Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

Hệ thống PAO

Theo hệ thống PAO, bất kỳ số nào có hai chữ số, từ 00 đến 99, đều được thể hiện bằng một hình ảnh riêng về một người đang thực hiện một hành động nào đó với một đồ vật. Số 34 sẽ là Frank Sinatra (một người) đang ngân nga (hành động) trước một microphone (một đồ vật). Tương tự, 13 sẽ là David Beckham đang đá một quả bóng. Số 79 có thể là siêu nhân đang bay cùng áo choàng. Bất kỳ số có sáu chữ số nào, ví dụ 34-13-79, có thể chuyển thành một hình ảnh duy nhất bằng cách kết hợp người ở số thứ nhất với hành động ở số thứ hai và đồ vật ở số thứ ba - trong trường hợp này sẽ là, Frank Sinatra đang đá áo choàng.

Nếu chữ số là 79-34-13, thì vận động viên trí óc sẽ tưởng tượng một hình ảnh khá kỳ quặc là Siêu nhân đang ngân nga trước quả bóng đá. Chẳng có gì gắn liền với Sinatra ở số 34 hay với Beckham ở số 13 cả. Không như Hệ thống Lớn, những mối liên hệ này hoàn toàn là tùy ý và phải học thuộc trước, nghĩa là phải ghi nhớ thật nhiều trước khi có thể ghi nhớ. Phải tiêu tốn một lượng lớn nhất định thời gian và công sức để đi tranh tài ở cuộc thi trí nhớ. Nhưng điều làm hệ thống này trở nên rất hiệu nghiệm ấy là nó thực sự tạo ra hình ảnh độc nhất cho mỗi số từ 0 đến 999.999. Và vì thuật toán này chắc chắn tạo ra những cảnh không có trên thực tế nên chúng dễ nhớ hơn.

Môn thể thao trí nhớ giống một dạng chạy đua vũ trang. Mỗi năm một người - thường là một đấu thủ tạm thời đang thất nghiệp hoặc một sinh viên nhàn rỗi trong kỳ nghỉ hè - nghĩ ra một kỹ thuật phức tạp hơn để ghi nhớ nhanh hơn, buộc những người còn lại phải chạy đua theo.

Sáu tháng qua Ed đã dành thời gian để phát triển cái anh ta gọi là “quái vật trí nhớ phức tạp nhất chuyên để đối phó với giải vô địch trí nhớ.” Hệ thống mới này, anh ta gọi là “PAO thiên niên kỷ,” nâng cấp từ hệ thống hai chữ số mà hầu hết người châu Âu sử dụng sang một hệ thống ba chữ số, gồm một ngàn hình ảnh người-hành-động-đồ vật khác nhau. Nó sẽ cho phép anh ta chuyển mỗi số từ không đến 999.999.999 thành một hình ảnh riêng, mà hy vọng là chúng sẽ không nhầm lẫn với nhau. “Trước đây tôi chỉ có con thuyền đua bé tí hai-chữ-số có thể bắn xuyên những chữ số như con cá hồi chơi thuốc kích thích, thì giờ đây tôi có một con tàu chiến sáu mươi tư khẩu súng ba-chữ-số,” anh ta hãnh diện. “Nó mạnh kinh hồn, nhưng hẳn sẽ khó kiểm soát.” Nếu hệ thống này hiệu quả, anh ta trù tính, nó sẽ là một bước đột phá trong môn thể thao trí nhớ.

Các vận động viên trí óc ghi nhớ những cỗ bài theo cách gần như tương tự, sử dụng hệ thống PAO trong đó mỗi quân bài được liên hệ với một hình ảnh người-hành động-đồ vật. Điều này cho phép bất kỳ bộ ba quân bài nào cũng chuyển được thành một hình ảnh, và trọn một cỗ bài có thể thu lại chỉ còn mười tám hình ảnh (52 chia 3 bằng 17, dư một lá bài.)

Nhờ Ed giúp đỡ, tôi cần mẫn tạo ra hệ thống PAO riêng của mình, bằng cách tưởng tượng

