bằng đá từ thế kỷ mười bảy có tên Mill Farm nằm ở ngoại ô thành phố.
Khi tôi đến Mill Farm (hay đơn giản là Milf, như Ed thỉnh thoảng vẫn gọi) vào một chiều hè đầy nắng vài ngày trước khi Giải vô địch Thế giới diễn ra, Ed chào đón tôi và mang hành lý của tôi lên phòng anh ta, đúng cái phòng anh ta đã lớn lên, quần áo vứt bừa trên sàn, và trên giá sách là những cuốn niên giám môn cricket từ chín thập kỷ nay. Rồi anh ta dẫn tôi đến phần chái cổ nhất của ngôi nhà, một cái kho bốn trăm năm tuổi, xây bằng đá, đã được cải tạo thành phòng và nối với nhà bếp. Có một cây đàn trong góc phòng, và những tấm vải sặc sỡ treo trên trần nhà, vết tích của một bữa tiệc tổ chức mấy năm trước không bao giờ được gỡ xuống. Cuối căn phòng là một chiếc bàn dài bằng gỗ, có tám cỗ bài xếp ngay đầu bàn.
“Đây là nơi tôi thực hành,” Ed bảo, và chỉ tay về phía ban công nhô ra ở phần trên gian nhà kho. “Thử tưởng tượng những số nhị phân đổ xuống những bậc thềm kia, ngay bên kia phòng. Đúng như anh hình dung về nơi tập luyện của một nhà vô địch trí nhớ, đúng không nào?”
Trước bữa ăn tối, một người bạn thời bé của Ed là Timmy ghé qua chào. Ed và tôi xuống nhà, thấy anh ta ngồi ở bàn trò chuyện với bố mẹ Ed, là bà Teen và ông Rod, trong khi cô em gái út Phoebe đang xắt rau vườn nhà bên bàn bếp. Timmy giờ quản lý một công ty phát triển phần mềm trực tuyến. Cậu ta đến đây trên chiếc BMW, mặc áo phông polo lịch lãm và có làn da rám nắng.
Bà Teen giới thiệu tôi và gượng cười giải thích rằng Ed là huấn luyện viên trí nhớ của tôi. Timmy dường như không tin nổi Ed vẫn còn nghịch ngợm mấy trò trí nhớ này. Chẳng phải chuyến đi điên rồ tới Kuala Lumpur xảy ra lâu lắm rồi sao?
“Edward này, con không lo cậu học trò mới sẽ vượt mặt con sao?” bà Teen hỏi, dường như là để trêu cậu con trai.
“Cháu nghĩ hoàn toàn chẳng phải lo về chuyện đó đâu ạ,” tôi nói.
“Con thì nghĩ chuyện đó sẽ giáng một đòn khủng khiếp vào nền giáo dục,” giọng Ed tự hào.
“Cháu nghĩ có thể tìm cho Ed một công việc đàng hoàng theo giờ hành chính không?” Rod
hỏi Timmy.
Ed bật cười. “Đúng rồi, có thể tớ sẽ mở khóa rèn luyện trí nhớ cho mấy nhân viên của cậu.” “Con có thể làm lập trình,” Teen đề nghị.
“Con không biết lập trình.”
“Bố con sẽ dạy cho.”
Vào những năm 1990, Rod kiếm được một gia sản nhỏ nhờ thiết kế phần mềm máy tính rồi về hưu sớm, sống cuộc đời nhàn nhã và theo đuổi những thú vui kỳ cục. Ông đang nuôi ong và làm vườn, và tính chuyện tách nông trại Mill ra khỏi mạng lưới điện, bằng cách tận dụng những quyền có từ xửa xưa đối với nguồn nước để đặt một máy phát điện tại một dòng nước chảy qua ngôi nhà. Bà Teen dạy trẻ khuyết tật ở một trường địa phương, bà rất ham đọc sách và cũng là một tay chơi quần vợt. Bà có vẻ đã chấp nhận hoàn toàn những chuyện lập dị của Ed, nhưng cũng hy vọng rằng một ngày kia Ed sẽ dụng tài năng của anh ta vào một hướng đi có trọng tâm hơn, và có lẽ giúp ích cho xã hội nữa.
“Còn luật thì sao, Edward?” bà hỏi.
“Con coi luật như trò chơi mà được của người này là thua của kẻ khác, và chẳng ích gì cho đời cả,” Ed nói. “Nói chung, làm một luật sư giỏi chỉ đơn thuần là tối đa hóa sự bất công.” Ed hướng sang tôi. “Lúc mười tám tuổi, tôi là một gã khá triển vọng đấy.”
Câu này khiến Phoebe quay sang tham gia. “Năm 13 tuổi thì đúng hơn.”
Khi Ed đi tắm, tôi hỏi Rod nếu rốt cuộc con trai ông sẽ trở thành một Tony Buzan khác, một chuyên gia bậc thầy về kỹ năng phát triển bản thân giàu sụ thì ông có thất vọng không. Rod cân nhắc trong giây lát rồi vuốt cằm. “Chú thích nó làm luật sư hơn.”
Sáng hôm sau, tại phòng khảo thí ở Đại học Oxford, nơi tiếp đón những chuyên gia trí nhớ hàng đầu thế giới, Ed nằm ườn trên ghế tràng kỷ bọc da, đội mũ phớt màu vàng nhạt và mặc áo phông với dòng chữ “Ed Kicks Ass -220” in đậm trước ngực, dưới dòng chữ là tấm hình anh ta được in nhiệt lên áo, vẻ hăm doạ với hình biếm họa một cú đá karate, và một bức ảnh chụp thân dưới phụ nữ. (Ngoài việc truyền đi thông điệp vớ vẩn dọa dẫm các đối thủ, anh ta giải thích, những từ “Ed Kicks Ass,” là dòng chữ giúp anh ta ghi nhớ con số 220.) Anh ta đang hút thuốc (mảng rèn luyện thể lực ở môn thể thao trí nhớ này không được anh ta thực hiện nghiêm túc lắm), và nồng nhiệt đón chào từng thí sinh khi họ bước qua cửa. Anh ta cho tôi biết, từ lúc chúng tôi gặp nhau lần trước, anh ta đã dừng vô thời hạn chương trình tiến sĩ ở Paris để theo đuổi “những dự án khác.” Anh ta cũng bảo tôi, rằng kế hoạch lớn của anh ta và Lukas về Học viện Trí tuệ Oxford tạm thời bị đình lại, bởi không lâu sau giải vô địch Mỹ, Lukas bị tổn thương phổi nghiêm trọng vì gặp sự cố khi tập trò phun lửa.
Giải vô địch trí nhớ có thể là cuộc thi giàu tính cạnh tranh đến kỳ dị, Ed mô tả chiếc áo phông hợm hĩnh là một phần của “chiến dịch ngăn chặn mối đe doạ” nhằm “tăng cường sự thân thiện giữa các thí sinh - đặc biệt là với người Đức.” Theo hướng đó, khi xuất hiện ở giải vô địch này, anh ta mang theo những tờ giấy, ghi những thông tin táo tợn vừa đầy một trang để phát cho báo chí và các bạn chơi. Nó mô tả tính cách của anh ta (dùng ngôi nhân xưng thứ ba) - “bất kính, phô trương, sẵn sàng làm bất cứ gì (đặc biệt là hôm qua)” - và chế độ luyện tập “dậy sớm, Yoga, nhảy dây, dùng siêu thực phẩm (gồm quả việt quất và
dầu gan cá tuyết), bốn giờ luyện tập, mỗi ngày hai ly rượu (sản xuất ở vùng đất giàu kali Languedoc-Roussillon, miền nam nước Pháp), 30 phút suy tư mỗi buổi hoàng hôn, ghi nhật ký trực tuyến.” Nó cũng ghi nhận “khả năng độc đáo” là mơ trong tỉnh táo (lucid dreaming) và tình dục theo phái yoga Mật tông. Nó cũng mô tả Tony Buzan là “nhà vô địch khiêu vũ và là người thầy dẫn dắt tôi suốt quãng dậy thì,” và anh ta suy nghĩ về tương lai của cuộc thi trí nhớ: “Hy vọng nó sẽ được đưa vào tranh tài ở Olympic trước năm 2020,” khi anh ta “tính chuyện lui về sống cuộc đời với chứng giác quan liên đới và sự lão suy.” Kế hoạch của anh ta sau giải này là: “Làm cách mạng nền giáo dục phương Tây.”
Ngồi trên ghế cạnh anh ta là huyền thoại vô địch trí nhớ thế giới Ben Pridmore, người mà cho đến lúc này tôi chỉ biết qua Google và những giai thoại. (Tôi nghe nói anh ta có thể vừa lật quân bài vừa ghi nhớ ngay tức thì.) Ben mặc một chiếc áo cũ mèm với dòng chữ Một con cá, Hai con cá, Cá đỏ, cá xanh,” với cổ áo doãng rộng và một cỗ bài. Anh ta đội chiếc mũ rộng vành màu đen làm từ da bò của Úc mà những người khiêng quan tài thường đội, và anh thú nhận kể từ sáu năm qua ngày nào anh ta cũng mang nó. “Đây là nét riêng của tôi,” anh ta nói khẽ. “Nó là một phần linh hồn tôi.” Dưới chân anh ta là một cái ba lô màu đen và hồng có dòng chữ “Pump It Up” họa ở mặt sau. Anh ta cho chúng tôi biết rằng trong ba lô có 20 cỗ bài, anh định ghi nhớ hết chúng vào ngày hôm sau trong một giờ.
Cái đầu hói, râu đen, cặp kính nuốt cả khuôn mặt và đôi mắt lớn luôn sục sạo, Ben như hiện thân ngoài đời của nhân vật hoạt hình R. Crumb. Anh ta thậm chí có cả đôi vai lum khum và cái dáng đi khệnh khạng bất cần ấy. Đế của đôi giày da rách bươm lẹp bẹp dưới chân trông như đôi dép xỏ ngón. Anh ta nói giọng âm mũi nhẹ vùng Yorkshire, khiến chữ mình nghe như mìn”
“Tôi ghét cái giọng của mìn” anh ta nói để giải thích lý do không gọi điện lại cho tôi mấy tuần trước. Anh ta tránh các cuộc điện thoại trừ phi thậm bất đắc dĩ. Một trong những mẩu thông tin bản thân anh chia sẻ với tôi là anh tin mình là người Anh trẻ nhất bỏ đại học. “Tôi được nhận vào trường Kingston thuộc Đại học Thames lúc còn mười bảy tuổi, nhưng sau sáu tháng thì tôi bỏ học. Giờ tôi hai tám, thế cũng hơi buồn đấy. Tôi bắt đầu cảm thấy như một lão làng trong môn thể thao trí nhớ. Anh biết đấy, lúc mới bước vào lĩnh vực này tôi là một trong những tay trẻ trung được chú ý nhất đấy.”
Vận rủi dường như cứ bám lấy Ben. Anh ta không có ý định xuất hiện ở Giải vô địch Trí nhớ Thế giới. Thực ra, sáu tháng qua anh ta giành hết thời gian để ghi nhớ năm mươi ngàn chữ số đầu tiên của số pi, mà anh ta dự định sẽ đọc tại Olympiad Thể thao Trí tuệ - lễ hội các môn cờ kéo dài cả tuần lễ, được tổ chức một tuần sau Giải vô địch Trí nhớ Thế giới. Đó sẽ là kỷ lục thế giới mới. Nhưng tháng trước, một chuyên gia trí nhớ không tiếng tăm nào đó người Nhật, tên là Akira Haraguchi chẳng biết từ đâu xuất hiện và đọc được một mạch
83.431 chữ số pi. Ông ta mất mười sáu giờ, hai tám phút để đọc chúng. Ben đọc được thành tích này trên mạng Internet, và buộc phải đánh giá lại kế hoạch của mình. Thay vì cố học thuộc thêm 33.432 chữ số nữa, anh ta từ bỏ và dồn sức bảo vệ danh hiệu vô địch trí nhớ thế giới. Trong sáu tuần qua anh ta dành hết những giây phút rảnh rỗi để dọn sạch cung trí nhớ đã dành cho số pi, rũ bỏ hàng tháng trời những lao động cực nhọc, để anh ta sử dụng lại những cung đó cho các giải vô địch trí nhớ.
Hầu hết các vận động viên trí óc đến với môn thể thao này cũng giống như tôi: Cứ họ thấy ai đó diễn một trò trí nhớ rất hoành tráng và thấy hay là họ hỏi ngay các mẹo của trò này để về nhà tự học. Nhưng Ben bỏ lỡ một bước quan trọng. Anh đã xem ai đó ghi nhớ những quân bài, nghĩ trò này thật hay, rồi về nhà tự học lấy. Nhưng không ai bảo cho anh biết làm như thế nào. Không hề sử dụng kỹ thuật nào, anh ta cứ chằm chằm nhìn đi nhìn lại
cho tới khi chúng in dấu vào não bộ. Và điều ngạc nhiên là, cứ lúc rảnh rỗi thì anh ta lại làm như vậy trong nhiều tháng trời, với giả định rằng cuối cùng sẽ đạt thành tựu. Rồi thì anh ta cũng rút thời gian xuống mười lăm phút mà chỉ cần ghi nhớ theo kiểu học vẹt, và xét trên nhiều khía cạnh thành tích này còn ấn tượng hơn kỷ lục thế giới ba mươi hai giây anh ta đạt được nhờ dùng các kỹ thuật. Mãi cho đến lúc tham gia Giải vô địch Trí nhớ Thế giới anh ta mới biết về cung trí nhớ. Sau những phần thi ở ngày đầu tiên (anh ta hoàn thành ở vị trí áp chót), anh đến hiệu sách, mua một cuốn của Tony Buzan, quyết rằng mình có tài năng trong môn này, và quên hết mọi sở thích ngoại khóa khác, bao gồm cả mục tiêu suốt đời là phải xem hết 1.001 phim hoạt hình của hãng Warner Bros phát hành rầm rộ trong quãng 1930 và 1968.
Ben đang viết một cuốn sách “Làm thế nào để thông minh hơn,” chỉ cho người đọc biết tính toán bất cứ ngày nào trong lịch sử, biết cách ghi nhớ một cỗ bài, và dùng mẹo để làm bài kiểm tra IQ. “Cuốn sách này sẽ khiến mọi người nghĩ rằng anh thông minh mà thực ra chẳng làm trí tuệ của anh tăng lên gì cả,” anh ta bảo tôi. “Vấn đề là tôi chưa viết được nhiều nhặn gì, vì tôi luôn có những việc quan trọng hơn phải làm, như xem hoạt hình. Hễ tôi cố viết một cuốn sách nghiêm túc về cải thiện cuộc sống, thì tôi lại viết toàn những thứ nhảm nhí, vì tôi còn chẳng biết làm thế nào cải thiện cuộc sống của mình nữa là.”
Người muốn chiếm danh hiệu của Ben ở giải vô địch thế giới là Tiến sĩ Gunther Karsten, với khuôn mặt xương xương và cái trán hói, một “bố già” bốn mươi ba tuổi trong môn thể thao trí nhớ Đức, người đã thắng hết các cuộc thi quốc gia ở nước này kể từ năm 1998. Gunther xuất hiện trong điệu bộ mà tôi biết là phong cách điển hình của ông ta: một đôi bịt tai màu đen hoành tráng, cặp kính chống nắng gọng kim loại mà phần tròng kính đã bịt hết chỉ chừa ra hai lỗ nhỏ. “Tác nhân kích thích bên ngoài,” như cách nói của Gunther, là điều chuyên gia trí nhớ này ghét tay ghét đắng. (Một chuyên gia trí nhớ người Đan Mạch đã về vườn từng thi đấu với miếng che mắt ngựa.) Ông ta còn mang cái khóa dây lưng màu vàng có khắc tên viết tắt của mình, đeo sợi dây chuyền vàng ngoài chiếc áo phông trắng ôm sát người, và mặc chiếc quần thủy thủ màu đen. Gunther cho tôi biết hồi còn đại học ông ta là người mẫu ảnh cho hãng xe Nissan, và tùy xem góc nhìn của bạn thế nào, bạn sẽ thấy ông ta giống một tay côn đồ trong phim James Bond hoặc là một vận động viên trượt băng nghệ thuật đang về già. Vóc dáng của ông ta thật là oách, và tôi chóng nhận ra ông cũng là một đấu thủ rất cừ nữa. Dù chân hơi khập khễnh (do bị bệnh về xương lúc còn nhỏ), ông vẫn đều đặn tham gia các cuộc chạy đua cho lứa tuổi trung niên và chiến thắng hẳn hoi. Ông ta mang bên mình một chiếc cặp kim loại sáng bóng được khóa kín, trong chứa cỡ hai mươi đến ba mươi cỗ bài định ghi nhớ. Ông sẽ chẳng cho tôi biết chính xác có bao nhiêu vì sợ rằng thông tin đó sẽ lọt đến tai Ben Pridmore.
Cuộc thi diễn ra ở một căn phòng lớn lát ván gỗ sồi, trong một tòa nhà cổ của Oxford, với những ô cửa sổ cao kiểu Gothic và những bức chân dung quá cỡ của Bá tước Litchfield đệ Tam và Bá tước Derby đệ Thập tứ. Căn phòng được bày biện không có gì khác so với ngày thường trong năm học, khi nó được dùng để làm phòng thi cho những sinh viên đại học Oxford. Có bốn mươi tám chiếc bàn, mỗi bàn gắn một chiếc đồng hồ đếm giờ kỹ thuật số cao chừng 15cm, dùng cho phần thi cuối cùng và cũng là phần hấp dẫn nhất: nhớ bài nhanh, khi các thí sinh đua nhau đưa từng cỗ bài vào bộ nhớ một cách nhanh nhất có thể.
Không như giải vô địch Mỹ chỉ có năm phần thi và mỗi phần không quá mười lăm phút, giải vô địch thế giới trí nhớ thường được gọi là “cuộc thi trí nhớ mười môn phối hợp.” Nó gồm mười môn thi, kéo dài ba ngày tơi bời, mỗi ngày kiểm tra trí nhớ thí sinh theo những cách khác nhau đôi chút. Các đấu thủ phải ghi nhớ một bài thơ dài nhiều trang trước đấy chưa được công bố, nhớ những trang chữ ngẫu nhiên (kỷ lục: 280 chữ trong mười lăm
phút), danh sách những số nhị phân (kỷ lục: 4.140 số trong ba mươi phút), cỗ bài đã xáo, danh sách những ngày lịch sử, và những cái tên những khuôn mặt. Một số môn thi, gọi là “phần thi tốc độ,” kiểm tra đấu thủ có thể nhớ được bao nhiêu trong vòng năm phút (kỷ lục: 405 chữ số). Hai môn marathon thử xem thí sinh nhớ được bao nhiêu cỗ bài và bao nhiêu số ngẫu nhiên trong một giờ (kỷ lục: 2.080 chữ số và hai mươi bảy cỗ bài).
Giải vô địch thế giới trí nhớ lần đầu tiên được tổ chức tại Athenaeum Club sang trọng ở London năm 1991. “Hồi đó tôi thấy thật là vô lý,” Tony Buzan nhớ lại. “Chúng ta có giải vô địch ô chữ. Chúng ta có giải vô địch môn Scrabble[14]. Chúng ta có giải cờ vua, bài bridge, bài xì, môn cờ đam, bài canasta, và cờ vây. Chúng ta có cuộc thi cho các môn khoa học. Vậy mà quá trình nhận thức quan trọng nhất, cơ bản nhất của loài người là ghi nhớ thì lại không có giải vô địch nào cả.” Ông ta cũng biết rằng ý tưởng “nhà vô địch trí nhớ thế giới” sẽ chắc chắn sẽ thu hút truyền thông và là cách khôn ngoan để quảng bá sách ông ta viết về rèn luyện trí não.
Với sự giúp đỡ của người bạn Raymond Keene, một đại kiện tướng cờ vua người Anh, ông này giữ chuyên mục cờ vua hàng ngày cho tờ The Times (London), Buzan gửi thư cho một số người ông ta biết là có liên quan đến lĩnh vực rèn luyện trí nhớ và đăng một quảng cáo về cuộc thi trên The Times. Bảy người xuất hiện, gồm một y tá chuyên chăm sóc bệnh nhân tâm thần, tên Creighton Carvello, người này ghi nhớ số điện thoại của tất cả những người tên Smith trong danh bạ điện thoại vùng Middlesbrough, và một người khác tên Bruce Balmer đã lập kỷ lục vì ghi nhớ hai nghìn từ ngoại ngữ trong một ngày. Vài thí sinh mặc vét đuôi tôm.
Các đấu thủ giờ không còn theo quy định trang phục khắt khe như vậy nữa, song những quy định khác ở giải này đã chặt chẽ hơn nhiều kể từ năm 1991. Cuộc thi ngày trước chỉ có một ngày, giờ đã kéo dài hết một kỳ nghỉ cuối tuần.
Trong những môn thi của mười môn phối hợp kéo dài ba ngày đó, môn thi đầu tiên trong ngày đầu tiên, nhớ thơ, nhìn chung là phần đáng sợ nhất. Vì tôi nhớ thơ khá kém cỏi nên đây là phần thi tôi muốn theo dõi sát sao nhất. Mỗi năm Gunther lại vận động bỏ phần thi này ra khỏi giải đấu, hay ít nhất thay đổi luật thi đấu sao cho - theo như ông ta nói - “khách quan”. Nhưng thơ ca là nơi khởi đầu của thuật ghi nhớ, và xóa bỏ phần thi này khỏi giải đấu chỉ vì vài thí sinh thấy khó, thì chẳng khác nào đi ngược lại với tiền đề nền tảng của cuộc thi này rằng ghi nhớ là một nỗ lực sáng tạo và nhân văn. Nên hàng năm, người ta đặt hàng một bài thơ mới mà trước đó chưa được công bố để dùng cho giải vô địch thế giới. Những năm đầu tiên của cuộc thi, vào đầu những năm chín mươi, những bài thơ do một thi sĩ Anh từng đoạt giải thơ ca viết ra, ông tên là Ted Hughes, mà Tony Buzan bảo là “một người bạn cũ.” Kể từ khi Hughes chết năm 1998, những bài thơ do Buzan tự viết ra. Bài thơ năm nay có 108 câu, đề “Miserare,”[15] trích từ tuyển tập “Requiem for Ted” (Lễ cầu hồn cho Ted). Nó bắt đầu:
With most things in Universe I am happy:
Supernovas
The Horse Head Nebula The Crab
The light-years-big clouds
That are the Womb of Stars
(Dịch nghĩa: Tôi hạnh phúc với hầu hết mọi điều trong vũ trụ này: Những ngôi sao băng. Tinh vân đầu ngựa. Chòm sao Cự Giải. Những đám mây lớn ngàn năm ánh sáng. Là nơi chứa những vì sao)
Tôi đọc danh mục những điều làm Tony Buzan hạnh phúc, có “God’s freezing balls,” (những khối cầu lạnh băng của Chúa) và kết thúc:
I am not happy That Ted
Is Dead.