ra năm mươi hai hình ảnh người-hành động-đồ vật khác nhau. Để cho dễ nhớ nhất, hình ảnh của mỗi người phải gợi đến cảm nhận của người ghi nhớ về màu sắc và sức thu hút. Thế có nghĩa kho hình ảnh PAO của một vận động viên trí óc mang tính cá nhân và tính khôi hài rất cao, và là một chỉ dấu khá rõ về những hình tượng trong tiềm thức của mỗi người: trong trường hợp của tôi, đó là những ngôi sao truyền hình những năm 1980 và đầu những năm 1990; trong trường hợp Ben Pridmore, đó là những nhân vật hoạt hình; với Ed, đó là những người mẫu đồ lót và các vận động viên cricket của Anh vào thời kỳ Đại Suy thoái. Quân K cơ, với tôi, đó là Michael Jackson đeo găng tay trắng, nhảy điệu moonwalk. Quân K nhép là John Goodman đang ăn bánh hamburger, và K rô là Bill Clinton đang hút xì gà. Nếu tôi phải ghi nhớ K cơ, K nhép và K rô theo thứ tự, tôi sẽ tạo ra một hình ảnh Michael Jackson đang ăn một điếu xì gà. Trước khi tôi có thể ghi nhớ bất kỳ cỗ bài nào, thì trước hết tôi phải ghi nhớ năm mươi hai hình ảnh đó. Một việc không nhỏ.

So với hệ thống Ben Pridmore dùng cho các lá bài thì hệ thống PAO của tôi quả là mờ nhạt. Mùa thu năm 2002, anh ta bỏ công việc kế toán đã làm sáu năm rưỡi ở một nhà máy thịt ở Lincolnshire, để sang Vegas một tuấn chơi bài, rồi quay về Anh và dành trọn sáu tháng xem hoạt hình, lấy được bằng dạy tiếng Anh cho người nước ngoài, và phát triển một ”vũ khí hạt nhân” hoàn toàn mới. Thay vì tạo một hình ảnh người-hành động-đồ vật cho mỗi quân bài trong cỗ bài, Ben mất hàng chục tiếng đồng hồ để tạo hình ảnh riêng cho mỗi cặp bài (hai lá - ND).

Khi anh ta nhìn thấy quân Q cơ, tiếp sau là Át rô, đại diện cho cặp lá bài này là một hình ảnh riêng. Khi anh ta thấy hình quân Át rô, tiếp sau là Q cơ, lại là một hình đại diện khác. Nghĩa là có 52 nhân với 52, hay 2.704 cặp bài mà Ben phải ghi nhớ trước. Sử dụng hệ thống tương tự như PAO của Ed, anh ta đặt ba hình ảnh vào mỗi điểm chứa. Như vậy anh ta có thể thu gọn cả một cỗ bài vào chín điểm chứa (52 chia 6), và hai bảy cỗ bài - số cỗ bài nhiều nhất anh ta có thể ghi nhớ trong một giờ - tương đương 234 điểm chứa.

Khó mà nói giữa tài năng trí tuệ của Ben và bàn tay khéo léo của anh cái nào đáng ngưỡng mộ hơn. Anh ta có thể dùng ngón cái, rất mau lẹ, gẩy hai quân bài một lúc, chỉ vừa đủ để nhìn chất và số nơi góc lá bài. Khi ở tốc độ cao nhất, anh ta nhìn mỗi cặp bài chưa đầy một giây.

Ben đã phát triển một thứ tương tự như hệ thống của Byzantine để ghi nhớ những số nhị phân, giúp anh ta chuyển bất kỳ chuỗi mười chữ số nào gồm các phần tử một và không thành một hình ảnh duy nhất. Nghĩa là phải có sẵn 210, hay 1.024 hình ảnh cho những số nhị phân. Khi nhìn thấy 1101001001, anh ta ngay lập tức xem nó như một nhóm duy nhất,đại diện bằng hình ảnh của một cuộc chơi bài. Khi thấy 0111011010, anh ta ngay lập tức gợi ra hình ảnh một rạp chiếu phim. Trong cuộc thi trí nhớ quốc tế, các vận động viên trí óc nhận được những tờ giấy có 1.200 chữ số nhị phân, ba mươi số mỗi hàng, bốn mươi hàng trên một trang giấy. Ben chuyển mỗi một hàng ba mươi chữ số thành một hình ảnh riêng.

Ví dụ, số 110110100000111011010001011010, là một lực sỹ đang bỏ một con cá vào hộp. Lúc này, Ben giữ kỷ lục thế giới vì đã học thuộc 3.705 tổ hợp số 1 và 0 sắp xếp ngẫu nhiên trong vòng nửa giờ.

Khi tôi bắt đầu rèn luyện trí nhớ, viễn cảnh phải học những kỹ thuật phức tạp này đáng sợ đến vô lý. Song Anders Ericsson và tôi đã giao ước với nhau. Tôi sẽ cho ông những ghi chép tỉ mỉ toàn bộ quá trình luyện tập của tôi, đó sẽ là dữ liệu hữu ích cho nghiên cứu của ông về sự thành thạo chuyên môn. Đổi lại, Tres và Katy, các sinh viên của ông, sẽ phân tích dữ liệu đó để tìm cách nào cho tôi có thể thực hiện tốt hơn nữa. Tôi đã hứa sau giải vô địch trí nhớ sẽ quay lại Tallahassee vài ngày làm thí nghiệm đánh giá để họ có thể viết một bài nghiên cứu về toàn bộ dự án này.