(Tôi không hạnh phúc khi Ted chết đi)
Các thí sinh có mười lăm phút ghi nhớ càng nhiều dòng càng tốt, rồi có nửa tiếng viết ra trên tờ giấy trắng. Để nhận được điểm tuyệt đối cho một câu, nó phải được viết hoàn chỉnh, từng chữ viết hoa và dấu câu. Các thí sinh không gạch chân “not happy” như tác giả đã viết hay nghĩ sai rằng nghĩ rằng Ted đã “chết” (dead) mà không có chữ D viết hoa sẽ chỉ được nửa điểm cho câu đó.
Đâu là cách tốt nhất để ghi nhớ một đoạn văn bản dài hay một bài phát biểu, câu hỏi này đã làm các chuyên gia trí nhớ trăn trở hàng ngàn năm qua. Tài liệu đầu tiên về trí nhớ đã mô tả hai dạng hồi tưởng: memoria rerum và memoria verborum, trí nhớ đối với các sự vật và trí nhớ với lời nói. Khi tiếp cận một văn bản hay lời nói, người ta có thể nhớ ý chính, hay có thể nhớ nguyên văn. Quitilian một người thầy, và nhà hùng biện thời La Mã xem nhẹ memoria verborum vì cho rằng tạo ra nhiều hình ảnh như vậy không những kém hiệu quả, vì nó đòi hỏi cung trí nhớ khổng lồ, mà nó còn không ổn định. Nếu trí nhớ đối với lời nói cứ tập trung vào việc nhớ từng từ một, thì không những bạn phải nhớ nhiều hơn, mà nếu bạn quên đi một từ bạn sẽ bị mắc kẹt trong cung trí nhớ, như đứng trong căn phòng nhìn bức tường trắng, lạc lối và không thể đi tiếp.
Cicero cũng đồng ý rằng cách tốt nhất để ghi nhớ lời nói là nhớ theo ý bằng cách sử dụng memoria rerum chứ không nên ghi nhớ từng lời. Trong tác phẩm De Oratore, ông gợi ý rằng một người khi thuyết trình nên tạo một hình ảnh cho mỗi chủ đề mình muốn đề cập và đặt mỗi hình ảnh đó vào một chỗ trong cung trí nhớ. Thực ra, từ “topic” (chủ đề) bắt nguồn từ chữ Hy Lạp topos, hay địa điểm. (Cụm từ “in the first place” (ở vị trí đầu tiên, trước hết) trong các bài văn - là dấu tích của thuật ghi nhớ.)
Bộ não không giỏi ghi nhớ chính xác từng lời, điều này được minh họa bằng một ví dụ nổi tiếng: vụ Watergate năm 1973. Trong phiên điều trần trước Ủy ban điều tra vụ Watergate của Thượng viện, cố vấn của Tổng thống Richard Nixon là John Dean đã trình bày trước các nghị sĩ về nội dung hàng tá cuộc họp liên quan đến việc che giấu những vụ đột nhập. Trước sự chán nản của tổng thống và niềm hoan hỉ của ủy ban, Dean có thể nhắc lại nguyên văn nhiều cuộc đối thoại diễn ra trong Phòng Bầu dục. Trí nhớ của ông ta chi tiết và dường như chính xác đến mức các phóng viên gọi ông ta là “máy ghi âm.” Vào thời điểm Dean làm chứng, không một ai biết rằng những cuộc đàm thoại đã được ông ta thuật lại theo trí nhớ kia trước đó cũng đã được một máy ghi âm trong Phòng Bầu dục ghi lại.
Trong khi cả nước Mỹ chú ý đến ảnh hưởng chính trị của những bản ghi âm đó, thì nhà
tâm lý Ulric Neisser lại xem đó là một nguồn dữ liệu đáng giá. Neisser so sánh bản chép lại từ băng ghi âm với lời khai của Dean, và phân tích xem trí nhớ của Dean đúng và sai ở đâu. Chẳng những Dean không nhớ chính xác những lời trích dẫn - nghĩa là nhớ theo verborum - mà ông ta còn thường không nhớ đúng ý nội dung trao đổi - tức nhớ theo rerum. Song, dù trí nhớ của ông ta có sai lệch trong từng phần riêng rẽ, thì Neisser nhận thấy rằng “về tổng quan thì có thể xem là ông ta nhớ đúng.” Những điểm chính trong lời khai đều chính xác: “Nixon muốn che giấu trót lọt vụ việc này; ông ta hài lòng vì nó diễn ra tốt đẹp; ông ta bối rối khi nó bị lộ ra; ông ta sẵn sàng tính đến những hoạt động phi pháp, nếu những hoạt động đó tăng quyền lực cho tổng thống hoặc đánh bại được đối thủ của ông ta.” John Dean không xuyên tạc, Neisser lập luận; ông ta sai về chi tiết, nhưng đúng ở những điểm quan trọng. Chúng ta ai cũng đều như vậy khi cố thuật lại những cuộc đàm thoại, vì không được rèn luyện đặc biệt, nên trí nhớ của chúng ta chỉ tập trung đến bối cảnh chung.
Nếu bộ não đúng là hoạt động như vậy thì cũng là điều hợp lẽ. Nó vốn là một bộ phận rất tốn kém. Dù chiếm 2 phần trăm khối lượng cơ thể nhưng nó dùng đến một phần năm lượng ôxy chúng ta hít vào và đốt hết một phần tư lượng glucose. Bộ não cũng là cơ quan tiêu tốn năng lượng nhất trong cơ thể và được chọn lọc tự nhiên gọt giũa cực kỳ nghiêm khắc để đáp ứng hiệu quả những nhiệm vụ vốn là mục đích tiến hóa của nó. Có thể nói mục đích chung của hệ thần kinh, từ cơ quan cảm biến cung cấp thông tin đến các nhóm tế bào thần kinh giải mã thông tin đó, là nhằm hiểu chuyện gì đang diễn ra ở hiện tại và điều gì sẽ xảy ra trong tương lai, để chúng ta có thể phản ứng lại theo cách khả dĩ nhất. Lược bỏ đi những cảm xúc, triết lý, những rối loạn thần kinh chức năng và giấc mơ, thì bộ não chúng ta, theo nghĩa hẹp nhất, về cơ bản là cỗ máy dự đoán và lập kế hoạch. Để hoạt động hiệu quả, chúng phải tìm ra trật tự trong đống hỗn loạn những ký ức khả dĩ. Từ lượng dữ liệu khổng lồ đổ vào thông qua các giác quan, bộ não phải nhanh chóng lọc thông tin nào sẽ ảnh hưởng đến tương lai và chú tâm vào nó, bỏ qua những thông tin gây nhiễu. Phần lớn các thông tin hỗn loạn mà bộ não lọc bỏ là lời nói, bởi hầu hết trường hợp, ngôn ngữ dùng để truyền đạt ý tưởng thực ra chỉ là món đồ trang trí. Cái quan trọng ấy chính là res, ý nghĩa của những lời đó. Và bộ não chúng ta lại nhớ rất tốt cái ý nghĩa đó. Trong đời thực, ngoài việc làm chứng ở nghị viện hay tại vòng thi nhớ thơ ở cuộc thi trí nhớ quốc tế, thì chẳng mấy ai bị yêu cầu phải ghi nhớ từng chữ - ad verbum.
Cho đến cái tích tắc cuối cùng của đồng hồ lịch sử, sự truyền thụ văn hóa vẫn được hiểu theo nghĩa truyền khẩu từ miệng nói vào tai nghe, và thơ ca là phương tiện trung gian chủ yếu để truyền thông tin qua không gian và từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đọc thơ không chỉ là cách đơn giản để kể lại những câu chuyện vui thú và quan trọng, hay để diễn tả trí tưởng tượng. Theo lập luận của nhà kinh điển Eric Havelock, nó là “một kho lưu giữ khổng lồ những trí thức hữu ích, một dạng bách khoa thư về đạo đức, chính trị, và công nghệ mà những công dân hữu ích buộc phải học để trang bị kiến thức cơ bản.” Những tác phẩm truyền khẩu vĩ đại được truyền lại như một di sản văn hóa chung, thường không phải trên giá sách, mà trong các bộ não.
Sự tồn tại của những người ghi nhớ chuyên nghiệp tồn tại trong văn hóa truyền khẩu trên khắp thế giới là để truyền lại di sản đó qua các thế hệ. Ở Ấn Độ, toàn bộ tầng lớp tăng lữ có nhiệm vụ ghi nhớ chính xác tuyệt đối kinh Vệ Đà. Ở Ảrập thời kỳ trước Hồi giáo, những người Rawi[16] thường đi cùng những nhà thơ, được coi là chuyên gia ghi nhớ chính thức. Những bài giảng của Phật được truyền khẩu liên tục suốt bốn thế kỷ mãi cho đến khi chúng được chuyển thành chữ viết ở Sri Lanka vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Và trong nhiều thế kỷ, một nhóm người gọi là tannaim (nghĩa đen, “những người đọc lại”) được thuê để ghi nhớ các luật lệ truyền khẩu cho cộng đồng Do Thái.
Tác phẩm truyền khẩu nổi tiếng nhất của phương Tây và là tác phẩm đầu tiên được nghiên cứu có hệ thống, là Odyssey và Iliad của Homer. Hai bài thơ này - có lẽ là những bài thơ đầu tiên được viết ra bằng chữ Hy Lạp - từ lâu được giữ nguyên bản về văn chương. Tuy nhiên, dù được ca tụng là hình mẫu tạo nguồn cảm hứng cho mọi tác phẩm văn chương, từ lâu hai kiệt tác này của Homer đầu thời là mối đau đầu cho giới học giả. Những nhà phê bình hiện đại ngay từ đầu cảm nhận rằng chúng khác biệt về chất lượng so với những tác phẩm ra đời sau này - thậm chí có chút kỳ lạ. Ví dụ, cả hai bài thơ đều có sự lặp lại một cách kỳ cục khi đề cập đến các nhân vật. Odysseus luôn là “Odysseus thông minh.” Bình minh bao giờ cũng là “những ngón tay hồng” Tại sao lại viết như vậy? Một vài biệt danh dường như hoàn toàn chẳng phù hợp. Tại sao lại gọi kẻ giết người Agamemnon là “Aegisthos vô tội”? Tại sao lại nói “Achilles đôi chân nhanh nhẹn” ngay cả khi chàng đang ngồi? Hay “Aphrodite cười” dù là khi nàng đang rơi lệ? Xét cả mặt cấu trúc lẫn chủ đề, Odyssey và Iliad đều cực kỳ công thức đến nỗi dễ đoán biết. Những đoạn tường thuật - tập hợp quân đội, những cái khiên vĩ đại, thách đấu giữa các đối thủ - xuất hiện hết lần này đến lượt nọ, chỉ khác nhau về nhân vật và tình huống. Xét trong những kiệt tác được cân nhắc kỹ lưỡng và tinh tế như vậy, những điều kỳ quặc này xem ra khó mà giải thích.
Trọng tâm của mối băn khoăn về những tác phẩm văn chương sớm nhất này là hai câu hỏi: Thứ nhất, làm sao văn học Hy Lạp bỗng đâu lại sản sinh ra hai tác kiệt tác này? Chắc chắn vài câu chuyện kém hoàn thiện hơn đã được sáng tác trước đó, và hai tác phẩm này chỉ là tác phẩm đầu tiên được lưu lại mà thôi. Thứ hai, chính xác tác giả là ai? Hay các tác giả là ai? Không hề có bằng chứng lịch sử về Homer, và không có một tiểu sử đáng tin nào về sự tồn tại của con người này, ngoại trừ những đoạn tự ám chỉ ngay trong chính những văn bản đó.
Jean-Jacques Rousseau là một trong những nhà phê bình hiện đại đầu tiên đưa ý kiến rằng Homer không phải là một tác giả theo nghĩa hiện đại, nghĩa là một cá nhân ngồi viết một câu chuyện rồi xuất bản cho những người khác đọc. Trong Tiểu luận về Nguồn gốc Ngôn ngữ năm 1781, triết gia Thụy Sĩ cho rằng Odyssey và Iliad có lẽ “được viết dựa theo ký ức của nhiều người. Sau này chúng được tập hợp cẩn thận dưới dạng chữ viết”, nhưng Rousseau cũng chỉ tìm hiểu đến đấy. Cũng viết vào thế kỷ mười tám, một nhà ngoại giao và khảo cổ người Anh tên Robert Wood đưa ra ý kiến rằng Homer là người mù chữ, và rằng các tác phẩm của ông được lưu trong trí nhớ. Đó là một giả thiết mang tính cách mạng, nhưng Wood không thể đưa ra được giả thiết nhằm lý giải làm sao Homer có được thành tựu trí nhớ tuyệt vời như vậy.
Năm 1795, nhà ngữ văn người Đức Friedrich August Wolf lần đầu tiên lập luận rằng không những những tác phẩm của Homer không phải do Homer viết ra, chúng còn không phải của Homer. Chúng là một tập hợp rời rạc những bài hát được truyền qua nhiều thế hệ ca sĩ dân gian Hy Lạp, và sau này được biên soạn lại dưới hình thức văn bản như ngày nay.
Năm 1920, một học giả mười tám tuổi tên Milman Parry chọn đề tài tác-giả-Homer làm luận án thạc sĩ ở Đại học California, Berkeley. Anh ta đưa ra ý kiến lý do các sử thi của Homer có vẻ không giống những tác phẩm văn chương khác là bởi chúng thực sự không giống thứ văn chương khác. Parry đã phát hiện ra điều Wood và Wolf đã bỏ qua: chứng cứ về thi ca truyền khẩu ở ngay trong chính văn bản. Tất cả những sự kỳ quặc về phong cách: gồm tính công thức và sự tái diễn các yếu tố cốt truyện và những biệt danh lặp đi lặp lại một cách kỳ cục - “Odysseus thông minh” và “Athena mắt nâu” - vốn luôn làm người đọc bối rối thực ra giống như dấu vân tay của người thợ gốm: bằng chứng cụ thể cho biết các bài thơ này được làm ra như thế nào. Chúng là những yếu tố giúp ghi nhớ, để những ca sĩ dân gian khớp với nhịp và hình thức của một câu thơ, và ghi nhớ nội dung chính của bài
thơ. Theo Parry, các tác giả vĩ đại nhất thời cổ xưa, “một trong những truyền thống lâu đời những thi sĩ truyền khẩu đã... sáng tác toàn bộ mà không có chữ viết trợ giúp.”
Parry nhận ra nếu ta định làm một bài thơ dễ nhớ, thì Odyssey và Iliad chính là thể loại thơ ta sẽ tạo ra. Người ta bảo sự sáo rỗng là tội lỗi tệ nhất mà một tác giả có thể phạm phải, nhưng với một nghệ sĩ dân gian truyền khẩu, chúng lại rất quan trọng. Chính bởi sự sáo rỗng dễ dàng đi vào lời nói và chữ viết - dễ đi vào trí nhớ - nên đó lý do tại sao chúng đóng một vai trò quan trọng trong kể chuyện truyền khẩu. Odyssey và Iliad, đã vận dụng và có đầy rẫy những lỗi sáo rỗng. Trong một nền văn hóa lệ thuộc vào trí nhớ thì điều quan trọng là người ta phải - như lời của Walter Ong, “nghĩ những điều dễ nhớ.” Bộ não rất giỏi nhớ những điều được lặp lại, có nhịp điệu, vần điệu, có cấu trúc, và trên hết là dễ hình dung. Các ca sĩ dân gian phát hiện ra những quy tắc này khi họ cắt gọt những câu chuyện qua quá trình kể đi kể lại, đây cũng chính là những quy tắc ghi nhớ cơ bản mà các nhà tâm lý học đã phát hiện lại khi họ bắt đầu tiến hành những thí nghiệm khoa học đầu tiên về trí nhớ vào lúc chuyển giao sang thế kỷ hai mươi: lời nói có vần nhịp dễ nhớ hơn lời nói không có vần nhịp; những danh từ cụ thể dễ nhớ hơn những danh từ trừu tượng; những hình ảnh linh động dễ nhớ hơn hình ảnh tĩnh; sự lặp âm đầu giúp việc ghi nhớ dễ dàng hơn. Ý nghĩ về một con chồn vằn ngụp vào nước dễ lưu lại trong trí nhớ hơn ý nghĩ về con chồn hoa đang thực hiện hoạt động thể chất.
Bài hát là cách hữu hiệu nhất trong số các mẹo ghi nhớ mà các ca sĩ dân gian sử dụng. Nếu bạn có thể chuyển một tổ hợp các từ thành nhịp điệu, những từ ấy sẽ rất khó bị tống ra khỏi đầu bạn.
Bộ não chắt lọc ý nghĩa của thế giới bằng cách tìm ra những mô thức và cấu trúc của thông tin, và chuyển lời nói thành âm nhạc và vần điệu là một cách bổ sung thêm mô thức và cấu trúc vào ngôn ngữ. Đó là lý do những nghệ sĩ dân gian Homer hát những bài sử thi truyền khẩu, lý do mà kinh Torah được xem là có nhạc tính, và cũng là nguyên nhân chúng ta dạy bảng chữ cái cho trẻ em bằng bài hát, chứ không phải dạy hai sáu chữ cái đơn lẻ. Bài hát là công cụ cấu trúc cơ bản cho ngôn ngữ.
Sau khi chuyển đến Harvard và trở thành giáo sư trợ giảng, Parry có bước ngoặt độc đáo trong công việc. Thay vì bám vào các thư tịch cổ Hy Lạp, nhà kinh điển trẻ tuổi sang Nam Tư tìm kiếm những ca sĩ dân gian còn sót lại, những người vẫn thực hành một hình thức thi ca truyền khẩu giống như nghệ thuật Homer. Anh quay lại Cambridge với hàng ngàn bản ghi âm đã đặt nền móng cho một ngành học thuật mới nghiên cứu truyền thống truyền khẩu.
Trong khi nghiên cứu điền dã, Parry phát hiện ra rằng thay vì truyền đạt nguyên văn bài thơ từ nghệ sĩ này sang nghệ sĩ khác và từ thế hệ này sang thế hệ khác, những nghệ sĩ hát vè Balkan (được cho là giống những các nghệ sĩ Homer tiền bối) sẽ truyền lại các quy tắc và giới hạn cho phép nghệ sĩ - bất cứ nghệ sĩ nào - dựng lại một bài thơ mỗi lần anh ta kể lại. Mỗi lần kể lại, câu chuyện không giống y như trước, nhưng rất sát.
Khi được hỏi họ có lặp lại nguyên văn những bài hát không, các nghệ sĩ dân gian Sla-vơ đã trả lời, “từng chữ và từng dòng”. Ấy nhưng khi những bản ghi hai lần trình diễn được mang ra đối chiếu, chúng rõ ràng là khác nhau. Những ca từ thay đổi, những dòng thơ bị xáo trộn, những đoạn thơ bị mất. Các nghệ sĩ Sla-vơ không phải là quá tự tin khi nói vậy, chỉ vì họ không có khái niệm về ghi nhớ từng chữ. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Không có chữ viết thì cũng chẳng cách nào kiểm tra xem điều lặp lại có chính xác không.
Tính biến đổi này trong thơ ca truyền khẩu cho phép nghệ sĩ truyền đạt nội dung tới khán giả, nhưng nó cũng cho phép tạo ra những phiên bản dễ nhớ hơn. Các nhà văn hóa dân gian đã so sánh những bài thơ truyền khẩu giống như viên đá cuội bị nước bào mòn. Qua nhiều lần kể lại, chúng sẽ trở nên trơn tru hơn vì những phần khó nhớ bị lược bỏ hay làm cho dễ nhớ hơn và được lặp lại. Những thứ ngoài lề không liên quan bị bỏ quên. Những chữ dài và hiếm thường bị tránh sử dụng. Khi vừa phải đáp ứng được tính hình ảnh và sự lặp âm đầu vừa phải phù hợp với nhịp của câu thơ, các nghệ sĩ dân gian thường không có nhiều từ ngữ để chọn. Cấu trúc viết nên bài thơ. Quả thật, công trình của những người kế tục Parry đã phát hiện ra gần như mọi từ trong Odyssey và Iliad đều phù hợp với một số dạng giản đồ hay mô thức làm bài thơ dễ nhớ hơn.
Cũng chẳng phải chuyện trùng hợp khi cho rằng thuật ghi nhớ do Simonides phát minh ra vào đúng thời điểm xuất hiện chữ viết ở Hy Lạp cổ, khoảng thế kỷ thứ năm trước Công nguyên. Trí nhớ không còn là điều đương nhiên phải có như ở giai đoạn tiền chữ viết ở Hy Lạp. Những kỹ thuật cổ xưa của các nghệ sĩ Homer dân gian, những nhịp điệu và công thức, không đủ giúp giữ trong đầu những ý nghĩ mới mẻ và phức tạp mà con người bắt đầu suy nghĩ đến. “Trình diễn truyền khẩu thơ như ban đầu đã bị tước bỏ đi mục tiêu chức năng và được giao phó cho vai trò thứ sinh là giải trí, một chức năng nó vẫn luôn có nhưng giờ đây trở thành mục đích duy nhất,” Havelock viết. Không còn chịu những ràng buộc về quy tắc truyền khẩu, thơ ca bắt đầu trở thành nghệ thuật.
Vào thời gian tác giả Ad Herennium ngồi viết cuốn sách về thuật hùng biện vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, chữ viết đã xuất hiện được một thế kỷ và là một phần quan trọng của thế giới La Mã cũng giống như máy tính đối với thời đại chúng ta. Những bài thơ do những thi sĩ cùng thời với ông như Virgil, Horace, và Ovid với những kiệt tác cùng thế kỷ với Ad Herennium đều được đưa vào trang viết. Mỗi một từ được cẩn trọng lựa chọn, đó là sản phẩm của riêng một nghệ sĩ diễn tả thế giới quan của họ. Khi được viết lên trang giấy, những từ đó được xem là không thể sửa đổi. Nếu bạn định ghi nhớ một bài thơ, thì bạn cần đến memoria verborum. Còn Rerum không có tác dụng.
Tác giả khuyết danh của Ad Herennium cho rằng phương pháp tốt nhất để ghi nhớ thơ từng chữ là lặp lại một câu từ hai đến ba lần, trước khi xem nó như một chuỗi hình ảnh. Đây là phương pháp ít nhiều được Gunther Karsten sử dụng trong phần thi thơ. Ông ta gán mỗi từ vào một điểm trên tuyến đường. Nhưng phương pháp này có một nhược điểm: có rất nhiều từ không thể hình ảnh hóa được. Từ “và” sẽ trông như thế nào? Hay mạo từ “the”? Cách đây hai ngàn năm, Metrodorus xứ Scepsis, một người cùng thời với Cicero, đã đề xuất giải pháp cho vấn đề nan giải là làm thế nào để thấy cái không thể thấy. Metrodorus phát triển một hệ thống những hình ảnh mặc định thể hiện những liên từ, mạo từ, và những thành phần kết nối câu. Nó cho phép ông ghi nhớ từng lời bất cứ điều gì ông đọc hoặc nghe được. Quả thật, thư viện biểu tượng của Metrodorus dường như được dùng rộng rãi ở Hy Lạp cổ. Ad Herennium có nói rằng “hầu hết người Hy Lạp đã viết về trí nhớ dần tạo ra danh sách những hình ảnh tương ứng với một lượng lớn từ ngữ, để những ai muốn học thuộc những hình ảnh đó có thể học được ngay mà không mất công tìm kiếm chúng.” Dù Gunther không sử dụng các biểu tượng của Metrodorus, không may đã thất lạc trong lịch sử, ông ta tạo từ điển hình ảnh cho riêng mình, khoảng chừng hai trăm từ phổ biến mà không dễ hình ảnh hóa. “Và” là một vòng tròn (“và” hợp vần với rund, trong tiếng Đức nghĩa là vòng tròn). Mạo từ “the” là hình ảnh một người đang đi bằng đầu gối (die, tiếng Đức cho mạo từ “the”, hợp vần với Knie, là từ tiếng Đức có nghĩa “đầu gối”.) Khi bài thơ đến đoạn ngắt dòng, ông ta gắn một con ốc vào cung trí nhớ.