Ericsson đã nghiên cứu quá trình thu nạp kĩ năng từ hàng chục góc độ trong hầu hết mọi lĩnh vực khác nhau, và nếu có bất kỳ bí quyết chung nào đó để trở thành chuyên gia, thì gần như chắc chắn chính ông là sẽ tìm ra chúng. Từ những cuộc trò chuyện rất chi tiết với ông, và nhờ đọc gần như mọi cuốn sách và nghiên cứu của ông, mà tôi biết rằng giữa nhiều lĩnh vực, ông phát hiện ra một số kỹ thuật chung mà mỗi cá nhân hoàn hảo sẽ sử dụng trong quá trình trở thành chuyên gia - những nguyên tắc chung để đạt được kỹ năng chuyên môn. Những nguyên tắc đó sẽ là vũ khí bí mật của tôi.

Mấy tháng sau đó, tôi miệt mài với hệ thống PAO trong tầng hầm nhà bố mẹ mình, Erisson theo dõi sát sao mọi diễn tiến. Tôi cập nhật cho ông những biến đổi trong suy nghĩ của mình về cuộc thi sắp tới, mà tôi nhận ra chúng đã dần bắt đầu chuyển từ sự tò mò vô tư sang lòng ganh đua hăng hái. Khi gặp chỗ bí, tôi lại gọi điện cho Ericsson tìm lời khuyên, lần nào ông cũng sẽ khiến tôi bấn lên tìm đọc những nghiên cứu mà ông hứa hẹn sẽ giúp tôi hiểu được khiếm khuyết của mình. Có thời điểm, không lâu sau khi tôi bắt đầu, trí nhớ của tôi ngừng tiến triển. Dù tôi có luyện tập thế nào, tôi không thể nhớ một cỗ bài nhanh hơn được. Tôi bị mắc kẹt trong vệt lầy mà không thể tìm ra nguyên nhân. “Thành tích thời gian nhớ quân bài của tôi đã tới ngưỡng rồi,” tôi than vãn với ông.

“Tôi khuyên anh nên đọc nghiên cứu về gõ bàn phím nhanh,” ông đáp.

Khi người ta lần đầu sử dụng bàn phím, họ tiến triển nhanh từ gõ mổ cò sang gõ cẩn thận mười ngón tay, cho đến khi cuối cùng các ngón tay múa trên bàn phím một cách tự nhiên đến mức cả quá trình này trở thành tiềm thức và những ngón tay dường như có lý trí riêng. Lúc này, kỹ năng gõ phím của mọi người hầu như không tiến triển nữa. Họ đạt đến một ngưỡng. Hẳn bạn thấy hiện tượng này cũng thật kỳ quặc. Vì dù sao, người ta thường bảo rằng tập luyện tạo nên sự hoàn hảo, và vẫn có nhiều người ngồi trước bàn phím ít nhất vài tiếng mỗi ngày để chủ yếu tập gõ bàn phím đó thôi. Tại sao họ không càng ngày càng gõ phím thạo hơn?

Những năm 1960, nhà tâm lý học Paul Fitts và Michael Posner cố trả lời câu hỏi này bằng cách mô tả ba giai đoạn bất kỳ ai cũng trải qua khi tiếp thu một kỹ năng mới. Trong giai đoạn đầu, được gọi là “giai đoạn làm quen,” (cognitive stage) bạn phân tích nhiệm vụ và khám phá ra những chiến lược mới để hoàn thành hiệu quả hơn. Thứ hai, ở giai đoạn liên tưởng (associative stage), bạn ít tập trung hơn, ít gặp lỗi lớn, và nhìn chung trở nên thành thạo hơn. Cuối cùng, bạn đạt đến độ Fitts gọi là “giai đoạn độc lập,” (autonomous stage) khi bạn nhận ra rằng bạn đạt đủ mức cần thiết để thực hiện nhiệm vụ và về căn bản, bạn gõ phím không cần suy nghĩ. Trong giai đoạn độc lập này, bạn không còn kiểm soát điều mình đang làm một cách có ý thức nữa. Trong đa số trường hợp, điều này là tốt.