Gunther có thể ghi nhớ một tài liệu hướng dẫn sửa đầu máy video cũng dễ dàng như nhớ
một bài sonnet của Shakespeare. Thật ra, một tài liệu hướng dẫn sửa đầu video dễ nhớ hơn rất nhiều, vì nó đầy những chữ cụ thể, dễ hình dung, như “nút,” “tivi,” và “ổ cắm.” Thách thức của việc ghi nhớ thơ là tính trừu tượng của nó. Những chữ như “chóng tàn” hay “bản thể” không thể nào trông thấy được thì phải làm sao?
Phương pháp của Gunther nhằm tạo hình ảnh cho cái không thể hình dung là một phương pháp rất cổ xưa: hình dung một từ đồng âm. Một nhà thần học, nhà toán học người Anh ở thế kỷ mười bốn Thomas Brawardine, người sau này đã được chỉ định làm Tổng giám mục Canterbury, đã sử dụng hình thức ghi nhớ từng từ này ở mức độ phát triển cao nhất và cũng buồn cười nhất. Ông mô tả một phương pháp gọi là memoria sillabrarum (nhớ từng âm tiết), có thể dùng để nghi nhớ những từ khó hình dung. Hệ thống của Bradwardine chia một từ thành những âm tiết cấu thành, rồi tạo hình ảnh cho mỗi âm tiết dựa trên một từ khác bắt đầu với âm tiết đó. Ví dụ, nếu ta muốn ghi nhớ âm tiết “ab-”, thì ta phải hình dung một abbot (cha trưởng tu viện.) Với “ba-” ta phải hình dung một người bắn nỏ (balistratius). Khi nối lại với nhau, một dãy những âm tiết này trở thành một dạng trò chơi đuổi hình bắt chữ (Nhóm nhạc pop Thụy điển Abba có thể được nhớ dưới hình ảnh một cái nỏ đang bắn vào cha trưởng tu viện.) Quá trình chuyển những từ thành hình ảnh liên quan đến một dạng ghi nhớ bằng cách quên: Để ghi nhớ một từ theo âm của nó, nghĩa của nó phải hoàn toàn bị lược bỏ. Bradwardine có thể diễn giải lời cầu nguyện ngoan đạo nhất thành một cảnh lố bịch. Ghi nhớ câu chủ đề của một bài thuyết giảng bắt đầu “Benedictus Dominus qui per,” ông ta thấy “cảnh tượng thánh Benedictine, bàn tay trái đang múa máy với một con bò trắng có những núm vú đỏ rực đang chèn một con gà gô, trong khi tay phải thì vuốt ve cào cấu thánh Dominic.”
Ngay từ khi xuất hiện, thuật ghi nhớ đã luôn chứa đựng rủi ro. Do mải chú tâm vào những hình ảnh kỳ lạ và đôi khi quá tục tĩu, nó bị những người coi trọng sự đoan chính chỉ trích nặng nề. Dù sao cũng khá kỳ lạ, việc trong trí tưởng tượng của Bradwardine kết hợp những điều tôn kính với cái bất kính lại không làm các tăng lữ đức cao vọng trọng bày tỏ sự khó chịu trước. Lời công kích mạnh mẽ về đạo đức lại được phát động bởi một người Thanh giáo vào thế kỷ mười sáu, tên William Perkins ở Cambridge. Ông chê bai thuật ghi nhớ là mang tính chất sùng bái và “nghịch đạo, bởi nó gợi nên những ý nghĩ lố bịch, láo xược, kỳ dị và những thứ tương tự, chúng kích thích và thắp lên những tình cảm nhục dục suy đồi.” Quả thực là nhục dục. Perkin đã giận dữ đến bốc hỏa khi Peter of Ravenna thừa nhận rằng ông ta dùng những hình ảnh khêu gợi về thiếu nữ để kích thích trí nhớ.
Trong số mười phần thi ở Giải vô địch Thế giới Trí nhớ, phần thi thơ là phần thí sinh đưa vào sử dụng nhiều chiến lược nhất. Nhưng nói chung, có thể chia các vận động viên trí óc thành hai nhóm, và tình cờ thay sự phân nhóm này lại gần như trùng theo giới tính. Trong khi Gunther và hầu hết các thí sinh nam dự giải dùng chiến lược phương pháp, thì các thí sinh nữ tiếp cận thách thức này theo cách cảm tính hơn. Corinna Draschl, mười lăm tuổi, người Áo, trong chiếc áo phông đỏ, đi tất đỏ, đội mũ phớt đỏ, bảo tôi rằng em không thể nhớ một đoạn chữ trừ phi em hiểu nghĩa của nó. Hơn thế nữa, em phải hiểu cảm giác đó như thế nào. Em chia bài thơ thành những đoạn nhỏ, rồi gán cho mỗi đoạn ngắn một chuỗi cảm xúc. Thay vì liên kết những từ với các hình ảnh, em liên hệ chúng với cảm xúc.
“Em cảm nhận tác giả cảm nhận thế nào, ý của tác giả là gì. Em tưởng tượng tác giả buồn hay vui,” em bảo tôi khi ở hành lang ngoài phòng thi đấu. Điều này không phải xa lạ gì so với cách các diễn viên ghi nhớ kịch bản. Nhiều diễn viên sẽ bảo bạn rằng họ chia các dòng thoại thành những đơn vị họ gọi là “nhịp,” mỗi nhịp nhân vật sẽ có ý định hoặc mục tiêu cụ thể, họ sẽ tập đồng cảm với ý định/mục tiêu đó. Kỹ thuật này, được gọi là phương pháp
diễn xuất, đã tiên phong ở Nga bởi Konstantin Stanislaviski khoảng đầu thế kỷ trước. Stankislavski quan tâm đến những kỹ thuật này không phải tiềm năng ghi nhớ của chúng, mà vì đó như là một công cụ giúp diễn viên thể hiện nhân vật của mình chân thực hơn. Nhưng phương pháp diễn xuất thực ra là một kỹ thuật tạo cho câu thoại những cái móc gắn kết với bối cảnh cả về mặt cảm xúc và thực tế. Phương pháp diễn xuất là một cách làm các từ ngữ dễ nhớ hơn. Quả thật, nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng nếu bạn đề nghị ai đó ghi nhớ một câu như “Cầm bút lên,” người đó thì sẽ dễ nhớ hơn nếu thực sự cầm bút lên khi họ học thuộc câu đó.
Rốt cuộc, ở phần thi nhớ thơ Gunther đã để thua Corinna Draschl và mất chức vô địch. Giải thưởng cao nhất vào tay một trong những người được ông ta bảo trợ, một sinh viên luật vùng Bavaria, mười tám tuổi, trầm lắng và rất tập trung, tên Clemens Mayer, anh ta nói thứ tiếng Anh bập bõm và không quan tâm đến việc thực hành tiếng Anh với tôi. Sau khi sơ sểnh ở phần thi đọc số, tên-người-và-khuôn-mặt, Ben Pridmore đứng thứ tư trong bảng xếp hạng tổng, anh ta kéo sụp vành mũ đen xuống, rồi một mình bước ra khỏi cửa, và thề rằng ngay ngày hôm sau sẽ bắt đầu tập luyện để giành lại danh hiệu.
Ed còn tệ hơn. Trong số ba mươi sáu thí sinh, anh ta nằm trong số mười một người không nhớ nổi trọn cỗ bài trong hai phần thi nhớ bài nhanh, chẳng khác nào một vận động viên hai lần liên tiếp bỏ lỡ cơ hội ghi điểm. Anh ta cố hoàn thành trong thời gian ngắn những mong có vị trí xếp hạng cao hơn, nhưng anh ta mất kiểm soát và quá nóng vội. Cuối cùng anh ta thất vọng với vị trí mười một trên bảng xếp hạng chung, và hờn dỗi bước ra cửa, mồ hồi nhễ nhãi. Tôi chạy theo níu anh ta hỏi xem chuyện xảy ra: “Quá nhiều tham vọng,” anh ta chỉ nói vậy, rồi lắc đầu. “Gặp lại anh ở nhà.”
Anh ta bước qua cầu Magdalen, tìm đến một quán rượu để xem trận cricket và uống bia Guinness cho đến khi quên đi thất bại.
Đứng trước phòng khảo thí của Oxford, nhìn các thí sinh vò đầu, xoay xoay cây bút khi cố nhớ bài thơ “Miserare,” tôi cảm nhận một cách sâu sắc điều kỳ lạ ở đây: nơi duy nhất còn sót lại mà thuật ghi nhớ cổ xưa vẫn đang được thực hành, hay ít nhất được tôn vinh, là trong cuộc thi bó hẹp này, và giữa nhóm thiểu số những người kỳ quặc này. Nơi đây, tại một trong trung tâm học thuật của thế giới, là vết tích cuối cùng của Thời hoàng kim vinh quang của Trí Nhớ.
Rõ ràng đã xảy ra một sự thoái trào khủng khiếp từ Thời hoàng kim đó đến thời đại có phần xám xịt ngày nay. Con người từng lao động để vun đắp cho trí óc. Họ đầu tư thu nạp ký ức theo đúng cách mà chúng ta đầu tư mua sắm đồ vật. Nhưng ngày nay, ngoài cánh cửa gỗ sồi của phòng khảo thí Oxford, đại đa số chúng ta không tin vào trí nhớ của mình. Chúng ta tìm con đường tắt để tránh dựa vào chúng. Chúng ta không ngớt than phiền về chúng, và thậm chí coi những sai lầm nhỏ nhặt nhất của trí nhớ là chứng cứ cho thấy chúng bắt đầu không còn giúp ích gì cho ta nữa. Tại làm sao, trí nhớ vốn một thời quan trọng như vậy, giờ đây lại trở nên thứ yếu? Tại sao những kỹ thuật này lại biến mất? Tôi tự hỏi, làm thế nào nền văn hóa của chúng ta rốt cuộc lại quên mất cách ghi nhớ?
Chương bảy
Sự cáo chung của ghi nhớ
gày xưa, người ta từng có thời buộc phải ghi nhớ mọi suy nghĩ. Không có bảng chữ cái để ghi lại những suy nghĩ, không có giấy để viết lên. Bất cứ điều gì cần lưu lại thì đều được giữ trong trí nhớ. Bất cứ câu chuyện nào cần kể lại, bất cứ ý tưởng nào cần truyền lại, bất cứ mẩu thông tin nào cần chuyển tải, trước tiên chúng phải được ghi nhớ. Ngày nay, dường như chúng ta ghi nhớ rất ít. Khi thức dậy, điều đầu tiên tôi làm là kiểm tra lịch trong ngày, nó ghi lại những việc tôi sẽ làm, nên tôi không cần phải nhớ. Khi leo lên xe, tôi mở thiết bị định vị (GPS) chọn đích đến, trí nhớ không gian của thiết bị này thế chân cho trí nhớ không gian của tôi. Khi ngồi vào bàn làm việc, tôi nhấn nút play trên máy ghi âm kỹ thuật số hoặc mở cuốn sổ ghi nội dung các cuộc phỏng vấn. Tôi có các tấm hình lưu giữ những hình ảnh mình muốn ghi nhớ, những cuốn sách lưu giữ tri thức, và giờ đây, nhờ có Google, hiếm khi nào tôi phải nhớ bất cứ điều gì khác, mà chỉ cần cụm từ tìm kiếm phù hợp là có thể truy cập vào bộ nhớ tập thể của nhân loại. Ngày xưa, vào cái thời mà muốn gọi một cuộc điện thoại người ta vẫn phải nhấn bảy nút bấm, hoặc quay những vòng số nặng nề, thì tôi còn có thể nhớ được số của những bạn thân và gia đình mình. Ngày nay, tôi không biết mình có thuộc được nhiều hơn bốn số điện thoại không. Và có vẻ như vậy là giỏi lắm rồi. Theo một cuộc điều tra năm 2007 do một nhà tâm lý học ở Trường Trinity Dublin thực hiện, một phần ba người Anh ở độ tuổi dưới 13 không thể nhớ được số điện thoại của nhà mình nếu không lấy điện thoại cầm tay ra xem. Cuộc điều tra này cũng nhận thấy 30 phần trăm người lớn không thể nhớ ngày sinh của quá ba người thân trong gia đình. Các đồ dùng đã loại bỏ nhu cầu ghi nhớ những điều như vậy.
Quên số điện thoại hay ngày sinh nhật thể hiện những xói mòn nhỏ nhặt của trí nhớ hàng ngày, và cũng phản ánh phần nào thực trạng lớn hơn, đó là chúng ta đã hất bỏ trí nhớ tự nhiên để thay bằng một siêu cấu trúc công nghệ khổng lồ, gồm từ từ bảng chữ cái đến điện thoại Blackberry. Công nghệ lưu giữ thông tin ngoài bộ não giúp làm cho thế giới hiện đại tồn tại được như hiện nay nhưng chúng cũng thay đổi cách chúng ta suy nghĩ và cách dùng bộ não.
Trong cuốn sách Phaedrus của Platos, Socrates thuật lại chuyện thần Theuth của Ai Cập, người phát minh ra chữ viết, đã đến gặp vua Thamus của Ai Cập và đề nghị ban tặng phát minh kỳ diệu của mình cho người dân Ai Cập. “Đây là một nhánh tri thức, nó sẽ... cải thiện trí nhớ của họ,” Theuth nói với vua Ai Cập. “Phát hiện của ta phục vụ cho cả trí nhớ lẫn trí tuệ.” Nhưng vua Thamus dè dặt, không chấp nhận món quà. “Nếu con người học được chữ viết, nó sẽ cấy sự lãng quên vào tâm hồn họ,” nhà vua bảo với thần. “Họ sẽ không dùng đến trí nhớ và trở nên chóng quên; họ sẽ ỷ lại vào điều được viết ra, họ sẽ không dựa vào trí nhớ để gọi tên đồ vật nữa mà nhờ những dấu hiệu bên ngoài. Điều ngươi phát hiện ra không phải đem đến trí nhớ, mà sự nhắc nhở. Và cái ngươi ban tặng cho các môn đệ không phải trí tuệ thực sự mà chỉ là thứ trông giống trí tuệ thôi, vì khi kể họ nghe rất nhiều thứ nhưng không dạy họ điều gì cả, ngươi sẽ làm cho họ dường như biết được rất nhiều, trong khi đa phần họ chẳng biết gì hết. Và khi con người ta không được bồi đắp trí tuệ, mà chỉ có lòng tự phụ rằng mình có trí tuệ, thì họ sẽ trở thành một gánh nặng cho đồng loại.”
Socrates tiếp tục chê bai ý tưởng truyền tri thức qua chữ viết, ông bảo “phải hồn nhiên lắm mới đi tin những lời nói được viết ra có thể làm được gì hơn cái việc là nhắc nhở người ta điều họ đã biết.” Đối với Socrates chữ viết chẳng gì hơn sự gợi ý cho trí nhớ - một cách nhắc nhở về thông tin ta đã có sẵn trong đầu. Socrates lo sợ chữ viết sẽ đưa nền văn hóa
vào con đường dối trá dẫn đến suy tàn về đạo đức và tri thức, bởi dù số lượng tri thức sẵn có cho con người sẽ tăng lên nhưng chính họ sẽ trở thành những cái bình rỗng. Tôi tự hỏi liệu Socrates có nhận thức được sự mỉa mai hiển nhiên này không: Chính bởi các môn đồ của ông là Plato và Xenophon đã viết ra sự khinh thị của ông đối với chữ viết nên ngày nay chúng ta mới biết đến điều đó.
Socrates sống vào thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, thời kỳ chữ viết trở nên phổ biến ở Hy Lạp, và quan điểm của ông đã thành lỗi thời. Tại sao ông tránh né chuyện đặt bút lên trang giấy đến vậy? Giữ ký ức lên trang giấy dường như là cách ưu việt hơn nhiều so với cố giữ nó trong bộ não. Bộ não luôn mắc sai lầm, nó quên đi, hoặc nhớ nhầm. Chữ viết là cách chúng ta vượt qua được những hạn chế cố hữu về mặt sinh học ấy. Nó cho phép trí nhớ của chúng ta thoát khỏi bộ não dễ mắc sai lầm và nằm an toàn trên trang giấy, nơi chúng có thể tồn tại vĩnh viễn và (đôi khi có người hy vọng) được phổ biến sâu rộng qua không gian và thời gian. Chữ viết cho phép truyền những ý tưởng qua các thế hệ, không sợ sự biến đổi tự nhiên vốn là một phần tất yếu của văn hóa truyền khẩu.
Để rõ tại sao trong thế giới của Socrates trí nhớ lại quan trọng, chúng ta phải hiểu đôi nét sự tiến hóa của chữ viết, và những điểm khác biệt về hình thức và chức năng của những cuốn sách thời xa xưa. Chúng ta phải quay lại thời kỳ trước in ấn, trước khi có những bảng mục lục và phụ lục, trước khi những cuốn sách chép tay được chia thành trang và đóng theo gáy, trước khi có dấu câu, trước khi có chữ viết thường, và thậm chí trước khi có dấu cách giữa các từ.
Ngày nay chúng ta viết lại được chính xác mọi việc nên chúng ta không giữ chúng trong trí nhớ. Nhưng ít nhất đến cuối thời Trung cổ, những cuốn sách không phải là vật thay thế cho trí nhớ, mà chỉ là phương tiện trợ giúp trí nhớ. Như Thomas Aquinas đã nói, “Mọi thứ được viết vào những cuốn sách cụ thể là để giúp ghi nhớ.” Người ta đọc để ghi nhớ, và những cuốn sách là phương tiện có sẵn tốt nhất để đưa thông tin vào trí não. Thực ra, những bản viết tay thường được sao chép lại không ngoài mục đích nào khác là giúp người sao chép ghi nhớ chúng.
Vào thời Socrates, những văn tự Hy Lạp được viết trên những cuộn giấy dài liên tục - đôi khi dài tận 18 mét - giấy làm từ cây thủy trúc (papyrus), được ép mỏng thành tờ rồi dán vào nhau, loại giấy này nhập khẩu từ đồng bằng sông Nile. Đọc những cuốn sách này đã khó, viết ra chúng lại càng khó hơn. Quả là chẳng dễ phát minh cách nào kém thân thiện hơn để tiếp cận thông tin như vậy. Thực tế, mãi cho tới năm 200 trước Công nguyên, những dấu câu cơ bản nhất do Aristophanes xứ Byzantium sáng tạo ra, ông là quản lý Thư viện Alexandria, và dấu câu chỉ là dấu chấm duy nhất hoặc ở cuối, ở giữa, hoặc đầu dòng để người đọc biết quãng mà dừng giữa các câu. Còn về các từ, chúng nối tiếp nhau thành một chuỗi dài dằng dặc những chữ viết hoa được gọi là scriptio continua, không có khoảng trống hay dấu ngắt. Những từ bắt đầu trên một dòng sẽ tràn lên dòng kế tiếp thậm chí chẳng hề có dấu gạch ngang.
ASYOUCANSEEITSNOTVERYEASYTOREADTE XTWRITTENWITHOUTSPACESORPUNCTUATI ONOFANYKINDOREVENHELPFULLYPOSITIO NEDLINEBREAKSANDYETTHISWASEXACTLY
THEFORMOFINSCRIPTIONUSEDINANCIENT GREECE[17]
Những con chữ trong cuốn sách này chúng tạo thành từ mang ngữ nghĩa, còn những chữ cái được viết trong scriptio continua có chức năng giống những nốt nhạc. Chúng chỉ đến những âm phát ra từ miệng người nói. Để dựng lại những âm đó thành các từ riêng rẽ có thể hiểu được thì đòi hỏi trước hết phải nghe những âm đó đã. Ngoại trừ những nhạc sĩ hàng đầu, đa số mọi người rất khó đọc các nốt nhạc mà không xướng lên thành giai điệu; và việc đọc văn bản scriptio continua cũng vậy, rất khó đọc nếu không đọc thành tiếng. Thực ra, chúng ta biết vào thời Trung cổ, đọc hầu như luôn đồng nghĩa với đọc thành tiếng, một dạng trình diễn thường được thực hiện trước thính giả.
“Truyền tai” là cụm từ hay lặp lại trong những thư tịch thời trung cổ. Vào thế kỷ thứ tư sau Công nguyên, khi thánh Augustine quan sát thầy mình là thánh Ambrose đọc mà lưỡi không động đậy, miệng không mấp máy, ông nghĩ đó là một ứng xử bất thường đáng ghi lại vào trong cuốn sách Những lời bộc bạch (Confessions). Có lẽ mãi cho tới thế kỷ thứ chín, vào quãng thời gian việc chừa khoảng trống giữa các từ đã thành phổ biến và danh mục những dấu câu phong phú hơn, thì trang sách mới cung cấp đủ thông tin để việc đọc thầm trở nên phổ cập.
Những khó khăn liên quan đến việc đọc những văn bản như vậy cho thấy mối quan hệ giữa việc đọc và trí nhớ thời ấy rất khác so với ngày nay. Vì việc đọc thầm scriptio continua rất khó, nên đọc lại thành tiếng một cách thuần thục đòi hỏi người đọc phải quen thuộc với văn bản ở mức độ nhất định. Người đọc - hầu hết là đàn ông - phải sẵn sàng cho việc đọc, phải làm dấu ngắt quãng trong đầu, và ghi nhớ nó phần nào, nếu không nói toàn bộ - bởi vì chuyển một chuỗi âm thanh thành nghĩa không phải là điều dễ dàng trong quá trình đọc liên tục. Văn bản cần phải được đọc thuộc trước khi có thể trình diễn. Sau hết, cách người ta ngắt chữ một văn bản trong scriptio continua có thể tạo ra sự khác biệt. Như nhà sử học Jocelyn Penny Small chỉ ra, GODISNOWHERE khi tách ra thành GOD IS NOW HERE (Chúa ở đây) có nghĩa khác với GOD IS NOWHERE (Chúa không ở đâu cả).
Hơn nữa, nếu muốn trích ra điều gì từ một cuộn văn bản scriptio continua, người ta phải đọc hết nó từ trên xuống dưới. Một cuộn giấy chỉ có một điểm đầu dòng duy nhất, chính là từ đầu tiên. Vì phải gỡ cả cuộn để đọc mà không có dấu câu hay đoạn văn để chia nhỏ văn bản ra - chứ đừng nói đến đánh số trang, mục lục, chương hồi và phụ lục - nên không thể nào tìm ra một mẩu thông tin cụ thể mà không đọc hết toàn bộ văn bản. Đấy không phải loại văn bản dễ dàng tham khảo nếu bạn chưa ghi nhớ nó. Đây là điểm cốt yếu. Các văn tự cổ không thể đọc dễ dàng. Bạn không thể lấy một cuộn giấy trên giá sách xuống rồi nhanh chóng tìm ra một đoạn trích cụ thể trừ phi bạn đã quen thuộc với toàn bộ văn bản. Cuộn giấy tồn tại không phải để giữ các nội dung như một bộ nhớ ngoài, mà nó giúp người đọc định vị nội dung của nó bên trong đầu người đọc.
Một trong những nơi cuối cùng truyền thống đọc thuộc này vẫn còn sót lại là việc đọc kinh Torah, một cuộn sách cổ, chữ viết tay phải mất một năm mới viết xong. Kinh Torah được viết ra mà không có nguyên âm hay dấu câu (dù có khoảng trống giữa các từ, một cải tiến mà người Do thái tạo ra trước cả người Hy Lạp), nghĩa là rất khó đọc thầm. Dù không buộc phải học thuộc kinh Torah nhưng chẳng cách nào đọc một đoạn kinh Torah nếu chưa dành nhiều thời gian để trở nên quen thuộc với nó, bất kỳ cậu bé Do Thái nào đã qua lễ trưởng thành nào cũng có thể cho bạn biết như vậy. Cá nhân tôi bảo chứng cho điều này. Ngày tôi được coi là người đàn ông trưởng thành, tôi thực sự chỉ như con vẹt đội mũ.
Nhiều năm sử dụng ngôn ngữ khiến chúng ta không nhận ra, scriptio continua có nhiều điểm tương đồng với cách chúng ta nói hơn là sự cố ý phân chia từ ngữ trên trang giấy như thế này. Những câu nói trải ra liên tục như một âm dài lờ mờ. Chúng ta không nói với các quãng ngắt giữa chữ. Việc kết thúc một từ này nối liền với khởi đầu một từ khác là một quy ước ngôn ngữ mang tính tùy nghi. Nếu bạn nhìn vào hình ảnh siêu âm minh họa những sóng âm thanh của một người đang nói tiếng Anh, thì quả thật không thể biết quãng ngắt nằm ở đâu, đó là một trong những lý do vì sao việc luyện cho cho máy tính nhận ra lời nói là rất khó. Không có trí thông minh nhân tạo phức tạp với khả năng nhận biết bối cảnh, thì máy tính không cách nào biết sự khác biệt giữa “The stuffy nose may dim liquor” và “The stuff he knows made him lick her.”[18]
Có một giai đoạn, những người viết chữ Latin thực sự cố tách các từ bằng dấu chấm, nhưng vào thế kỷ thứ hai sau Công nguyên,tiến trình đảo ngược lại diễn ra,người ta quay về cách viết liên tục như tiếng Hy Lạp - một bước thụt lùi rất lớn và khó lý giải. Trong chín trăm năm sau đó, người ta không còn thấy lại những khoảng trống (giữa các từ) trong các văn bản phương Tây. Xét quan điểm tiện lợi của chúng ta ngày nay, việc tách các từ ra riêng rẽ là chuyện chẳng cần nghĩ ngợi. Nhưng việc người xưa đã thử rồi bỏ chuyện này nói lên rất nhiều điều về cách người ta đọc. Cả việc từ Hy Lạp cổ thường dùng nhất để chỉ “đọc” là ánagignósko, nghĩa là “biết lại,” hay “hồi tưởng lại” cũng vậy. Đọc là một hành vi ghi nhớ: Từ quan điểm hiện đại, liệu còn có mối quan hệ nào lạ lùng hơn giữa người đọc và văn bản?
Ngày nay, chúng ta sống giữa các con chữ in tràn ngập - bạn có tin được rằng năm vừa rồi mười tỉ cuốn sách được in không - thật khó hình dung việc đọc diễn ra như thế nào vào thời đại trước Gutenberg[19], khi sách hãy còn hiếm, và một cuốn sách chép tay đắt đỏ có thể mất hàng tháng trời viết ra. Thậm chí vào đến cuối thế kỷ mười lăm, một cuốn sách bất kỳ cũng chỉ có vài chục bản, và những bản đó chắc hẳn được xích vào bàn đọc trong các thư viện đại học cho khỏi mất, và những thư viện nếu chứa khoảng một trăm đầu sách thì cũng được xem là nhiều lắm rồi. Nếu bạn là một học giả trung cổ đang đọc một cuốn sách, bạn biết rằng có nhiều khả năng sẽ không bao giờ được xem nội dung cuốn sách ấy nữa, nên hẳn phải tính đến việc ghi nhớ điều bạn đã đọc. Bạn không thể lấy cuốn sách trên giá xuống để tham khảo một đoạn trích dẫn hay một ý nào đó trong sách. Lý do là thời ấy người ta chưa phát minh ra các giá sách hiện đại với những dãy sách quay gáy ra ngoài. Các giá sách như vậy xuất hiện khoảng thế kỷ mười sáu. Một lý do khác, những cuốn sách vẫn rất nặng, không phải là vật dễ mang. Mãi đến thế kỷ mười ba, công nghệ làm sách mới tiến bộ đến mức có thể đóng trọn bộ Kinh thánh vào một cuốn, thay vì một tập hợp nhiều cuốn riêng rẽ, và nó vẫn nặng trên 4,5kg.
Thậm chí nếu bạn có một cuốn sách trong tay, và muốn tìm đoạn gì trong sách mà không đọc cả cuốn từ đầu đến cuối thì cơ hội tìm ra là rất nhỏ. Những phụ lục còn chưa phổ biến, cả việc đánh số trang và mục lục cũng vậy.
Nhưng những khoảng trống này dần được lấp đầy. Và khi sách thay đổi, nó kéo theo sự thay đổi về vai trò của ghi nhớ trong lúc đọc. Vào khoảng năm 400, những bản sách chép tay trên giấy da, với các trang đóng vào gáy như sách bìa cứng hiện đại, đã nhanh chóng thay thế hoàn toàn sách cuộn, vì người ta ưa đọc trên sách đóng gáy hơn. Người đọc không còn phải gỡ một cuộn văn bản dài để tìm một đoạn văn. Người đọc chỉ cần lật giở đến trang phù hợp.
Phụ lục đầu tiên của Kinh thánh, một bản bản chỉ mục đồ sộ tiêu tốn công sức của năm trăm thầy tu ở Paris, được biên soạn vào thế kỷ mười ba, vào khoảng thời gian xuất hiện
kỹ thuật tách chương. Lần đầu tiên, người đọc có thể tham khảo Kinh thánh mà không cần phải ghi nhớ từ trước. Người ta có thể tìm được một đoạn trích mà không cần thuộc lòng toàn bộ sách. Không lâu sau bản phụ lục này, những cuốn sách khác cũng được làm chỉ mục theo bảng chữ cái, đánh số trang, và mục lục bắt đầu xuất hiện, và khi đã xuất hiện, chúng một lần nữa lại thay đổi bản chất của sách.
Trước khi có mục lục và chỉ mục, khó khăn đặt ra là không thể nào xác định vị trí nội dung chứa trong một cuộn giấy hay tập sách. Điều khiến cho bộ não trở thành một công cụ phi thường là nó không chỉ là một kho thông tin khổng lồ, mà nó còn là công cụ tiện lợi và hiệu quả để tìm ra thông tin. Nó sử dụng hệ thống chỉ mục truy-cập-ngẫu-nhiên vĩ đại nhất từng có - cái hệ thống mà các nhà khoa học máy tính vẫn chưa thể sao chép được. Trong khi chỉ mục đằng sau cuốn sách chỉ cung cấp một địa chỉ duy nhất - tức một trang sách cho mỗi chủ đề quan trọng, thì mỗi chủ đề trong bộ não gắn với hàng trăm nếu không nói là hàng ngàn địa chỉ. Bộ nhớ trong não có tính liên kết và phi tuyến tính. Để tìm một ký ức, bạn không cần biết nó được lưu giữ ở đâu. Nó chỉ đơn giản hiện ra (dù có khi không) khi bạn cần nó. Vì mạng lưới dày đặc liên kết các ký ức lẫn nhau, chúng ta có thể nhanh chóng lướt từ ký ức này đến ký ức khác, từ ý tưởng này đến ý tưởng khác. Từ Barry White đến màu trắng (color white), từ sữa (milk) đến Dải Thiên Hà (Milky Way) là một hành trình dài về mặt nhận thức, nhưng là cuộc dạo chơi ngắn trong hệ thần kinh.
Phụ lục là một tiến bộ rất lớn, chúng ta tiếp cận cuốn sách theo cách phi tuyến tính như khi chúng ta truy cập bộ nhớ trong đầu. Chúng giúp lật giở cuốn sách đến một đoạn nào đó như bật thẳng phần muốn nghe trong một cái đĩa CD hiện đại; trong khi một cuốn sách không có phụ lục như cuốn băng cassette, bạn phải cần mẫn lần dò cả đoạn băng dài để tìm đến phần bạn muốn. Cùng với đánh số trang và mục lục, chỉ mục đã thay đổi bản chất cuốn sách, và vai trò của sách đối với các học giả. Sử gia Ivan Illich đã lập luận rằng phát minh này lớn đến nỗi “dường như không hề quá lời khi chia thời Trung cổ thành thời kỳ trước chỉ mục và sau chỉ mục.” Khi những cuốn sách trở nên dễ dàng tham khảo hơn, nhu cầu lưu nội dung của chúng trong trí nhớ ngày càng trở nên không cần thiết, và định nghĩa về sự uyên bác đã chuyển từ “sở hữu nhiều thông tin trong trí nhớ” thành “biết phải tìm thông tin ở đâu” trong mê cung bộ nhớ ngoài.
Với những bậc tiền nhân buộc phải vận dụng tối đa trí nhớ, mục đích rèn luyện trí nhớ không phải để trở thành “cuốn sách sống”, mà là một “mục lục sống,” một chỉ mục di động về hết thảy những thứ người ta đọc, và mọi thông tin đã tiếp thu được. Không chỉ là chuyện sở hữu trong đầu một thư viện những sự việc, những câu trích dẫn, những ý tưởng; đó còn là việc xây dựng một sơ đồ tổ chức để tiếp cận chúng. Ví dụ, trường hợp Peter thành Ravenna, một luật gia hàng đầu người Ý thế kỷ mười lăm (cũng có người cho rằng ông ta là một trong những kẻ phô trương hạng nhất ở thế kỷ mười lăm) là tác giả của một trong những cuốn sách thành công thời kỳ này về trí nhớ. Quyển sách nhan đề Phoenix này được dịch ra nhiều thứ tiếng và tái bản trên toàn châu Âu. Nó là một cuốn nổi tiếng nhất trong số ít những sách chuyên khảo về trí nhớ từ thế kỷ mười ba trở đi, cuốn sách đã làm các kỹ thuật ghi nhớ, vốn từ lâu chỉ bó hẹp trong giới học giả và tăng lữ, được phổ biến ra cho các đối tượng rộng rãi hơn, là những bác sĩ, luật sư, thương nhân và những người dân thường muốn ghi nhớ những việc thường nhật. Người ta thấy những cuốn sách ở giai đoạn này đề cập đến nhiều chủ đề ghi nhớ, như làm thế nào dùng thuật ghi nhớ khi đánh bạc, làm thế nào để theo dõi công nợ, làm thế nào ghi nhớ những chuyến hàng, tên người quen và các quân bài. Về phần mình, Peter khoe khoang rằng ông đã ghi nhớ hai chục ngàn điều khoản luật, hàng ngàn câu thơ của Ovid, và hàng trăm bài diễn văn và phát biểu của Cicero, ba trăm câu châm ngôn của các triết gia, bảy ngàn lời trong Kinh thánh, cũng như vô vàn tác phẩm kinh điển khác.
Lúc rảnh rỗi, ông đọc lại những cuốn sách lưu trong nhiều cung trí nhớ của ông. “Khi tôi rời quê nhà, làm kẻ hành hương viếng thăm các thành phố của nước Ý, tôi có thể nói một cách chân thực rằng tôi mang tất cả những gì mình có,” ông viết. Để lưu giữ tất cả những hình ảnh ấy, Peter bắt đầu chuyến đi với trăm ngàn “điểm chứa” (loci), nhưng trong quá trình đi khắp châu Âu, ông luôn tạo ra những cung trí nhớ mới. Ông xây dựng trong đầu mình một thư viện những nguồn và những câu trích dẫn về mọi chủ đề quan trọng và phân loại chúng theo bảng chữ cái. Ví dụ, ông khoe rằng mục chữ A trong bộ não ông là nơi lưu giữ các nguồn tài liệu về những chủ đề “de alimentis, de alienatione, de absentia, de arbitris, de appellationibus, et de similibus quae jure nostro habentur incipientibus in dicta littera A” - nghĩa là “các điều khoản, tài sản ở nước ngoài, về sự vắng mặt, về các thẩm phán, về kháng án, về các vấn đề tương tự trong luật bắt đầu bằng chữ A.” Mỗi phần tri thức được gán cho một địa chỉ cụ thể. Khi ông muốn trình bày một chủ đề nhất định, ông chỉ cần tìm đến ngăn phù hợp trong cung trí nhớ phù hợp và lôi ra nguồn tài liệu phù hợp.
Khi mục đích của đọc là để ghi nhớ, như trường hợp của Peter thành Ravenna, bạn tiếp cận một cuốn sách theo cách hoàn toàn khác cách tiếp cận của đa số chúng ta ngày nay. Hiện tại, chúng ta coi trọng đọc nhanh và đọc nhiều, và điều này sản sinh ra một dạng đọc hời hợt, điều chúng ta tìm kiếm từ những cuốn sách cũng hời hợt theo. Bạn không thể đọc mỗi trang một phút, là tốc độ mà có lẽ bạn đang đọc cuốn sách này mà kỳ vọng nhớ được điều bạn vừa đọc trong một quãng thời gian khá dài. Nếu muốn làm một việc trở nên dễ nhớ thì bạn cần phải chăm chú vào nó và lặp đi lặp lại.
Trong tiểu luận“Nhập môn Lịch sử kỹ thuật Đọc,” Robert Darnton mô tả sự chuyển biến từ “đọc tập trung” sang “đọc nhiều”, hiện tượng này xảy ra khi lượng sách bắt đầu gia tăng. Mãi cho đến gần đây, người ta vẫn “đọc tập trung”, Darnton nói. “Họ chỉ có vài cuốn sách - Kinh thánh, một cuốn niên giám, một vài tác phẩm về tôn giáo - và họ đọc đi đọc lại chúng, thường là đọc to trước một nhóm, để cho vài ba cuốn sách truyền thống ấy hằn in vào trong nhận thức của họ.”
Nhưng sau khi ngành in ấn xuất hiện vào khoảng năm 1440, mọi thứ dần thay đổi. Vào thế kỷ đầu tiên sau khi Gutenberg cải tiến kỹ thuật in, số lượng sách tăng lên mười bốn lần. Lần đầu tiên, những người không thật giàu sang vẫn có thể sở hữu một thư viện nhỏ trong nhà, và có một bộ nhớ ngoài dễ tra cứu trong tay.
Ngày nay, chúng ta đọc dàn trải, không tập trung liên tục, và chỉ đọc mỗi cuốn sách một lần, trừ những ngoại lệ hiếm hoi. Chúng ta đánh giá số lượng sách đã đọc hơn là chất lượng đọc. Chúng ta không có lựa chọn, nếu chúng ta muốn theo kịp với nền văn hóa rộng lớn. Thậm chí trong những lĩnh vực có tính chuyên môn rất cao, thì cái việc cố trèo lên đỉnh ngọn núi ngôn từ không ngừng tăng lên mỗi ngày cũng vẫn cứ là nhiệm vụ nhọc nhằn.
Ít ai nghiêm túc nỗ lực ghi nhớ điều mình đã đọc. Khi tôi đọc sách, tôi hy vọng điều gì vẫn còn đọng lại trong đầu mình sau một năm? Nếu đó là một tác phẩm phi hư cấu, thì có lẽ đó là luận đề, nếu cuốn sách có luận đề. Vài ba chi tiết hay ho, có lẽ vậy. Nếu là một tác phẩm hư cấu, thì là cái cốt truyện chung, điều gì đó về nhân vật chính (ít nhất là tên của họ), và những nhận định tổng quan về cuốn sách. Thậm chí những điều này cũng có thể phai nhạt. Nhìn lên giá sách của mình, nhìn những cuốn sách đã tiêu tốn của tôi biết bao nhiêu thời gian khi tỉnh táo tôi luôn thấy phát nản. Trăm năm cô đơn chẳng hạn: Tôi nhớ chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và tôi thích nó. Nhưng chỉ thế thôi. Tôi không nhớ mình đọc nó bao giờ. Về Đồi gió hú, tôi nhớ chính xác hai điều: tôi đã đọc nó ở lớp tiếng Anh thời trung học, và có một nhân vật tên Heathcliff. Tôi chẳng biết mình thích cuốn sách này không.
Tôi nghĩ mình không phải là độc giả kém cỏi duy nhất. Tôi ngờ rằng nhiều người, có lẽ hầu hết mọi người, cũng như tôi. Chúng ta đọc đọc và đọc, chúng ta quên quên và quên. Vậy việc gì chúng ta phải bận tâm? Vào thế kỷ mười sáu, Michel de Montaigne đã diễn tả cái nan đề của việc đọc nhiều: “Tôi lật giở những cuốn sách, tôi không nghiên cứu chúng,” ông viết. “Cũng giống bất kỳ ai khác, điều tôi giữ lại được là điều tôi không còn coi là ý tưởng của người khác. Nó chỉ là một tài liệu hữu ích cho óc phán xét của tôi, và những suy nghĩ và ý tưởng thấm đẫm trong đó; còn tác giả, nơi chốn, từ ngữ và những tình huống khác, tôi quên ngay lập tức.” Ông tiếp tục giải thích làm thế nào để “bù đắp chút ít cho sự bội bạc và yếu kém của trí nhớ,” ông tập thói quen ghi lại sau mỗi cuốn sách những nhận định quan trọng, để ít nhất có ý tưởng khái quát về cuốn sách và quan điểm của ông về nó.
Hẳn bạn nghĩ sự xuất hiện của in ấn và khả năng chuyển những điều cần nhớ từ bộ não lên trang giấy một cách dễ dàng sẽ lập tức khiến những kỹ thuật ghi nhớ xa xưa trở nên vô dụng. Nhưng không phải vậy. Ít nhất nó không xảy ra ngay. Ngược lại, chính lúc mọi điều được viết ra lại một cách rành mạch, tưởng như thuật ghi nhớ đang trở nên lỗi thời, thì kỹ thuật ấy lại trải qua cuộc phục hưng vĩ đại.
Từ thời Simonides, thuật ghi nhớ là việc tạo những không gian kiến trúc trong trí tưởng tượng. Nhưng từ thế kỷ mười sáu, triết gia người Ý và nhà giả kim tên Giulio Camillo - còn gọi là “Camillo Thần Thánh” đối với những người ngưỡng mộ ông, và là “Kẻ bất tài” với những người phỉ báng ông - đã có ý tưởng thông minh nhằm hiện thực hóa điều mà hai ngàn năm trước là một ý tưởng trên mây trên gió. Ông nảy ra ý nghĩ rằng hệ thống ghi nhớ này sẽ hoạt động hiệu quả hơn nếu có ai đó chuyển ẩn dụ của cung trí nhớ thành một tòa nhà gỗ thực sự. Ông tưởng tượng tạo ra một “Nhà hát Trí nhớ”, một thư viện toàn thể chứa mọi tri thức của loài người. Nghe nó có vẻ viễn tưởng, nhưng nó là một dự án có thực, được nhiều người ủng hộ thật sự, và nó khiến Camillo trở thành một trong những người nổi tiếng nhất trên khắp châu Âu. Vua Francis I của nước Pháp đã đầu tư năm ngàn ducat để hoàn thành nó, và buộc Camillo hứa rằng những bí mật trong nhà hát của ông sẽ không bao giờ được tiết lộ cho bất kỳ ai ngoài đức vua.
Cung trí nhớ bằng gỗ của Camillo có hình dạng giống như một nhà hát vòng tròn kiểu La Mã, nhưng thay vì ngồi ở hàng ghế nhìn xuống sân khấu, khán giả đứng giữa trung tâm và nhìn lên công trình hình tròn bảy lớp. Quanh nhà hát là những bức tranh các nhân vật thần thánh và thần thoại cũng như vô số các dãy những ngăn và hộp chứa đầy những tấm thẻ, trên đó in tất cả những gì con người biết đến và - theo đồn đoán - những gì con người có thể nhận thức được, kể cả những lời trích dẫn của các tác giả nổi tiếng, được phân loại theo chủ đề. Bạn chỉ cần nghĩ về một hình ảnh tượng trưng, toàn bộ tri thức lưu giữ trong phần đó của nhà hát sẽ ngay lập tức gợi ra trong đầu, cho phép bạn “có thể bàn luận về bất cứ chủ đề nào không kém gì Cicero (một trong những nhà hùng biện nổi tiếng nhất La Mã).” Camillo hứa hẹn rằng “nhờ hệ thống những điểm chứa và hình ảnh, chúng ta có thể lưu giữ và nắm vững mọi khái niệm nhân văn và vạn vật trên đời.”
Đó là một nhận định rất mạnh bạo, mà hậu nhân hẳn cảm thấy như một trò bịp bợm. Nhưng Camillo tin rằng tồn tại một hệ những biểu tượng thần kỳ có thể đại diện một cách quy củ toàn bộ vũ trụ. Cũng giống như hình ảnh một she-male (phụ nữ chuyển đổi giới tính thành nam giới) tượng trưng cho ý tưởng gửi e-mail trong cung trí nhớ đầu tiên tôi đã xây dựng để lưu những việc cần làm của Ed, Camillo tin rằng có những hình ảnh có thể tóm lược khái niệm to lớn và quan trọng về vũ trụ, và chỉ cần ghi nhớ những hình ảnh đó, người ta có thể hiểu những mối liên hệ ẩn giấu giữa vạn vật.
Một mô hình chi tiết bằng gỗ nhà hát của Camillo được trưng bày ở Venice và Paris, người
ta đã làm hàng trăm, có lẽ đến hàng ngàn tấm thẻ đặt vào các ngăn và hộp. Các nghệ sĩ Titian và Salviati được mời vẽ những hình ảnh biểu tượng lên nhà hát. Tuy nhiên công trình có vẻ chỉ đến vậy mà thôi. Nhà hát không bao giờ thực sự hoàn thành, và phần còn lại của một kế hoạch vĩ đại chỉ là một bản tuyên ngôn ngắn ngủi được công bố sau khi chết. Ý tưởng về một nhà hát được tác giả đọc cho người khác ghi lại trong một tuần trên giường bệnh. Cuốn sách được viết ở thì tương lai và không có bất kỳ hình ảnh hay sơ đồ nào, nói một cách nương nhẹ thì đây là một cuốn sách mơ hồ rối rắm.