Đầu óc của bạn bớt đi một việc phải bận tâm. Thực tế, giai đoạn tự động này là một trong những đặc điểm mà sự tiến hóa đã đem lại vì lợi ích của chúng ta. Bạn càng ít tập trung vào những nhiệm vụ lặp đi lặp lại hàng ngày, thì bạn càng có thể tập trung vào những việc thực sự quan trọng, những việc bạn chưa bao giờ thấy trước đó. Và vì vậy, một khi chúng ta đánh máy khá lắm rồi, chúng ta cất nó vào ngăn kéo của trí óc và thôi chú ý đến nó. Bạn có thể thấy sự dịch chuyển này diễn ra trên ảnh chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI) của những người học kỹ năng mới. Khi một nhiệm vụ trở thành tự động, phần bộ não liên quan đến lý lẽ hữu thức trở nên kém hoạt động, và những phần khác của bộ não tiếp quản. Bạn có thể gọi đó là “Ngưỡng OK,” là điểm mà bạn quyết định bạn chấp nhận mình làm tốt việc gì đó, bật chế độ tự động lên, và thôi cải thiện nó nữa.

Trong hầu hết mọi việc chúng ta làm, chúng ta đều đạt đến ngưỡng OK. Chúng ta học cách lái xe lúc còn ở tuổi thiếu niên, và một khi đã lái đến mức không còn bị vé phạt hay gây ra

những tai nạn nghiêm trọng, chúng ta chỉ có lái tốt hơn mà thôi. Cha tôi đã chơi golf được bốn mươi năm, và ông vẫn chơi dở lắm - nếu đọc được điều này chắc ông sẽ tổn thương đây. Trong suốt bốn thập kỷ, điểm chấp của ông không hề giảm đi. Sao lại thế được? Ông đã đạt đến ngưỡng OK.

Các nhà tâm lý từng nghĩ rằng ngưỡng OK đánh dấu giới hạn trên của khả năng bẩm sinh. Trong cuốn sách xuất bản năm 1869 nhan đề Thiên tài theo di truyền (Hereditary Genius), Sir Francis Galton lập luận rằng một người chỉ có thể các cải thiện hoạt động thể chất và tinh thần cho đến khi anh ta chạm đến một “tường chắn” nhất định, mà “anh ta không thể vượt qua được bằng bất cứ nỗ lực hay sự giáo dục nào.” Theo quan điểm này, mức tốt nhất chúng ta có thể làm đơn giản là mức tốt nhất chúng ta có năng lực làm.

Nhưng Ericsson và đồng nghiệp của ông, những người nghiên cứu khả năng của các chuyên gia, đã nhiều lần nhận thấy rằng khi người ta ráng sức với nỗ lực đúng hướng, nhận định trên hiếm khi đúng. Họ tin rằng bức tường của Galton thường ít liên quan đến những giới hạn bẩm sinh của chúng ta, mà liên quan nhiều hơn đến việc chúng ta xem đâu là mức độ thực hiện có thể chấp nhận được.

Điều khiến những chuyên gia khác với chúng ta là họ có xu hướng thực hành một thói quen có định hướng và tập trung cao độ, mà Ericsson gọi là “thực hành có chủ ý.” Sau khi đã nghiên cứu những người đạt tới đỉnh cao trong nhiều lĩnh vực, ông phát hiện ra rằng những người đạt thành tựu cao nhất thường đi theo một mô hình phát triển giống nhau. Họ phát triển các chiến lược để trong quá trình luyện tập họ không rơi vào giai đoạn độc lập bằng cách làm ba điều: tập trung vào kỹ thuật, giữ vững mục tiêu, đánh giá liên tục và ngay lập tức kết quả thực hiện của mình. Họ buộc bản thân phải ở trong “giai đoạn làm quen.”

Ví dụ, các nhạc công nghiệp dư dành nhiều thời gian tập chơi nhạc,trong khi những nhạc công chuyên nghiệp có xu hướng tập những bài nhàm chán hoặc tập trung vào những bản nhạc cụ thể và khó. Vận động viên trượt băng giỏi nhất nhiều dành thời gian tập luyện để thực hiện những cú nhảy mà họ tiếp đất còn kém, trong khi những người kém hơn lại chú tâm vào những cú nhảy mà họ đã thuần thục. Thực hành có chủ ý, về bản chất, chắc hẳn rất khó nhọc.

Nói cách khác, khi bạn muốn giỏi việc gì đó, cách bạn dùng thời gian để thực hành còn quan trọng hơn lượng thì giờ bạn thực hành. Quả thật, trong mọi lĩnh vực chuyên môn đã được nghiên cứu kỹ lưỡng,từ cờ vua đến đàn violon cho tới bóng rổ, những