Dù lịch sử đa phần đã lãng quên con người đã hứa hẹn một công nghệ tột bậc cho việc ghi nhớ - trong hầu hết những lời đánh giá, chữ “thần thánh” đã nhường chỗ cho “bịp bợm” - danh tiếng của Camillo được khôi phục lại vào thế kỷ hai mươi nhờ những nỗ lực của nhà sử học Frances Yates, người đã giúp tái dựng thiết kế của nhà hát trong cuốn sách Thuật Ghi nhớ của bà. Trong đó bà và giáo sư văn học người Ý, Lina Bolzoni, đã giúp giải thích nhà hát của Camillo không phải là công trình của một kẻ điên rồ, mà thực sự là đại diện tiêu biểu cho những ý tưởng về trí nhớ của cả một thời kỳ.
Thời Phục hưng, các thư tịch cổ Hy Lạp mới được dịch đã tái khởi niềm say mê với ý tưởng xưa cũ của Plato rằng có một hiện thực lý tưởng siêu nghiệm mà thế giới của chúng ta chỉ là cái bóng mờ nhạt. Trong thế giới quan Tân-Plato của Camillo về vũ trụ, những hình ảnh trong trí óc là một cách để tiếp cận hiện thực lý tưởng kia, và thuật ghi nhớ là chiếc chìa khóa bí mật để mở ra cấu trúc bí ẩn của vũ trụ. Trí nhớ, từ một công cụ ngôn từ đối với người cổ đại, hay phương tiện để suy tưởng về tôn giáo đối với các triết gia-học giả thời Trung cổ, đã trở thành một thuật hoàn toàn huyền bí.
Thậm chí còn hơn cả Camillo, người thực hành vĩ đại của thuật trí nhớ mịt mờ bí ẩn này là Giordano Bruno, một thầy dòng Dominic. Trong cuốn sách Về Cái bóng của Ý tưởng (On the Shadow of Ideas), xuất bản năm 1582, Bruno hứa hẹn rằng kỹ thuật của ông “chẳng những bổ trợ trí nhớ mà còn cho mọi sức mạnh tâm hồn.” Với Bruno, rèn luyện trí nhớ là chìa khóa để khai sáng tinh thần.
Bruno đã nghĩ ra một hướng đi mới cho thuật ghi nhớ cổ xưa. Lấy cảm hứng từ triết gia bí ẩn xứ Catalan vào thế kỷ thứ mười ba mà cái tên viết xuôi viết ngược đều như nhau - Ramon Llull, Bruno đã phát minh ra một công cụ cho phép ông chuyển bất kỳ từ nào thành một hình ảnh độc nhất. Bruno tưởng tượng ra một tập hợp những vòng tròn đồng tâm, trên đường chu vi của mỗi vòng có 150 cặp hai chữ cái, tương ứng với tổng số cặp chữ có được từ ba mươi chữ cái (hai mươi ba chữ cái trong tiếng Latin cổ, cộng bảy chữ cái Hy Lạp và chữ cái Hebrew không có chữ tương đương trong tiếng Latin) với năm nguyên âm: AA, AE, AI, AO, AU, BA, BE, BO, v.v... Ở vòng tròn trong cùng, có 150 cặp hai chữ cái, mỗi cặp sẽ được gán với một nhân vật thần thoại hoặc thần bí. Ở vòng tròn thứ hai là 150 hành động và cảnh trí - “chèo thuyền,” “trên thảm, “vỡ” - tương ứng với một cặp chữ cái khác. Vòng tròn thứ ba có 150 tính từ, vòng thứ tư có 150 bổ ngữ, và vòng thứ năm là 150 “tình huống”, như là “đeo ngọc trai” hay “cưỡi một con quái vật biển.” Bằng cách sắp xếp các vòng quay cho phù hợp, bất cứ từ nào có đến năm âm tiết có thể được diễn đạt thành một hình ảnh sống động riêng biệt. Ví dụ, từ crocitus, chữ Latin có nghĩa “tiếng kêu của quạ,” sẽ trở thành hình ảnh một vị thần La Mã “Pilumnus đang trên lưng lừa, đang di chuyển rất nhanh, cánh tay quấn băng, và có một con vẹt trên đầu.” Do đó bất kỳ một chuỗi từ nào cũng có thể chuyển thành một chuỗi hình ảnh. Bruno tin rằng cái sáng chế vòng vèo kỳ diệu và rối rắm của ông là một bước tiến lớn của thuật ghi nhớ, mà ông nhận định, về tầm quan trọng có thể sánh với bước nhảy vọt công nghệ từ đục chữ cái lên thân cây sang in ấn.
Hệ thống nhuốm màu ma thuật và thần bí của Bruno đã khiến giới nhà thờ quan ngại sâu sắc. Những ý tưởng không chính thống của ông bao gồm cả những quan điểm dị giáo như tin vào thuyết nhật tâm của Copernic và cả quyết rằng đức mẹ Mary thực sự không phải đồng trinh, rốt cuộc đã đẩy ông ra trước Tòa dị giáo khắc nghiệt. Năm 1600, ông bị lên giàn thiêu tại Campo dei Fiori, Rome và tro của ông được rắc trên sông Tiber. Ngày nay, có một bức tượng Bruno đặt giữa quảng trường nơi ông bị hành hình, một nguồn cảm hứng cho những nhà tư tưởng tự do và vận động viên trí óc trên toàn thế giới.
Khi thời kỳ Khai sáng rốt cuộc đã hoàn tất điều ám ảnh của thời Phục hưng về những nhà hát trí nhớ bí ẩn và vòng tròn của Llull, thuật ghi nhớ chuyển sang một thời kỳ mới không kém phần bồng bột - thời đại của hệ thống “thông minh nhanh chóng” vẫn còn dai dẳng tận ngày nay. Trên một trăm cuốn sách về trí nhớ được xuất bản vào thế kỷ mười chín, với những nhan đề như “Thuật ghi nhớ của người Mỹ” và “Làm thế nào để ghi nhớ.” Chúng có những điểm giống nhau rành rành với những cuốn sách cải thiện trí nhớ có thể tìm thấy ở những kệ sách chủ đề phát triển bản thân ở bất cứ hiệu sách nào ngày nay.
Cuốn sách phổ thông nhất ở thế kỷ mười chín nói về trí nhớ là tác phẩm của giáo sư Alphonse Loisette, một “bác sĩ trí nhớ” người Mỹ, một con người, dẫu nhớ được rất nhiều, “mà chẳng biết thế nào lại quên tên khai sinh của mình là Marcus Dwight Larowe và ông không hề có bằng cấp,” như một bài báo nhận định. Việc tôi có thể tìm được trên mạng 136 bản sách cũ của Loisette, cuốn sách Trí nhớ sinh lý học: lập tức nắm vững kỹ thuật không bao giờ quên (Physiological Memory: The Instantaneous Art of Never Forgetting), bán với giá vỏn vẹn 1,25 đô la là bằng chứng về sự phổ biến rộng rãi một thời của nó.
Cuốn sách của Loisette về cơ bản là tập hợp những hệ thống để ghi nhớ những chuyện tạp nham, như thứ tự các đời tổng thống Mỹ, các hạt thuộc Ireland, và bảng chữ cái điện tín theo hệ thống Morse, hay các chế độ lãnh thổ ở Anh, hay tên gọi và cách sử dụng chín cặp dây thần kinh trong trên hộp sọ. Loisette khẳng định hệ thống của ông hoàn toàn không liên quan đến hệ thống trí nhớ cổ điển mà ông vốn khinh miệt; chính ông đã hoàn toàn tự mình phát hiện ra “những quy luật của trí nhớ tự nhiên.”
Ông ra giá hai mươi lăm đô la (hơn năm trăm đô la theo thời giá ngày nay) để truyền đạt tri thức của ông cho các học sinh tại những hội thảo tổ chức trên toàn quốc, gồm cả những lớp học tại mọi trường đại học danh tiếng ở bờ Đông (nước Mỹ). Người được tuyển chọn vào “Hệ thống Loisette” phải ký một hợp đồng ràng buộc giữ bí mật, và nếu họ để lộ những phương pháp của vị giáo sư này thì sẽ bị phạt năm trăm đô la (hơn mười ngàn đô theo giá trị ngày nay). Dường như mấy bí quyết “ba xu” để cải thiện trí nhớ này cũng moi được kha khá tiền từ đám khán giả người Mỹ cả tin. Theo số liệu của riêng vị tiến sĩ này, chỉ trong bốn tuần vào mùa đông năm 1887, ông ta kiếm được số tiền tương ứng với nửa triệu đô la ngày nay.
Năm 1887, Samuel L. Clemens, nổi tiếng hơn với cái tên Mark Twain, gặp Loisette lần đầu tiên và đã đăng ký khóa học trí nhớ kéo dài nhiều tuần. Twain từng nói rằng “trí nhớ của ông không bao giờ nạp cái gì ngoài những cuộn phim trắng,” và từ lâu ông quan tâm tới việc cải thiện trí nhớ. Sau khóa học, ông trở thành một tín đồ của hệ thống Loisette. Thực ra ông say mê đến độ đã mạnh miệng tuyên bố rằng những thủ thuật vô giá mà vị tiến sĩ đã truyền thụ có thể đáng giá tới mười ngàn đô la một giờ. Sau này, ông nuối tiếc vì lời nói của mình, nhưng đấy là mãi sau khi lời nói đó được đưa vào gần như mọi tài liệu mà Loisette in ra.
Năm 1888, G. S. Fellows, xuất phát từ “cảm nhận nhạy bén về công lý và tình yêu thiên
bẩm với tự do, tính cách của mọi người Mỹ chân chính” đã xuất bản một cuốn sách nhan đề Vạch trần “Loisette” nhằm làm rõ rằng “Giáo sư” Loisette” - vâng, cả danh hiệu này cũng để trong dấu ngoặc kép giễu nhại như thế - là một kẻ “bịp bợm và dối trá.” Cuốn sách dày 224 trang tiết lộ rằng những phương pháp của ông ta hoặc là ăn cắp từ những tài liệu cũ rồi in thành sách mới, hoặc là bị thổi phòng quá mức. Chắc chắn những trò gian lận và bịp bợm của Loisette hẳn đã rõ rành rành với một người am hiểu đời như Mark Twain, nhưng Twain là một người chuyên phung phí tiền của để theo đuổi những thứ nhất thời, luôn quan tâm đến điều vĩ đại trong tương lai. (Tiền đầu tư cá nhân của ông 300.000 đô la
- khoảng 7 triệu đô la ngày nay - vào máy sắp chữ Paige, một đối thủ ban đầu của Linotype, chính là thất bại thảm hại nhất trong nhiều dự án tham vọng mà ông đổ tiền vào.)
Bản thân Twain liên tục thí nghiệm những kỹ thuật ghi nhớ mới để giúp ông trong công việc diễn thuyết. Vào thời điểm khởi đầu sự nghiệp, ông viết lên mười móng tay những chữ cái đầu tiên của chủ đề ông dự định nêu ra trong bài phát biểu, nhưng điều đó không bao giờ thực sự hiệu quả, vì khán giả bắt đầu nghi ngờ ông yêu mến bàn tay mình thái quá. Trong mùa hè năm 1883, khi đang viết tác phẩm Huckleberry Finn, Twain đã phát triển một trò chơi dạy các con ông ghi nhớ các triều đại của hoàng gia Anh. Ông đặt những cái cọc đánh dấu đặt trên một con đường gần nhà ông ứng với độ dài quãng thời gian trị vì của các triều đại. Về cơ bản Twain đã biến sân sau nhà ông thành một cung trí nhớ. Năm 1885, ông sáng chế ra “Phương pháp ghi nhớ của Mark Twain: Trò chơi để ghi nhớ và lưu giữ mọi ngày tháng và sự kiện.” Sổ ghi chép của Twain đầy những trang dành cho trò chơi trí nhớ không gian. Về tác dụng của nó, các con của Twain bảo rằng trò này có hiệu quả. Họ có thể nhớ triều đại của các ông vua/bà hoàng theo chiều xuôi lẫn ngược.
Twain đã tưởng tượng những câu lạc bộ trên toàn quốc tổ chức trò chơi trí nhớ của ông,biến nó thành mục thường kỳ trên báo chí, viết sách về nó, thậm chí cả một cuộc thi quốc tế có giải thưởng. Ông dần tin rằng phát minh tài tình của mình có thể áp dụng vào việc dạy học sinh Mỹ toàn bộ những sự kiện khoa học và lịch sử quan trọng. “Những nhà thơ, các chính khác, nghệ sĩ, người hùng, trận chiến, bệnh dịch, tai họa, các cuộc cách mạng... phát minh logarit, kính hiển vi, động cơ hơi nước, điện tín - bất cứ thứ gì và mọi thứ trên đời - chúng ta đóng tất cả chúng vào những cột mốc tiếng Anh,” ông viết trong một tiểu luận năm 1899 “Làm thế nào ghi nhớ những ngày lịch sử.” Thật không may, trò chơi này trở thành vụ đầu tư thất bại về tài chính, và Twain cuối cùng buộc phải từ bỏ. Ông viết cho người bạn, nhà văn William Dean Howells, “Nếu anh chưa bao giờ thử phát minh một trò chơi trong nhà về lịch sử, thì đừng có thử.”
Giống như rất nhiều người đi trước, Twain đã bị cuốn hút bởi lời hứa hẹn chế ngự được tính hay quên. Ông đã uống phải thứ dược chất điên rồ đã đầu độc Camillo và Bruno và Peter thành Ravenna, và câu chuyện của ông có lẽ nên xem như lời cảnh tỉnh cho bất cứ ai đặt chân vào con đường rèn luyện trí nhớ. Có lẽ, khi hồi tưởng lại quá khứ, những điểm tương đồng giữa tiến sĩ Loisette và những bậc thầy trí nhớ ngày nay hẳn sẽ khiến tôi cuốn gói bỏ chạy. Ấy nhưng không phải vậy.
Twain sống trong một thời đại mà công nghệ lưu giữ và khai thác trí nhớ ngoài như báo chí, sách vở, nhiếp ảnh và ghi âm vẫn còn sơ khai so với cái chúng ta có ngày nay. Ông không thể đoán biết trước sự phát triển thông tin kỹ thuật số vào đầu thế kỷ hai mươi đã đẩy nhanh tốc độ phát triển khiến con người có thể ngoại hóa bộ nhớ. Với các blog, mạng xã hội máy ảnh kỹ thuật số, và những hộp thư điện tử không giới hạn dung lượng, tham gia vào văn hóa mạng giờ đây nghĩa là tạo ra một dấu vết luôn hiện diện, luôn sẵn có để tìm kiếm, và bộ nhớ ngoài không bao giờ quên vẫn tăng dần lên khi chúng ta già đi. Khi
ngày càng nhiều hoạt động đời sống được đưa lên mạng, ngày càng nhiều điều được nắm bắt và lưu giữ theo những cách làm thay đổi triệt để mối quan hệ giữa bộ nhớ trong và bộ nhớ ngoài, thì dường như chúng ta đang tiến tới một tương lai mà ở đó chúng ta sẽ có một bộ nhớ ngoài bao trùm tất cả, ghi lại toàn bộ hoạt động hàng ngày, và không bao giờ quên.
Có một người đã làm cho tôi tin điều này, đó là một nhà khoa học máy tính bảy mươi ba tuổi ở Microsoft tên Gordon Bell. Bell tự coi mình là người tiên phong cho trào lưu mới, đã đưa sự ngoại hóa bộ nhớ đến chỗ triệt để: cuộc đào thoát tối hậu khỏi sự ghi nhớ sinh học.
“Mỗi ngày trôi qua, tôi càng quên nhiều hơn, và nhớ được ít hơn,” Bell viết trong cuốn sách Nhớ lại toàn bộ: Cách mạng bộ nhớ điện tử đã thay đổi mọi thứ ra sao. “Nếu bạn thoát được định mệnh này thì sao? Nếu bạn không những không bao giờ quên điều gì, ngược lại còn kiểm soát hoàn toàn điều bạn đã nhớ thì sao?Và bao giờ thì xảy ra điều đó?”
Trong thập niên vừa qua, Bell đã duy trì một “bộ nhớ thay thế” kỹ thuật số để phụ trợ cho bộ não ông. Nó ghi lại bất cứ thứ gì ông có thể quên đi. Một máy quay kỹ thuật số mini gọi là SenseCam, đeo quanh cổ ông và quay mọi cảnh vật diễn ra trước mắt ông. Một máy ghi âm kỹ thuật số ghi lại mọi âm thanh ông nghe được. Mọi cuộc điện thoại trên máy cố định của ông được đặt máy ghi âm, và mọi mảnh giấy Bell đọc ngay lập tức được quét chuyển vào máy tính. Bell, đầu hói hoàn toàn, thường hay cười, đeo cặp kính mắt vuông và mặc áo đen kín cổ, gọi quá trình lưu trữ đầy ám ảnh này là “ghi chép cuộc đời”.
Việc ghi nhớ này thoạt trông có vẻ kỳ quặc, nhưng nhờ sự tụt dốc về giá của thiết bị lưu trữ kỹ thuật số, sự gia tăng nhan nhản các máy cảm biến kỹ thuật số, và trí tuệ nhân tạo ngày càng cải tiến để sắp xếp đống dữ liệu chúng ta liên tục thu nhận, mà việc ghi và giữ lại thêm nhiều về thế giới xung quanh ngày càng dễ dàng hơn. Có thể chúng ta không phải đi đâu cũng có máy quay treo nơi cổ, nhưng hình dung của Bell về một tương lai trong đó máy tính ghi nhớ mọi thứ xảy ra với chúng ta không còn là chuyện nghe có vẻ ngớ ngẩn nữa.
Bell nổi tiếng và giàu có vì là người tiên phong trong lĩnh vực máy vi tính tại Công ty Thiết bị Kỹ thuật số vào những năm thập niên 60 và 70 thế kỷ trước (người ta gọi ông là “Frank Lloyd Wright[20] về máy tính”). Ông có tố chất của một kỹ sư, nghĩa là ông nhìn ra vấn đề và cố gắng xây dựng giải pháp. Với SenseCam, ông đang cố giải quyết một vấn đề cơ bản của loài người: rằng chúng ta quên cuộc sống của mình cũng nhanh như chúng ta đang sống. Vậy tại sao để cho trí nhớ nhạt nhòa trong khi có một giải pháp công nghệ để lưu giữ chúng?
Năm 1998, với sự giúp đỡ của trợ lý Vicki Rozyki, Bell bắt đầu lấp đầy ghi-chép-cuộc-đời của mình bằng cách sao chụp một cách hệ thống mọi tài liệu đựng trong hàng tá thùng hộp mà ông tích lũy từ những năm 1950. Mọi tấm ảnh cũ của ông, những cuốn sổ ghi chép, và các tài liệu đều được số hóa. Thậm chí những logo trên áo phông cũng không thoát khỏi máy quét. Bell, con người luôn gìn giữ cẩn thận các thứ đồ đạc, nghĩ rằng ông có thể quét và lưu giữ ba phần tư những gì ông từng sở hữu. Ngày nay ghi-chép-cuộc-đời ông lên tới 170Gb, và đang tăng dần với tốc độ mỗi tháng một Gb. Nó gồm trên 133.000 e- mail, 65.000 tấm ảnh, 100.000 tài liệu, và 2.000 cuộc điện thoại. Nó vừa vặn để chứa trong một ổ cứng giá một trăm đô la.
Với “bộ nhớ thay thế” Bell có thể làm được những trò rất thú vị. Nhờ công cụ tìm kiếm tùy chỉnh, ông có thể trong tích tắc tìm ra ông đã ở đâu với ai vào bất kỳ thời điểm nào, và vì vậy, về lý thuyết, có thể kiểm tra xem người đó đã nói gì. Và vì ông có dữ liệu hình ảnh mọi
nơi ông từng đến và mọi thứ ông nhìn thấy, nên chẳng có lý do nào biện bạch khi ông bị mất đi thứ gì. Bộ nhớ kỹ thuật số của ông không bao giờ quên.
Những tấm hình, đoạn video và bản thu âm kỹ thuật số cũng giống như những cuốn sách, là những bộ phận thay thế cho trí nhớ của chúng ta - những chương trong một hành trình dài khởi đầu khi Thánh Theuth người Ai Cập tìm đến vua Thamus và tặng ngài món quà chữ viết, một phương pháp để đạt được “trí nhớ và sự uyên bác” Ghi-chép-cuộc-đời là bước tiếp theo trong chặng phát triển logic ấy. Có lẽ là bước logic cuối cùng, một dạng phản chứng về sự chuyển đổi văn hóa dần dần hé lộ suốt cả thiên niên kỷ.
Tôi muốn gặp Bell để xem tận mắt bộ nhớ ngoài của ông. Dự án của ông dường như là lời phản bác tối hậu đối với mọi nỗ lực tôi đang đầu tư vào việc rèn luyện bộ nhớ trong. Nếu chúng ta được kết nối với những máy tính không bao giờ quên thì còn cần gì đến bộ não biết ghi nhớ?
Khi tôi tới Microsoft Research, một tòa nhà sạch bóng hướng ra vịnh San Francisco, Bell muốn cho tôi xem cách ông sử dụng bộ nhớ ngoài giúp tìm những thứ bị thất lạc ở bộ nhớ trong của ông. Bởi trí nhớ có tính liên kết, nên tìm một sự việc bị đặt không đúng chỗ thường giống như thực hiện phép đo đạc tam giác. “Một ngày nọ, tôi đang cố tìm một ngôi nhà mà tôi đã xem trên mạng,” Bell ngồi dựa lưng vào ghế và kể. “Tôi chỉ nhớ được rằng lúc ấy tôi đang nói chuyện qua điện thoại với đại lý bất động sản.” Ông kiểm tra dòng thời gian cuộc đời ông trên máy tính, tìm thấy cuộc trao đổi qua điện thoại đó, và ngay lập tức lôi ra trang web ông cần tìm trong lúc đang nói chuyện điện thoại. “Tôi gọi chúng là những cái móc thông tin,” Bell kể. “Anh chỉ cần nhớ một cái móc.” Càng nhiều móc được lưu giữ trong bộ nhớ điện tử, thì càng dễ thấy cái bạn muốn tìm.
Bell có sẵn một bộ nhớ ngoài hết sức dồi dào. Và điều đó làm cho vài khoảng trống ít ỏi còn sót lại trong ghi-chép-cuộc-đời của ông càng trở nên đáng ghét. Dựa hẳn trên bộ nhớ điện tử cũng có nghĩa là bất cứ điều gì không được ghi vào đó coi như không tồn tại. Và điều này cũng áp dụng đối với phần ký ức khổng lồ trong quá khứ.
Cũng có những khiếm khuyết. Ví dụ, không thể tìm kiếm trong kho các tập tin ghi âm kỹ thuật số của Bell - dù ông hy vọng rằng công nghệ chuyển lời nói thành văn bản sẽ sớm thay đổi điều này. Và ông vẫn chưa biết cách nào ghi lại các cuộc điện thoại di động. Song cho đến nay, vấn đề lớn nhất Bell gặp phải là làm thế nào tránh được cái định mệnh như đã xảy ra với Funes và S, và tránh bị chìm vào một biển những điều vô nghĩa. Đa số việc ghi nhớ diễn ra ngay lúc mã hóa, vì chúng ta chỉ ghi nhớ điều mình chú ý tới. Nhưng ghi- chép-cuộc-đời của Bell chú ý đến tất cả. “Không bao giờ sàng lọc, không bao giờ vứt đi thứ gì” là khẩu hiệu của ông.
“Có bao giờ ông cảm thấy gánh nặng bởi khối lượng trí nhớ khổng lồ mà mình đang thu thập không?” tôi hỏi ông.
Ông cười giễu ý nghĩ đó. “Không đời nào. Tôi cảm thấy tự do là đằng khác.”
SenseCam không phải là một cỗ máy đẹp. Nó là một hộp màu đen, kích thước bằng bao thuốc lá, treo quanh cổ Bell. Cứ lồ lộ ra. Nhưng hãy nghĩ mà xem, những máy tính đầu tiên to lớn đến mức chiếm hết cả căn phòng, và điện thoại đời đầu cũng to bằng cục than xỉ. Nên chẳng cần phải tưởng tượng nhiều về phiên bản trong tương lai của SenseCam, có khi nó được gắn vào cặp mắt kính hay vào áo mà người khác không thể nhận ra, hoặc thậm chí cấy dưới da hoặc cấy vào võng mạc.
Đến bây giờ, bộ nhớ trong và bộ nhớ ngoài của Bell không ăn khớp liền mạch lạc. Để truy cập được bộ nhớ ngoài, ông vẫn phải tìm trên máy tính và “nạp lại” vào bộ não qua mắt và tai. Ghi-chép-cuộc-đời có thể là phần mở rộng cuộc đời ông, nhưng nó chưa phải một sự gắn bó hữu cơ. Nhưng liệu có gượng ép quá chăng khi tưởng tượng rằng một lúc nào đó trong tương lai không xa, sẽ không còn khoảng cách giữa điều lưu trữ trong máy tính của Bell và điều mà trí óc ông biết? Và cuối cùng, bộ não chúng ta có thể kết nối trực tiếp và liên tục đến ghi-chép-cuộc-đời của chúng ta, để bộ nhớ ngoài sẽ hoạt động mà cảm giác như thể chúng như bộ nhớ trong. Và dĩ nhiên, chúng cũng được kết nối với cái kho chứa bộ nhớ ngoài vĩ đại nhất, Internet. Bộ nhớ thay thế có thể ghi nhớ mọi thứ và có thể truy cập vào một cách tự nhiên như trí nhớ lưu giữ trong các tế bào thần kinh: Nó sẽ là vũ khí quyết định trong cuộc chiến chống lại sự lãng quên.
Điều này nghe có vẻ giống khoa học viễn tưởng, song việc cấy ốc tai đã cho phép chuyển các sóng âm thanh trực tiếp thành xung điện và truyền chúng vào cuống não để những người điếc nghe được. Trên thực tế, chúng đã được lắp vào đầu của hơn hai trăm nghìn người khiếm thính. Và việc cấy những bộ phận nhận thức đơn giản tạo ra một giao diện tương tác trực tiếp giữa bộ não và máy tính đã cho phép người bại liệt và những bệnh nhân ALS (bệnh Lou Gehrig)[21] có thể dùng ý nghĩ điều khiển chuột máy tính, cánh tay giả, thậm chí tạo ra một giọng nói điện tử. Những hệ thần kinh giả này, dù vẫn đang còn thử nghiệm và được cấy vào một số ít bệnh nhân, về cơ bản đã “nhận lệnh” trực tiếp từ bộ não, cho phép người và máy móc giao tiếp trực tiếp. Bước tiếp theo là giao diện máy-tính- bộ-não giúp trí não trao đổi dữ liệu trực tiếp với kho trí nhớ kỹ thuật số, một dự án mà nhiều nhà nghiên cứu tiên phong đang tiến hành, và sẽ trở thành một mảng nghiên cứu lớn trong vài thập kỷ tới. Từ đây, việc kết nối bộ não với toàn bộ Internet và mọi cuốn sách đã xuất bản, thậm chí là bộ nhớ kỹ thuật số của mọi người trên trái đất chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi.
Không chỉ những người phản đối kỹ thuật mới hay dân thủ cựu mới băn khoăn liệu kết nối bộ não vào máy tính và khớp nối bộ nhớ trong với bộ nhớ ngoài có phải là ý kiến tuyệt vời hay không. Ngày nay, các nhà sinh học đạo đức vẫn đang lao tâm khổ tứ với những chủ đề khó nhằn như là công nghệ gen và các thuốc kích thích trí não, song những những tiến bộ này hãy còn đơn giản lắm nếu so với sự kết hợp trọn vẹn giữa trí nhớ trong với bộ nhớ ngoài. Rốt cuộc, một người thông minh hơn, cao lớn hơn, khỏe mạnh hơn, và kháng bệnh tật, sống đến 150 tuổi thì cũng chỉ là một con người mà thôi. Nhưng nếu chúng ta có thể cho ai đó một trí nhớ hoàn hảo, và một trí óc kết nối trực tiếp vào toàn bộ tri thức của loài người qua Internet, ồ, vậy thì lúc ấy hẳn chúng ta sẽ cần tính đến việc mở rộng lượng từ vựng.
Nhưng có lẽ thay vì nghĩ đến những bộ nhớ này là ngoại hóa hay tách rời cơ thể - khác hẳn với trí nhớ trong bộ não - chúng ta nên xem chúng như là một phần mở rộng của bộ nhớ trong. Dù sao, đến bộ nhớ trong cũng chỉ truy cập được ở mức độ nhất định. Có những sự kiện và sự việc tôi biết là tôi biết, nhưng tôi không biết làm sao tìm ra. Thậm chí nếu tôi không thể nhớ lại mình đã tổ chức sinh nhật năm lên bảy ở đâu, hay tên vợ của người họ hàng, thì những sự việc này vẫn ẩn giấu đâu đó trong bộ não, chờ đợi một đầu mối gợi ý phù hợp để nhảy vào trong nhận thức, cũng y như mọi nội dung trên Wikipedia đang ẩn núp và chờ một cú nhấp chuột để hiện ra.
Người phương Tây có xu hướng coi “cái tôi” - cái cốt lõi khó nắm bắt xác định chúng ta là ai - như là một thực thể vô hạn định. Dẫu khoa học thần kinh nhận thức hiện đại đã bác bỏ ý tưởng của Descartes về một linh hồn nhỏ bé tồn tại trong tuyến tùng và kiểm soát cơ thể người, hầu hết chúng ta vẫn tin rằng có một cái tôi bản năng tồn tại đâu đó và đang kiểm
soát chúng ta. Thực tế, điều chúng ta nghĩ về “chính tôi” quá mơ hồ và tản mạn đến độ khó mà thoải mái suy ngẫm. Ít nhất, hầu hết mọi người cho rằng cái tôi của họ không thể vượt qua ranh giới biểu bì để đi vào những cuốn sách, máy tính, hay ghi-chép-cuộc-đời. Nhưng sao lại coi đó là trở ngại? Trí nhớ của chúng ta, bản chất làm nên chất riêng của chúng ta, thật sự không chỉ đơn thuần ràng buộc với những tế bào thần kinh trong bộ não. Trí nhớ của chúng ta luôn vượt ra ngoài bộ não và đi vào những kho chứa khác. Dự án ghi-chép- cuộc-đời của Bell chỉ đơn giản dần hiện thực hóa điều này mà thôi.
Chương tám Ngưỡng OK
Nếu vào đầu mùa thu năm 2005 bạn ghé thăm phòng làm việc của tôi, ắt bạn sẽ thấy một tờ giấy nhắc Post-it - một trong những bộ nhớ ngoài của tôi - dính vào tường,
ngay trên màn hình máy tính. Hễ mắt tôi rời khỏi màn hình, là tôi nhìn thấy dòng chữ “Đừng Quên Ghi Nhớ,” một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà trong mấy tháng từ nay đến Giải vô địch Trí nhớ Hoa Kỳ, tôi cần gắng sức thay cái thói trì hoãn thường xuyên của mình bằng những bài tập thực hành trí nhớ hiệu quả hơn. Thay vì lướt web hay đi dạo quanh khu nhà cho đỡ mỏi mắt, tôi nhặt một danh mục những từ ngẫu nhiên và cố ghi nhớ. Thay vì lấy một tờ tạp chí hay cuốn sách để đọc trên tàu điện ngầm, tôi luyện vội một trang giấy những chữ số ngẫu nhiên. Vào lúc ấy, tôi có ý thức là mình kỳ quặc đến thế nào không nhỉ?
Tôi bắt đầu sử dụng trí nhớ của mình trong cuộc sống hàng ngày, thậm chí cả khi tôi không tập luyện những trò bí hiểm vốn sẽ thi ở giải vô địch. Những cuộc dạo bộ quanh khu dân cư trở thành cái cớ để ghi nhớ các biển số đăng ký xe. Tôi bắt đầu dành sự chú ý đến các bảng tên người, đến độ làm người ta sởn cả gai ốc. Tôi học thuộc những danh mục mua đồ của mình. Tôi giữ một bảng lịch công việc trên giấy, và một ở trong đầu. Mỗi khi có ai cho tôi số điện thoại, tôi đặt nó vào một cung trí nhớ đặc biệt.
Ghi nhớ những chữ số tỏ ra là một trong những ứng dụng thực sự của cung trí nhớ mà tôi dùng tới gần như hàng ngày. Tôi dùng một kỹ thuật gọi là “Hệ thống Lớn,” (Major System) được Johann Winkelmann phát minh khoảng năm 1648, đây là một quy tắc đơn giản để chuyển những con số thành các âm thanh. Những âm thanh này tiếp đó lại chuyển thành những từ, rồi những từ này lại chuyển thành những hình ảnh cho một cung trí nhớ. Nó hoạt động như thế này:
0 1 2 3 4
S T hoặc D N M R
5 6 7 8 9
L Sh hoặc Ch K hoặc G F hoặc V P hoặc B
Ví dụ, số 32 sẽ chuyển thành MN, 33 sẽ là MM, và 34 sẽ là MR. Để làm những phụ âm này có nghĩa, bạn được phép tùy ý thêm các nguyên âm vào giữa chúng Vậy nên, số 32 sẽ chuyển thành man (một người đàn ông), 33 sẽ là mom (người mẹ), và 34 sẽ là Russian space station Mir (trạm không gian Mir của Nga). Tương tự, số 86 sẽ là fish (con cá), 40 là rose (bông hồng), và 92 là pen (cây bút). Bạn có thể hình dung 3219 thành một người đàn ông (man-32) đang chơi kèn tuba (19), hoặc là một người đến từ Manitoba (3219). Cũng tương tự, 7879 sẽ chuyển thành KFKP, có thể chuyển thành hình ảnh một ly cà phê (coffee cup), hoặc hai hình ảnh con bê và cái cốc. Lợi thế của Hệ thống Lớn là nó đơn giản, và bạn
có thể bắt đầu sử dụng luôn (Lần đầu biết đến nó, tôi ngay lập tức ghi nhớ số thẻ tín dụng và số ngân hàng của tôi.) Nhưng không ai sử dụng Hệ thống Lớn mà giành được chiến thắng tại giải đấu quốc tế cả.
Khi phải ghi nhớ những dãy chữ số dài, như hàng trăm ngàn chữ số pi hoặc hệ số đánh bóng trung bình mỗi cầu thủ được lưu trong Phòng truyền thống đội New York Yankee, hầu hết các vận động viên trí óc dùng một kỹ thuật phức tạp hơn mà Worldwide Brain Club (diễn đàn trực tuyến cho những tay mê môn trí nhớ, những người xoay khối Rubik, và các vận động viên thi toán) gọi là “người hành động-vật thể”, hay đơn giản là PAO (person-actionobject). Nó bắt nguồn từ sự kết hợp kỳ dị phương pháp ghi nhớ của Giordano Bruno và Framon Llull.
Theo hệ thống PAO, bất kỳ số nào có hai chữ số, từ 00 đến 99, đều được thể hiện bằng một hình ảnh riêng về một người đang thực hiện một hành động nào đó với một đồ vật. Số 34 sẽ là Frank Sinatra (một người) đang ngân nga (hành động) trước một microphone (một đồ vật). Tương tự, 13 sẽ là David Beckham đang đá một quả bóng. Số 79 có thể là siêu nhân đang bay cùng áo choàng. Bất kỳ số có sáu chữ số nào, ví dụ 34-13-79, có thể chuyển thành một hình ảnh duy nhất bằng cách kết hợp người ở số thứ nhất với hành động ở số thứ hai và đồ vật ở số thứ ba - trong trường hợp này sẽ là, Frank Sinatra đang đá áo choàng. Nếu chữ số là 79-34-13, thì vận động viên trí óc sẽ tưởng tượng một hình ảnh khá kỳ quặc là Siêu nhân đang ngân nga trước quả bóng đá. Chẳng có gì gắn liền với Sinatra ở số 34 hay với Beckham ở số 13 cả. Không như Hệ thống Lớn, những mối liên hệ này hoàn toàn là tùy ý và phải học thuộc trước, nghĩa là phải ghi nhớ thật nhiều trước khi có thể ghi nhớ. Phải tiêu tốn một lượng lớn nhất định thời gian và công sức để đi tranh tài ở cuộc thi trí nhớ. Nhưng điều làm hệ thống này trở nên rất hiệu nghiệm ấy là nó thực sự tạo ra hình ảnh độc nhất cho mỗi số từ 0 đến 999.999. Và vì thuật toán này chắc chắn tạo ra những cảnh không có trên thực tế nên chúng dễ nhớ hơn.
Môn thể thao trí nhớ giống một dạng chạy đua vũ trang. Mỗi năm một người - thường là một đấu thủ tạm thời đang thất nghiệp hoặc một sinh viên nhàn rỗi trong kỳ nghỉ hè - nghĩ ra một kỹ thuật phức tạp hơn để ghi nhớ nhanh hơn, buộc những người còn lại phải chạy đua theo.
Sáu tháng qua Ed đã dành thời gian để phát triển cái anh ta gọi là “quái vật trí nhớ phức tạp nhất chuyên để đối phó với giải vô địch trí nhớ.” Hệ thống mới này, anh ta gọi là “PAO thiên niên kỷ,” nâng cấp từ hệ thống hai chữ số mà hầu hết người châu Âu sử dụng sang một hệ thống ba chữ số, gồm một ngàn hình ảnh người-hành-động-đồ vật khác nhau. Nó sẽ cho phép anh ta chuyển mỗi số từ không đến 999.999.999 thành một hình ảnh riêng, mà hy vọng là chúng sẽ không nhầm lẫn với nhau. “Trước đây tôi chỉ có con thuyền đua bé tí hai-chữ-số có thể bắn xuyên những chữ số như con cá hồi chơi thuốc kích thích, thì giờ đây tôi có một con tàu chiến sáu mươi tư khẩu súng ba-chữ-số,” anh ta hãnh diện. “Nó mạnh kinh hồn, nhưng hẳn sẽ khó kiểm soát.” Nếu hệ thống này hiệu quả, anh ta trù tính, nó sẽ là một bước đột phá trong môn thể thao trí nhớ.
Các vận động viên trí óc ghi nhớ những cỗ bài theo cách gần như tương tự, sử dụng hệ thống PAO trong đó mỗi quân bài được liên hệ với một hình ảnh người-hành động-đồ vật. Điều này cho phép bất kỳ bộ ba quân bài nào cũng chuyển được thành một hình ảnh, và trọn một cỗ bài có thể thu lại chỉ còn mười tám hình ảnh (52 chia 3 bằng 17, dư một lá bài.)
Nhờ Ed giúp đỡ, tôi cần mẫn tạo ra hệ thống PAO riêng của mình, bằng cách tưởng tượng
ra năm mươi hai hình ảnh người-hành động-đồ vật khác nhau. Để cho dễ nhớ nhất, hình ảnh của mỗi người phải gợi đến cảm nhận của người ghi nhớ về màu sắc và sức thu hút. Thế có nghĩa kho hình ảnh PAO của một vận động viên trí óc mang tính cá nhân và tính khôi hài rất cao, và là một chỉ dấu khá rõ về những hình tượng trong tiềm thức của mỗi người: trong trường hợp của tôi, đó là những ngôi sao truyền hình những năm 1980 và đầu những năm 1990; trong trường hợp Ben Pridmore, đó là những nhân vật hoạt hình; với Ed, đó là những người mẫu đồ lót và các vận động viên cricket của Anh vào thời kỳ Đại Suy thoái. Quân K cơ, với tôi, đó là Michael Jackson đeo găng tay trắng, nhảy điệu moonwalk. Quân K nhép là John Goodman đang ăn bánh hamburger, và K rô là Bill Clinton đang hút xì gà. Nếu tôi phải ghi nhớ K cơ, K nhép và K rô theo thứ tự, tôi sẽ tạo ra một hình ảnh Michael Jackson đang ăn một điếu xì gà. Trước khi tôi có thể ghi nhớ bất kỳ cỗ bài nào, thì trước hết tôi phải ghi nhớ năm mươi hai hình ảnh đó. Một việc không nhỏ.
So với hệ thống Ben Pridmore dùng cho các lá bài thì hệ thống PAO của tôi quả là mờ nhạt. Mùa thu năm 2002, anh ta bỏ công việc kế toán đã làm sáu năm rưỡi ở một nhà máy thịt ở Lincolnshire, để sang Vegas một tuấn chơi bài, rồi quay về Anh và dành trọn sáu tháng xem hoạt hình, lấy được bằng dạy tiếng Anh cho người nước ngoài, và phát triển một ”vũ khí hạt nhân” hoàn toàn mới. Thay vì tạo một hình ảnh người-hành động-đồ vật cho mỗi quân bài trong cỗ bài, Ben mất hàng chục tiếng đồng hồ để tạo hình ảnh riêng cho mỗi cặp bài (hai lá - ND). Khi anh ta nhìn thấy quân Q cơ, tiếp sau là Át rô, đại diện cho cặp lá bài này là một hình ảnh riêng. Khi anh ta thấy hình quân Át rô, tiếp sau là Q cơ, lại là một hình đại diện khác. Nghĩa là có 52 nhân với 52, hay 2.704 cặp bài mà Ben phải ghi nhớ trước. Sử dụng hệ thống tương tự như PAO của Ed, anh ta đặt ba hình ảnh vào mỗi điểm chứa. Như vậy anh ta có thể thu gọn cả một cỗ bài vào chín điểm chứa (52 chia 6), và hai bảy cỗ bài - số cỗ bài nhiều nhất anh ta có thể ghi nhớ trong một giờ - tương đương 234 điểm chứa.
Khó mà nói giữa tài năng trí tuệ của Ben và bàn tay khéo léo của anh cái nào đáng ngưỡng mộ hơn. Anh ta có thể dùng ngón cái, rất mau lẹ, gẩy hai quân bài một lúc, chỉ vừa đủ để nhìn chất và số nơi góc lá bài. Khi ở tốc độ cao nhất, anh ta nhìn mỗi cặp bài chưa đầy một giây.
Ben đã phát triển một thứ tương tự như hệ thống của Byzantine để ghi nhớ những số nhị phân, giúp anh ta chuyển bất kỳ chuỗi mười chữ số nào gồm các phần tử một và không thành một hình ảnh duy nhất. Nghĩa là phải có sẵn 210, hay 1.024 hình ảnh cho những số nhị phân. Khi nhìn thấy 1101001001, anh ta ngay lập tức xem nó như một nhóm duy nhất,đại diện bằng hình ảnh của một cuộc chơi bài. Khi thấy 0111011010, anh ta ngay lập tức gợi ra hình ảnh một rạp chiếu phim. Trong cuộc thi trí nhớ quốc tế, các vận động viên trí óc nhận được những tờ giấy có 1.200 chữ số nhị phân, ba mươi số mỗi hàng, bốn mươi hàng trên một trang giấy. Ben chuyển mỗi một hàng ba mươi chữ số thành một hình ảnh riêng. Ví dụ, số 110110100000111011010001011010, là một lực sỹ đang bỏ một con cá vào hộp. Lúc này, Ben giữ kỷ lục thế giới vì đã học thuộc 3.705 tổ hợp số 1 và 0 sắp xếp ngẫu nhiên trong vòng nửa giờ.
Khi tôi bắt đầu rèn luyện trí nhớ, viễn cảnh phải học những kỹ thuật phức tạp này đáng sợ đến vô lý. Song Anders Ericsson và tôi đã giao ước với nhau. Tôi sẽ cho ông những ghi chép tỉ mỉ toàn bộ quá trình luyện tập của tôi, đó sẽ là dữ liệu hữu ích cho nghiên cứu của ông về sự thành thạo chuyên môn. Đổi lại, Tres và Katy, các sinh viên của ông, sẽ phân tích dữ liệu đó để tìm cách nào cho tôi có thể thực hiện tốt hơn nữa. Tôi đã hứa sau giải vô địch trí nhớ sẽ quay lại Tallahassee vài ngày làm thí nghiệm đánh giá để họ có thể viết một bài nghiên cứu về toàn bộ dự án này.
Ericsson đã nghiên cứu quá trình thu nạp kĩ năng từ hàng chục góc độ trong hầu hết mọi lĩnh vực khác nhau, và nếu có bất kỳ bí quyết chung nào đó để trở thành chuyên gia, thì gần như chắc chắn chính ông là sẽ tìm ra chúng. Từ những cuộc trò chuyện rất chi tiết với ông, và nhờ đọc gần như mọi cuốn sách và nghiên cứu của ông, mà tôi biết rằng giữa nhiều lĩnh vực, ông phát hiện ra một số kỹ thuật chung mà mỗi cá nhân hoàn hảo sẽ sử dụng trong quá trình trở thành chuyên gia - những nguyên tắc chung để đạt được kỹ năng chuyên môn. Những nguyên tắc đó sẽ là vũ khí bí mật của tôi.
Mấy tháng sau đó, tôi miệt mài với hệ thống PAO trong tầng hầm nhà bố mẹ mình, Erisson theo dõi sát sao mọi diễn tiến. Tôi cập nhật cho ông những biến đổi trong suy nghĩ của mình về cuộc thi sắp tới, mà tôi nhận ra chúng đã dần bắt đầu chuyển từ sự tò mò vô tư sang lòng ganh đua hăng hái. Khi gặp chỗ bí, tôi lại gọi điện cho Ericsson tìm lời khuyên, lần nào ông cũng sẽ khiến tôi bấn lên tìm đọc những nghiên cứu mà ông hứa hẹn sẽ giúp tôi hiểu được khiếm khuyết của mình. Có thời điểm, không lâu sau khi tôi bắt đầu, trí nhớ của tôi ngừng tiến triển. Dù tôi có luyện tập thế nào, tôi không thể nhớ một cỗ bài nhanh hơn được. Tôi bị mắc kẹt trong vệt lầy mà không thể tìm ra nguyên nhân. “Thành tích thời gian nhớ quân bài của tôi đã tới ngưỡng rồi,” tôi than vãn với ông.
“Tôi khuyên anh nên đọc nghiên cứu về gõ bàn phím nhanh,” ông đáp.
Khi người ta lần đầu sử dụng bàn phím, họ tiến triển nhanh từ gõ mổ cò sang gõ cẩn thận mười ngón tay, cho đến khi cuối cùng các ngón tay múa trên bàn phím một cách tự nhiên đến mức cả quá trình này trở thành tiềm thức và những ngón tay dường như có lý trí riêng. Lúc này, kỹ năng gõ phím của mọi người hầu như không tiến triển nữa. Họ đạt đến một ngưỡng. Hẳn bạn thấy hiện tượng này cũng thật kỳ quặc. Vì dù sao, người ta thường bảo rằng tập luyện tạo nên sự hoàn hảo, và vẫn có nhiều người ngồi trước bàn phím ít nhất vài tiếng mỗi ngày để chủ yếu tập gõ bàn phím đó thôi. Tại sao họ không càng ngày càng gõ phím thạo hơn?
Những năm 1960, nhà tâm lý học Paul Fitts và Michael Posner cố trả lời câu hỏi này bằng cách mô tả ba giai đoạn bất kỳ ai cũng trải qua khi tiếp thu một kỹ năng mới. Trong giai đoạn đầu, được gọi là “giai đoạn làm quen,” (cognitive stage) bạn phân tích nhiệm vụ và khám phá ra những chiến lược mới để hoàn thành hiệu quả hơn. Thứ hai, ở giai đoạn liên tưởng (associative stage), bạn ít tập trung hơn, ít gặp lỗi lớn, và nhìn chung trở nên thành thạo hơn. Cuối cùng, bạn đạt đến độ Fitts gọi là “giai đoạn độc lập,” (autonomous stage) khi bạn nhận ra rằng bạn đạt đủ mức cần thiết để thực hiện nhiệm vụ và về căn bản, bạn gõ phím không cần suy nghĩ. Trong giai đoạn độc lập này, bạn không còn kiểm soát điều mình đang làm một cách có ý thức nữa. Trong đa số trường hợp, điều này là tốt. Đầu óc của bạn bớt đi một việc phải bận tâm. Thực tế, giai đoạn tự động này là một trong những đặc điểm mà sự tiến hóa đã đem lại vì lợi ích của chúng ta. Bạn càng ít tập trung vào những nhiệm vụ lặp đi lặp lại hàng ngày, thì bạn càng có thể tập trung vào những việc thực sự quan trọng, những việc bạn chưa bao giờ thấy trước đó. Và vì vậy, một khi chúng ta đánh máy khá lắm rồi, chúng ta cất nó vào ngăn kéo của trí óc và thôi chú ý đến nó. Bạn có thể thấy sự dịch chuyển này diễn ra trên ảnh chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI) của những người học kỹ năng mới. Khi một nhiệm vụ trở thành tự động, phần bộ não liên quan đến lý lẽ hữu thức trở nên kém hoạt động, và những phần khác của bộ não tiếp quản. Bạn có thể gọi đó là “Ngưỡng OK,” là điểm mà bạn quyết định bạn chấp nhận mình làm tốt việc gì đó, bật chế độ tự động lên, và thôi cải thiện nó nữa.
Trong hầu hết mọi việc chúng ta làm, chúng ta đều đạt đến ngưỡng OK. Chúng ta học cách lái xe lúc còn ở tuổi thiếu niên, và một khi đã lái đến mức không còn bị vé phạt hay gây ra
những tai nạn nghiêm trọng, chúng ta chỉ có lái tốt hơn mà thôi. Cha tôi đã chơi golf được bốn mươi năm, và ông vẫn chơi dở lắm - nếu đọc được điều này chắc ông sẽ tổn thương đây. Trong suốt bốn thập kỷ, điểm chấp của ông không hề giảm đi. Sao lại thế được? Ông đã đạt đến ngưỡng OK.
Các nhà tâm lý từng nghĩ rằng ngưỡng OK đánh dấu giới hạn trên của khả năng bẩm sinh. Trong cuốn sách xuất bản năm 1869 nhan đề Thiên tài theo di truyền (Hereditary Genius), Sir Francis Galton lập luận rằng một người chỉ có thể các cải thiện hoạt động thể chất và tinh thần cho đến khi anh ta chạm đến một “tường chắn” nhất định, mà “anh ta không thể vượt qua được bằng bất cứ nỗ lực hay sự giáo dục nào.” Theo quan điểm này, mức tốt nhất chúng ta có thể làm đơn giản là mức tốt nhất chúng ta có năng lực làm.
Nhưng Ericsson và đồng nghiệp của ông, những người nghiên cứu khả năng của các chuyên gia, đã nhiều lần nhận thấy rằng khi người ta ráng sức với nỗ lực đúng hướng, nhận định trên hiếm khi đúng. Họ tin rằng bức tường của Galton thường ít liên quan đến những giới hạn bẩm sinh của chúng ta, mà liên quan nhiều hơn đến việc chúng ta xem đâu là mức độ thực hiện có thể chấp nhận được.
Điều khiến những chuyên gia khác với chúng ta là họ có xu hướng thực hành một thói quen có định hướng và tập trung cao độ, mà Ericsson gọi là “thực hành có chủ ý.” Sau khi đã nghiên cứu những người đạt tới đỉnh cao trong nhiều lĩnh vực, ông phát hiện ra rằng những người đạt thành tựu cao nhất thường đi theo một mô hình phát triển giống nhau. Họ phát triển các chiến lược để trong quá trình luyện tập họ không rơi vào giai đoạn độc lập bằng cách làm ba điều: tập trung vào kỹ thuật, giữ vững mục tiêu, đánh giá liên tục và ngay lập tức kết quả thực hiện của mình. Họ buộc bản thân phải ở trong “giai đoạn làm quen.”
Ví dụ, các nhạc công nghiệp dư dành nhiều thời gian tập chơi nhạc,trong khi những nhạc công chuyên nghiệp có xu hướng tập những bài nhàm chán hoặc tập trung vào những bản nhạc cụ thể và khó. Vận động viên trượt băng giỏi nhất nhiều dành thời gian tập luyện để thực hiện những cú nhảy mà họ tiếp đất còn kém, trong khi những người kém hơn lại chú tâm vào những cú nhảy mà họ đã thuần thục. Thực hành có chủ ý, về bản chất, chắc hẳn rất khó nhọc.
Nói cách khác, khi bạn muốn giỏi việc gì đó, cách bạn dùng thời gian để thực hành còn quan trọng hơn lượng thì giờ bạn thực hành. Quả thật, trong mọi lĩnh vực chuyên môn đã được nghiên cứu kỹ lưỡng,từ cờ vua đến đàn violon cho tới bóng rổ, những nghiên cứu cho thấy rằng số năm mà một người thực hành trong một lĩnh vực lại ít tương quan với mức độ thành quả thực hiện. Cha tôi có thể xem việc đưa quả bóng golf vào cốc thiếc ở trong tầng hầm là một hình thức thực hành tốt, nhưng trừ phi ông chủ động theo dõi thành quả thực hiện của mình - xem xét lại, phản hồi lại, tư duy lại, sắp xếp lại - còn không thì ông sẽ chẳng bao giờ làm tốt hơn được. Thực hành thường xuyên thôi thì chưa đủ. Để tiến bộ, chúng ta phải thấy mình thất bại, và học được từ những sai lầm.
Theo phát hiện của Ericsson, cách tốt nhất để không rơi vào giai đoạn độc lập là thực hành sự thất bại. Một cách để làm vậy là, trong khi đang cố gắng thành thạo việc gì đó, hãy đặt bản thân vào vị trí của người có khả năng làm tốt hơn nhiệm vụ đó, và cố tìm hiểu xem người đó vượt qua những khó khăn như thế nào. Benjamin Franklin dường như là người đầu tiên thực hành kỹ thuật này. Trong cuốn hồi ký của mình, ông kể đã đọc những bài tiểu luận của những nhà tư tưởng vĩ đại, và cố viết lại những lập luận của tác giả theo logic riêng của Franklin. Rồi ông lại mở tiểu luận ra, đem so sánh phần mình viết lại với bản gốc
xem mạch suy nghĩ của ông có phù hợp với tác giả không. Những kỳ thủ giỏi nhất cũng theo một chiến lược tương tự. Họ thường dành nhiều giờ trong ngày để chơi lại những ván cờ mà các đại kiện tướng đã từng chơi, cố hiểu tìm hiểu cách suy nghĩ của bậc chuyên gia trong mỗi nước đi. Quả thật, cái chỉ dấu tốt nhất và duy nhất về kỹ năng chơi cờ của một người không phải là số ván cờ anh ta đã chơi với các đối thủ, mà số thì giờ anh ta ngồi một mình nghiên cứu những ván cờ cũ.
Bí quyết để cải thiện một kỹ năng là giữ được mức độ kiểm soát hữu thức trong khi thực hành - để buộc bản thân phải tránh chế độ hoạt động vô thức (autopilot). Với kỹ năng gõ bàn phím, vượt qua ngưỡng OK là việc tương đối dễ dàng. Các nhà tâm lý đã phát hiện ra rằng phương pháp hiệu quả nhất để cải thiện kỹ năng là buộc bản thân đánh máy nhanh hơn mức mà bạn chấp nhận được, và cho phép bản thân mắc lỗi. Trong một thí nghiệm nổi tiếng, những người gõ bàn phím gõ đi gõ lại những từ sáng trên màn hình nhanh hơn 10 đến 15 phần trăm so với khả năng ngón tay của họ gõ những từ đó trên bàn phím. Lúc đầu họ không thể theo kịp, nhưng sau vài ngày, họ tìm ra chướng ngại làm họ chậm lại, và vượt qua những cản trở đó, rồi họ tiếp tục gõ với tốc độ nhanh hơn. Bằng cách đưa việc gõ bàn phím ra khỏi giai đoạn độc lập và quay về sự kiểm soát hữu thức, họ đã chinh phục được ngưỡng OK.
Ericsson gợi ý tôi nên làm y như vậy với những lá bài. Ông bảo tôi tìm một cái máy đếm nhịp và cố ghi nhớ một lá bài mỗi khi máy kêu tích. Khi tôi đã tìm ra hạn chế của mình, ông hướng dẫn tôi đặt máy nhanh thêm 10 đến 20 phần trăm, và thử ở tốc độ nhanh hơn cho đến khi tôi không còn mắc lỗi. Mỗi khi nhìn đến lá bài nào và thấy khó khăn, tôi phải ghi chú nó, xem liệu tôi có tìm ra nguyên nhân tại sao việc nhớ lá bài ấy lại khó thế không. Việc này có tác dụng, trong vài ngày tôi đã thoát ra khỏi ngưỡng OK và thời gian ghi nhớ bài rút ngắn rất nhanh.
Nếu không thực hành một cách có chủ ý, thậm chí những chuyên gia cũng có thể thấy kỹ năng của họ suy giảm. Về chuyện này, Ericsson đã chia sẻ với tôi một ví dụ lạ thường. Dù bạn sẵn sàng tin vào lời khuyên của một bác sĩ lâu năm hơn là của một người vừa mới tốt nghiệp trường y, thì người ta phát hiện ra rằng, trong vài lĩnh vực y khoa, kỹ năng của các bác sĩ không tiến bộ theo thời gian họ hành nghề. Ví dụ, các bác sĩ xem hình chụp X-quang để chẩn đoán khối u nơi ngực chẳng hạn, có xu hướng làm càng lâu năm thì độ chính xác càng kém. Tại sao lại như vậy?
Theo Ericsson, với hầu hết những người chẩn đoán khối u ngực qua X-quang, việc hành nghề không phải là dạng thực hành có chủ ý. Nó giống trò ném đồng xu vào hộp sắt hơn là làm việc với một huấn luyện viên. Đó là bởi những người chẩn đoán khối u ngực qua phim X-quang thường vài tuần hoặc vài tháng sau mới biết được mình chẩn đoán có chính xác hay không, mà đến lúc đó họ gần như đã quên đi chi tiết vụ việc và không còn học được gì từ thành công và thất bại của mình.
Một lĩnh vực y khoa mà quy tắc này không áp dụng được là phẫu thuật. Không như người chẩn đoán u ngực qua phim X quang, các nhà phẫu thuật có xu hướng ngày càng thạo nghề theo thời gian. Theo Ericsson, điều khiến các nhà phẫu thuật khác với những người xem chẩn đoán u ngực qua X quang ấy là kết quả của hầu hết các cuộc phẫu thuật thường rõ ràng ngày lập tức - bệnh nhân sẽ khỏe lên hay yếu đi - nghĩa là nhà phẫu thuật nhanh chóng biết được kết quả thực hiện của mình. Họ luôn biết được điều gì có tác dụng, việc gì không, và họ luôn tiến bộ lên. Phát hiện này dẫn đến một ứng dụng thực tiễn của lý thuyết về sự thành thạo chuyên môn: Ericsson gợi ý rằng những người chẩn đoán ung thư vú qua phim X-quang thường xuyên phải đánh giá những ca bệnh cũ mà kết quả đã biết. Bằng
cách đó, họ có thể nhận được phản hồi ngay về kết quả thực hiện của mình.
Qua hình thức phản hồi ngay lập tức này, các chuyên gia phát hiện ra những cách mới để thực hiện tốt hơn và thúc đẩy ngưỡng OK chung cao hơn. Chừng nào mà nước vẫn ngập sâu tới cổ thì chừng ấy người ta vẫn phải bơi. Loài người chúng ta từ lâu đã tối đa tốc độ bơi. Ấy vậy mà hàng năm những kỷ lục bơi lội mới lại được xác lập. Loài người ngày càng bơi nhanh hơn. “Các vận động viên bơi lội tham gia kỳ Olympic hồi đầu thế kỷ thậm chí không đủ trình độ để tham gia đội tuyển bơi lội tại các cuộc thi ở trường trung học bây giờ”, Ericsson nhận xét, và “thành tích đạt huy chương vàng ở cuộc đua marathon Olympic nguyên thủy thì bây giờ những người nghiệp dư đủ trình độ tham gia cuộc đua Boston Marathon cũng đạt được.” Và điều này cũng đúng không chỉ với lĩnh vực thể thao, mà gần như trong mọi lĩnh vực. Triết gia thế kỷ mười ba Roger Bacon nói rằng “không ai có thể giỏi toán học bằng phương pháp đã biết từ trước tới nay, trừ phi anh ta mất ba mươi đến bốn mươi năm nghiên cứu nó.” Ngày nay, toàn bộ kiến thức toán học mà Bacon biết đến học sinh trung học bình thường cũng đạt được.
Không có lý do nào để cho rằng những vận động viên điền kinh tài năng nhất còn sống hiện nay sở hữu nhiều tài năng bẩm sinh hơn hầu hết vận động viên tài năng nhất trong quá khứ. Và cũng không có lý do nào để tin rằng việc cải tiến giày chạy hay đồ bơi - dù chắc chắn có ý nghĩa nhất định - là nguyên nhân chính toàn bộ những tiến bộ đáng kể về thành tích đó. Điều làm nên thay đổi chính là số lượng và chất lượng luyện tập mà các vận động viên đã trải qua để đạt được đẳng cấp quốc tế. Điều này đúng không chỉ trong môn chạy bộ hay bơi lội, mà cả trong môn phóng lao, trượt băng, và những môn thể thao khác. Không một môn thể thao nào mà thành tích về thời gian không đều đặn rút ngắn. Nếu quả có ngưỡng nào đó, thì nhìn chung chúng ta vẫn chưa đạt đến.
Làm sao chúng ta vượt qua chính mình như thế được? Một phần câu trả lời của Ericsson là những rào cản chúng ta đặt ra vừa có tính tâm lý lại vừa bẩm sinh. Khi một cái mốc được cho là có thể phá vỡ, thường là chẳng bao lâu sau sẽ có ai đó phá vỡ nó. Từ lâu, người ta nghĩ rằng không ai có thể chạy một dặm (tương đương 1,6km) dưới bốn phút. Đó được xem là rào cản bất biến, như tốc độ ánh sáng. Khi Roger Bannister, một sinh viên y khoa người Anh, hai lăm tuổi, cuối cùng cũng vượt qua cái ngưỡng bốn phút một dặm vào năm 1954, thành tích của anh được bắn lên trang nhất các báo trên thế giới và được ca ngợi là một trong những thành tự thể thao vĩ đại nhất mọi thời đại. Nhưng rào cản này hóa ra giống như cái cửa ngăn lũ. Chỉ sáu tuần sau, một người Úc tên John Landy chạy một dặm với thành tích hơn Bannister một giây rưỡi, và trong vòng vài năm việc chạy bốn phút một dặm đã trở nên phổ biến. Ngày nay, mọi vận động viên chạy chuyên nghiệp cự ly trung bình đều dự kiến vượt qua được mức bốn phút một dặm và kỷ lục thế giới đã giảm xuống còn 3 phút 43.13 giây. Tại Giải Vô địch trí nhớ thế giới, ít nhất nửa số kỷ lục đương tồn tại bị phá mỗi năm.
Thay vì coi việc nâng cao trí nhớ của tôi như tăng chiều cao hay cải thiện thị giác, hay co kéo những đặc tính cơ bản khác trên cơ thể mình, Ericsson khuyến khích tôi hãy nghĩ về nó như là việc cải thiện một kỹ năng - như học chơi một nhạc cụ chẳng hạn.
Chúng ta thường coi trí nhớ là một khối riêng biệt. Không phải vậy. Trí nhớ như một tập hợp những đơn vị (module) và hệ thống độc lập, mỗi đơn vị và hệ thống dựa vào mạng lưới những tế bào thần kinh. Một số người giỏi nhớ những con số, nhưng luôn quên những từ; một số người giỏi nhớ tên, nhưng không nhớ danh mục việc cần làm. Anh sinh viên SF, đối tượng nghiên cứu của Ericsson, người đã mở rộng ngưỡng nhớ chữ số lên gấp mười lần, lại không tăng lên được khả năng ghi nhớ tổng quát. Anh ta trở thành một chuyên gia nhớ
chữ số. Khi anh ta cố ghi nhớ danh mục những phụ âm ngẫu nhiên, anh ta chỉ có thể ghi nhớ chừng bảy phụ âm mà thôi.
Hơn hết thảy, điều tạo nên sự khác biệt giữa những chuyên gia trí nhớ hàng đầu với những người hạng hai đó là: họ tiếp cận việc ghi nhớ như một khoa học. Họ phát triển các giả thiết về hạn chế của mình; họ tiến hành những thử nghiệm và có dữ liệu theo dõi quá trình đó. “Giống như bạn đang phát triển một loại công nghệ, hoặc nghiên cứu một giả thiết khoa học,” người hai lần vô địch thế giới Andi Bell từng bảo tôi. “Anh phải phân tích điều anh đang làm.”
Nếu tôi muốn có cơ hội tự bắn mình lên nhóm hàng đầu ở giải vô địch trí nhớ, thì tôi phải luyện tập một cách tập trung và có chủ ý. Nghĩa là tôi cần thu thập dữ liệu và phân tích, đánh giá chúng. Và toàn bộ quá trình này là để nhích dần lên.
Tôi lập một bảng tính trên máy tính xách tay để theo dõi thời gian luyện tập của mình và những khó khăn gặp phải. Tôi vẽ đồ thị về mọi thứ, và ghi lại nhật ký về sự tăng điểm đều đặn:
Ngày 19 tháng Tám: Nhớ 28 lá bài trong 2:57
Ngày 20 tháng Tám: Nhớ 28 lá bài trong 2:39. Cũng ổn. Ngày 24 tháng Tám: nhớ 38 lá bài trong 4:40. Không tốt lắm.
Ngày 8 tháng Chín: Ngồi trong quán Starbucks chần chừ, không chịu viết bài báo đã quá hạn. Ghi nhớ 46 chữ số trong năm phút... Đáng tiếc. Rồi nhớ 46 lá bài trong 3:32. Quyết định cuối cùng mình sẽ thay đổi hình ảnh đại diện cho bốn chất bài. Tạm biệt những nữ diễn viên, xin chào những vận động viên trí óc. Quân nhép = Ed Cooke, quân rô = Gunther Karsten, quân cơ = Ben Pridmore, quân pích = mình.
Ngày 2 tháng Mười: Nhớ 70 từ ngẫu nhiên trong mười lăm phút. Không tốt! Mất điểm vì mình nhầm từ “grow” (tăng trưởng - động từ) với “growth” (sự tăng trưởng - danh từ) và “bicycle” với “bike” (đều có nghĩa là “xe đạp”). Từ nay trở đi, khi một từ có biến thể gần giống nhau, đặt một giấy nhắc trong cung trí nhớ cạnh hình ảnh gây nhầm lẫn!
16 tháng Mười: Nhớ được 87 từ ngẫu nhiên. Nhìn giấy trong mười lăm phút là quá dài. Mình cứ hay nhìn vào đồng hồ và liếc nhìn xung quanh thay vì tập trung ghi nhớ. Mình đang mất thì giờ. Tập trung đi, tập trung nào!
Dĩ nhiên sự chú ý là điều kiện tiên quyết cho việc ghi nhớ. Nói chung, khi chúng ta quên tên của một người mới quen, đó là bởi chúng ta bận rộn nghĩ xem sẽ nói gì tiếp theo, thay vì chú ý. Các kỹ thuật như hình ảnh tưởng tượng và cung trí nhớ có tác dụng đến vậy một phần là bởi chúng củng cố mức độ chú ý và sự lưu tâm mà bình thường thiếu vắng. Bạn không thể tạo ra một hình ảnh về một từ, một chữ số, hay tên một người mà không chăm chú vào đó. Và bạn không thể chăm chú vào điều gì đó nếu không làm cho nó dễ nhớ hơn. Vấn đề tôi đang mắc phải khi rèn luyện là tôi phát chán chuyện này và cho phép đầu óc mình vẩn vơ. Dù cho các hình ảnh người ta vẽ lên cung trí nhớ có thô lỗ, có sặc sỡ, hay ”khiêu khích” cách mấy chăng nữa, thì họ chỉ nhìn vào những trang giấy với những chữ số ngẫu nhiên chừng nào họ chưa phân tâm bởi tiếng động phòng bên. Có gì thú vị bên ấy không nhỉ, nghe như âm thanh cái gì đặt xuống.
Ed, anh ta đã bắt đầu gọi tôi bằng các danh xưng như “anh bạn,” “chàng trai,” rồi đến “Ông
Foer,” khăng khăng rằng giải pháp chữa chứng sao nhãng của tôi là phải nâng cấp thiết bị. Những chuyên gia trí nhớ nghiêm túc đều đeo đôi bịt tai. Một vài trong số những thí sinh nghiêm túc nhất còn đeo cả tấm che mắt để hạn chế tầm nhìn và thu hẹp phạm vi những điều gây mất tập trung. “Tôi thấy chúng lố bịch lắm, nhưng trong trường hợp của anh, chúng có thể là một vụ đầu tư hợp lý,” Ed nói trong một cuộc điện thoại cập nhật tình hình, thường là hai cuộc mỗi tuần. Chiều hôm đó, tôi đến cửa hàng dụng cụ mua một đôi bịt tai chuyên dụng, và một đôi kính nhựa bảo hộ dùng cho phòng lab. Tôi xịt sơn màu đen và khoan một lỗ nhỏ trên mỗi mắt kính. Từ lúc đó, tôi luôn đeo chúng để tập luyện.
Thật dễ dàng khi giải thích với mọi người rằng tôi sống cùng bố mẹ là để tiết kiệm vài đồng bạc khi tôi bắt đầu khởi nghiệp viết lách. Nhưng việc tôi đang làm dưới tầng hầm, với những trang giấy đầy chữ số ngẫu nhiên dán trên tường và những cuốn kỷ yếu trường trung học (mua ở chợ trời) bày đầy sàn nhà, không đến nỗi xấu hổ nhưng cũng phải giấu tiệt đi.
Khi bố tôi xuống tầng hầm và hỏi tôi có muốn đánh golf với ông một lát không, tôi sẽ nhanh chóng giấu đi trang giấy có những chữ số mà tôi ghi nhớ và giả vờ đang sốt sắng làm một việc gì khác, như viết bài báo mà tạp chí nào đó sẽ trả tiền cho tôi bằng một tấm séc, rồi tấm séc này sẽ được chuyển sang cho một chủ quán rượu. Đôi khi tôi tháo đôi bịt tai và mắt kính, rồi quay lại thấy bố tôi đang đứng ở cửa nhìn mình chăm chăm.
Nếu Ericsson là giáo sư của tôi, thì Ed nhận vai trò là người nâng đỡ tinh thần và người quản lý. Anh ta xếp đặt lịch cho tôi bốn tháng tiếp theo, với những mốc mà tôi phải đạt được, và một chế độ tập luyện nghiêm ngặt với nửa tiếng thực hành mỗi sáng, cộng với hai lượt củng cố trong buổi chiều, mỗi lượt năm phút. Một chương trình máy tính kiểm tra và ghi lại chi tiết những lỗi của tôi, để chúng tôi có thể phân tích chúng sau này. Một bảng tính theo dõi tôi đã thực hành thế nào, đã cải thiện ở đâu, và tôi gặp khó khăn ở đâu. Cứ vài ngày tôi gửi e-mail cho Ed cập nhật tình hình, và anh ta sẽ viết thư lại, đưa ra gợi ý nên làm gì để tiến bộ hơn.
Cuối cùng, tôi quyết định cần quay lại Mill Farm để có thêm thời gian tập luyện trực tiếp với huấn luyện viên. Tôi lên lịch chuyến đi sang Anh trùng với tiệc sinh nhật thứ hai lăm của Ed, một sự kiện hoành tráng mà anh ta đã xốn xang hết cả lên ngay từ khi tôi sang lần đầu tiên để xem Giải Vô địch trí nhớ Thế giới.
Bữa tiệc của Ed tổ chức ở khu nhà kho cũ xây bằng đá của trang trại Milf, nơi Ed đã dành phần lớn thời gian trong tuần để chuyển thành chỗ thử nghiệm cho triết lý tiệc tùng của anh ta. “Tôi đang cố tìm một ý tưởng để điều chỉnh những cuộc trò chuyện, không gian, chuyển động, tâm trạng và sự kỳ vọng, sao cho tôi có thể quan sát được chúng ảnh hưởng với nhau thế nào,” anh ta bảo tôi. “Để theo dõi những tham số này, tôi không coi mọi người như là các thực thể có ý chí, mà là những người máy - những phân tử thật sự - chuyện trò tại bữa tiệc. Và với tư cách là người tổ chức, tôi nghiêm túc nhận lấy trách nhiệm chuyện trò với họ theo cách tốt nhất có thể.”
Những tấm vải óng ánh treo từ rui nhà xuống sàn, chia gian nhà kho thành những phòng nhỏ. Cách duy nhất để đi vào hoặc ra là qua một mạng lưới những đường hầm, và cách dò đường duy nhất là phải nằm xuống mà bò. Không gian dưới cây đàn dương cầm lớn được chuyển thành pháo đài, những cái ghế bụi bẩn chất đống trên các bàn được lấy ra để quây thành vòng tròn trước lò sưởi.
“Những ai đã thực sự đi qua mạng lưới đường hầm đã trải qua một cuộc phiêu lưu. Họ phải
đấu tranh từng chút một, và do đó khi đến nơi, họ cảm thấy khoan khoái, nhẹ nhõm, có cảm giác đạt được thành tựu, và tham gia vào hoạt động này đem lại trải nghiệm tốt đẹp, với sự hăng hái và trí tưởng tượng cao nhất có thể. Tôi nghĩ việc rèn luyện trí nhớ của anh cũng hoàn toàn tương tự như chuyện này. Cái câu “Muốn thành công phải chịu qua gian khổ” nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng mà đúng đấy. Người ta phải chịu đau đớn, trải qua giai đoạn căng thẳng, một giai đoạn ngờ vực bản thân, một giai đoạn bối rối. Và khi ra khỏi đống hỗn độn đó, những tấm thảm thêu rực rỡ nhất đang chờ đón.”
Tôi bò theo sau anh ta qua một đường hầm tối đen dài chừng ba mét, và chui vào một căn phòng đầy quả bóng ngập tận cổ. Anh ta giải thích, mỗi ngăn phòng có chức năng như một ngăn chứa trong cung trí nhớ. Bữa tiệc của anh ta được thiết kế để có thể ghi nhớ một cách tối đa.
“Thường mọi người chỉ nhớ lờ mờ về những chuyện xảy ra trong bữa tiệc vì tiệc thường chỉ tổ chức trong một không gian duy nhất,chưa được chia nhỏ ra,” anh ta nói.“Một trong những ưu điểm của sự sắp đặt này là những trải nghiệm trong mỗi phòng đều được lưu lại trong phòng ấy, và tách biệt với những trải nghiệm ở phòng khác. Người ta rời bữa tiệc mang theo tất thảy mọi chuyện diễn ra trong bữa tiệc ấy, và sẽ ghi nhớ chúng cho đến tuổi trung niên và về già.”
Để thúc đẩy sự tương tác xã hội, Ed cảm thấy nhất thiết những người dự tiệc không được nhận ra nhau. Ben Pridmore, người đã đi tàu bốn tiếng đồng hồ từ Derby tới, mặc một áo choàng đen và đeo chiếc mặt nạ Grunch kinh dị của bộ tộc Mohawk ăn thịt người. Lukas Amsuss (đã hồi phục sau tai nạn từ trò phun lửa), đã bay từ Vienna sang chỉ để dự bữa tiệc, mặc một bộ quân phục Áo thế kỷ mười chín, có băng đeo chéo và những tấm huy chương. Một trong những bạn cũ của Ed ở Oxford, mặc bộ đồ hổ toàn thân. Một người khác xuất hiện với khuôn mặt đen sì và tóc bện. Ed đội một bộ tóc xoăn, mặc một chiếc váy, quần bó, và một áo ngực quá cỡ. Để tỏ ra mình là tay Mẽo duy nhất tại bữa tiệc, tôi vẽ khuôn mặt của mình giống Người hùng nước Mỹ (Captain America).
Sự kiện nổi bật của bữa tiệc là phần biểu diễn với các quân bài. Ngay trước lúc nửa đêm, Ed tập hợp chừng năm mươi khách khứa dưới tầng hầm của gian nhà kho và tuyên bố rằng để vinh danh hai mươi lăm năm tồn tại của anh ta trên cõi đời, hai vị chuyên gia nhớ bài vĩ đại nhất mọi thời sẽ tham gia một phần thi đối đầu. Ben, vẫn mang chiếc áo choàng đen nhưng đã tháo mặt nạ Grunch ra, ngự trên nệm ngồi ở một đầu chiếc bàn dài ngổn ngang những cốc nhựa sau khi đã dùng để uống rượu pha nước trái cây, và phần xương còn lại của nguyên một con cừu được nướng trên đống lửa ở sân sau. Lukas ngồi xuống đầu bàn bên kia trong bộ quân phục Áo.
“Trước tiên, tôi xin giới thiệu với mọi người ở đây vài chi tiết về khả năng nhớ bài của hai con người này,” Ed thông báo. “Lukas là một trong những người đầu tiên trên thế giới đã phá vỡ kỷ lục bốn mươi giây khi ghi nhớ một cỗ bài. Từ lâu trong cộng đồng chuyên gia trí nhớ, gồm mười một người, đây được xem như sự kiện bốn phút một dặm trong điền kinh. Anh ta đã liên tục phá vỡ cái mốc đó, và một thời là nhà vô địch thế giới môn nhớ bài nhanh. Anh ta cũng là một trong những thành viên sáng lập hiệp hội cao quý của những chuyên gia trí nhớ có tên KL7. Tất nhiên, trí nhớ kinh hoàng của anh ta sẽ tốt hơn nữa nếu anh ta quanh năm không say rượu,” Ed nói, giọng lúc trầm lúc bổng. Lukas nâng cốc nhựa lên rồi hướng về phía Ed gật đầu. “Các bạn biết đấy, Lukas đã cho tôi xem một cỗ máy thú vị và hữu ích mà anh ta cùng những người bạn kỹ sư ở Vienna làm ra, nó cho phép bạn uống bốn cốc bia trong chưa đầy ba giây. Nó có một hệ thống van mà họ phải mua lại của một công ty hàng không vũ trụ. Thật không may, dạo gần đây Lukas dùng nó hơi nhiều.
Gần một năm rồi, anh ta chẳng nhớ được cỗ bài nào cả. Tuy nhiên, ở lần ghi nhớ gần nhất, anh ta đạt thành tích 35.1 giây.”
Ed quay sang Ben. “Pridmore đây đang giữ kỷ lục thế giới về môn nhớ bài, 31.03 giây. Và anh ta là người Anh.” Điều này khơi lên một tràng chúc tụng om sòm từ đám thực khách. “Ben cũng nhớ được hai mươi bảy cỗ bài trong một giờ - mà điều này nói thẳng ra là không cần thiết.”
Ben buông tay xuống và lên tiếng. “Lukas và tôi có nói chuyện, và chúng tôi đang nghĩ rằng vì Ed xếp hạng thứ mười bảy trên thế giới-” “Anh giễu tôi đấy,” Ed phản đối. Anh ta không biết rằng gần đây vài người Đức trẻ tuổi đã vượt qua anh ta trên bảng xếp hạng quốc tế.
“Chúng tôi đã quyết định sẽ không tranh tài trừ phi anh ta có thể nêu tên của từng người trong phòng này.”
Lại thêm một tràng chúc tụng huyên náo, mà Ed đang cố dẹp lắng. Anh ta điểm tên được chừng một phần tư đám khách, thì bị tắc tị trước một người bạn của một người bạn, mà anh ta bảo chưa bao giờ gặp. Anh đề nghị giữ trật tự, mời hai vị khách xáo những cỗ bài, và rồi đưa những cỗ bài cho Lukas và Ben. Đồng hồ đếm giờ đã bật. Mỗi người có một phút.
Sau khi mới lật độ sáu lá bài, mọi người thấy rõ là Lukas chỉ cố giữ được thẳng cổ chứ, không tài nào sử dụng thêm năng lực nhận thức đặc biệt của anh ta được nữa. Anh đặt cỗ bài xuống bàn, ngái ngủ tuyên bố, “Ít nhất tôi vẫn đứng trước Ed trên bảng xếp hạng quốc tế.”
Ed nhanh nhẹn đẩy Lukas ra và chiếm lấy ghế của anh ta. “Nhân dịp sinh nhật thứ hai lăm của tôi, tôi rất vui sướng được nói rằng một trong những thí sinh tham gia buổi trình diễn đã say xỉn quá không tranh tài được, nên tôi sẽ đảm nhận vị trí đó!” Những cỗ bài được xáo lại và đồng hồ đếm giờ được chỉnh lại. “Bây giờ, Pridmore, anh làm ơn bình tĩnh nhé?”
Sau một phút nín lặng để ghi nhớ, Ben và Ed thay nhau đọc những quân bài trong trí nhớ, trong khi một trọng tài tự chỉ định kiểm tra xem họ có đúng không.
Ed: “J nhép.” Chúc mừng. Ben: “Hai rô.” Ều
Ed: “Chín nhép.” Chúc mừng.
Ben: “Bốn pích.” Ều.
Ed: “Năm pích.” Chúc mừng. Ben: “Át pích.” Ều.
Được chừng bốn mươi quân bài, Ben lắc đầu và đặt tay xuống bàn. “Thôi tôi chán rồi.”
Ed nhảy nhổm dậy. “Tôi biết Ben Pridmore sẽ đi quá nhanh mà! Tôi biết vậy mà! Anh ta thất bại rồi!”
“Anh đã vô địch thế giới được mấy lần rồi?” Ben phản ứng lại, với chút châm chọc cay chua
hơn hơn so với trước đây tôi từng nghe. “Hay là đấu tay đôi cho biết sức đi, Ben?”
“Anh biết tôi thua là để làm quà sinh nhật anh đấy.”
Khi Ed đi quanh phòng để đập tay ăn mừng và ôm lấy các vị khách nữ, Ben ngồi khuất trên nệm ngồi mân mê áo choàng. Một trong những anh bạn hẩu người Oxford của Ed đang say xỉn, rất ấn tượng với màn trình diễn của Ben dù anh ta thua, đã đến chỗ Ben và đưa ra một xấp thẻ tín dụng. Anh ta bảo Ben nếu Ben có thể ghi nhớ những thẻ này thì sẽ được dùng chúng.
Sau màn thi nhớ bài, bữa tiệc được chuyển ra ngoài cạnh đống lửa được dựng lên ở sân, nơi cuộc tiệc tùng của bộ tộc say xỉn kéo dài đến tận sáng. Đến lúc sắp bình minh thì tôi cũng đi ngủ, lúc này Ed và Ben đang ngồi quanh bàn trong bếp, đang ngồi nhắc đi nhắc lại dãy số nhị phân kỳ quái hấp dẫn nhất mà họ có thể nghĩ ra.
Lúc đã hoàn hồn sau cuộc say xỉn, Ed và tôi dành cả buổi chiều hôm sau ngồi bên bàn bếp để luyện tập. Tôi nêu ra ba vấn đề cụ thể cần anh ta giúp, mà khẩn thiết nhất là tôi thường xuyên nhầm lẫn giữa các hình ảnh. Khi bạn nhớ một cỗ bài, thì không có đủ thời gian để tạo ra những hình ảnh với mọi chi tiết và sự phong phú mà Ad Herennium yêu cầu. Bạn lật bài quá nhanh đến mức thường chỉ đủ thời gian liếc qua. Trên thực tế, hơn bất cứ gì khác, thuật ghi nhớ chính là học cách làm sao nhìn hình ít nhất mà vẫn nhớ được. Nhờ phân tích dữ liệu mà tôi ghi lại, tôi mới nhận ra luôn nhầm lẫn quân bảy rô - Lance Armstrong đang đi xe đạp - với bảy pích - một anh nài ngựa đang cưỡi ngựa. Có điều gì đó về động từ “riding” (vừa có nghĩa là đi xe đạp, vừa có nghĩa cưỡi ngựa) trong hai bối cảnh rất khác nhau đó khiến tôi nhầm lẫn.
Tôi đã hỏi Ed với chuyện này thì nên làm gì. “Đừng cố nhìn toàn bộ hình ảnh,” anh ta nói. “Anh không cần phải như vậy. Chỉ cần tập trung vào một yếu tố nổi bật nhất mà anh đang cố hình dung. Nếu đó là bạn gái anh, anh nhìn nụ cười cô ấy trước bất cứ điều gì khác. Tập trung vào màu trắng của hàm răng, cách đôi môi nhếch lên. Những chi tiết khác sẽ làm cô ấy dễ nhớ hơn, nhưng nụ cười mới là chủ chốt. Đôi khi khi nhớ về một hình ảnh nào đó, anh còn đọng lại ký ức về một vệt xanh xanh sặc mùi hàu, nhưng nếu anh hiểu rõ hệ thống của mình, anh vẫn có thể diễn dịch hình ảnh đó lần nữa trong đầu. Thường là, khi anh thực sự tìm kiếm nó, những dấu vết duy nhất để lại khi nhìn một cỗ bài được lật rất nhanh sẽ là một chuỗi những cảm xúc mà không có nội dung hình ảnh gì hết. Anh có thể chọn cách khác là thay đổi các hình ảnh, để chúng không quá thân quen - không quá trần tục.”
Tôi nhắm mắt và cố hình dung cảnh Lance Armstrong đang đạp xe lên dốc núi. Tôi chú ý đặc biệt vào cặp kính râm, khi ánh nắng chiếu vào chúng chuyển từ màu xanh dương sang xanh lá. Rồi tôi nghĩ về người nài ngựa và quyết định anh ta sẽ nổi bật hơn trong hình ảnh người tí hon đội mũ rộng vành cưỡi chú ngựa con. Chút điều chỉnh đó có lẽ bớt cho tôi được hai giây.
“Nhớ bài như vậy là tốt lắm,” Ed nói khi tôi đưa cho anh ta xem ghi chép mới nhất. “Chỉ năm hay sáu tiếng tập luyện nữa thôi là những hình ảnh đại diện sẽ tự động hiện ra. Tôi chắc chắn kỷ lục nhớ bài nhanh của người Mỹ chỉ là trò trẻ con thôi. Tôi sẽ sướng phát khóc mất!”
Tất nhiên, trước mọi phân tích và sắp xếp lại để khiến việc tập luyện có chủ ý trở nên thực sự có chủ ý, Ed cảnh báo tôi rằng trong môn thể thao trí nhớ luôn có rủi ro khi mải nghĩ quá nhiều thứ, bởi mỗi thay đổi trong hệ thống ghi nhớ của bạn sẽ để lại một dấu vết và quay lại ám ảnh ngay trong lúc thi đấu. Và nếu có điều gì mà những vận động viên trí nhớ hết sức muốn tránh, đó là vào ngày thi đấu, mỗi lá bài hay chữ số lại gợi ra nhiều hình ảnh khác nhau.
Một vấn đề khác tôi phát hiện ra trong quá trình tập luyện là hình ảnh lá bài thường mờ đi quá nhanh. Tới lúc tôi lật hết cỗ bài, hay xong hết một dãy số, thì những hình ảnh lúc bắt đầu trở thành bóng ma mờ nhạt. Tôi đề cập chuyện này với Ed.
“À, anh phải hiểu rõ hơn các hình ảnh của anh,” là câu trả lời của anh ta. “Bắt đầu tối nay, hãy dành thời gian nghiền ngẫm về mỗi nhân vật. Hãy tự hỏi trông họ thế nào, cảm giác, mùi vị, hương vị và âm thanh ra sao; họ đi đứng thế nào; đường cắt trên trang phục; thái độ xã hội của họ; sở thích tình dục của họ; thiên hướng bạo lực vô cớ của họ. Sau khi đã hiểu hết cảm xúc như thế về họ, cố để tất cả xảy ra cùng một lúc - hãy cảm nhận trọn vẹn cùng một lúc những đặc điểm thể chất và xã hội của họ trong luồng tưởng tượng, rồi hình dung họ đang đến nhà anh làm những việc thường ngày, để anh thật quen thuộc với họ, thậm chí trong những tình huống bình thường. Bằng cách đó, khi họ xuất hiện trong một cỗ bài, họ luôn gợi lên những những đặc điểm nổi bật gắn với không gian xung quanh họ.”
Tôi cần Ed giúp đỡ một vấn đề khác. Theo lời khuyên của Peter thành Ravenna và Ad Herennium, tập hợp những hình ảnh PAO của tôi có một vài hành động gây cười song hơi thô tục. Vì ghi nhớ một cỗ bài theo hệ thống PAO đòi hỏi tái kết hợp những hình ảnh tưởng tượng dễ nhớ có trước để tạo ra hình ảnh mới dễ nhớ, mà nếu cứ đưa những người trong gia đình tôi vào những cảnh thô tục như vậy, e là nâng cấp được trí nhớ thì tiềm thức cũng bị hành hạ khổ sở. Những hành động không đứng đắn mà tôi tưởng tượng bà mình thực hiện để ghi nhớ quân tám cơ thực sự là không thể nói ra, (mà nếu không làm vậy, như tôi đã biết từ trước, thì tôi không hình dung nổi).
Tôi giải thích với Ed nỗi khó xử của tôi. Anh ta biết rõ điều này. “Rốt cuộc thì tôi cũng đã phải đưa hình ảnh mẹ tôi vào việc ghi nhớ bài,” anh ta nói. “Tôi khuyên anh cũng làm như vậy.”
Ed là một huấn luyện viên nghiêm khắc, anh ta trách móc tôi vì “tính cách yếu đuối” trong lúc tập luyện. Nếu cứ vài ngày mà tôi không cập nhật thông tin cho anh ta, hay thú nhận tôi đã không bỏ ra nửa tiếng một ngày như anh ta yêu cầu, tôi sẽ nhận được một e-mail với lời khiển trách cay độc.
“Anh phải tiếp tục luyện tập, nếu không thì chắc chắn thành tích của anh sẽ giảm ngay trong giải đấu,” anh ta cảnh báo. “Anh có thể đạt được trạng thái tâm lý thi đấu hoàn hảo và thực sự tăng điểm số luyện tập, nhưng anh phải làm việc với tâm thế rằng thành tích của anh trong lúc luyện tập là tốt hơn trong giải đấu.”
Tôi thì không thấy mình “yếu đuối” đến thế. Giờ tôi đã vượt qua được ngưỡng OK, điểm số của tôi đang cải thiện gần như hàng ngày. Những tờ giấy với các chữ số ngẫu nhiên mà tôi ghi nhớ đã xếp đầy trong ngăn bàn. Những trang giấy thơ quăn nếp mà tôi đã học thuộc lòng nhét đầy trong cuốn Hợp tuyển Norton thơ hiện đại. Tôi bắt đầu lờ mờ cho rằng nếu cứ tiến bộ với tốc độ như hiện nay, hẳn tôi có cơ hội đạt kết quả tốt tại giải đấu.
Ed gửi cho tôi một câu trích của võ sư Lý Tiểu Long, mà anh ta hy vọng sẽ khơi nguồn cảm
hứng cho tôi: “Không có giới hạn nào cả. Có những cái ngưỡng, nhưng bạn không được dừng lại ở đó, bạn phải vượt qua chúng. Nếu nó giết được bạn, thì nó sẽ giết chết bạn.” Tôi chép lại trên giấy nhắc Post-it và dán lên tường. Rồi tôi xé xuống và ghi nhớ nó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét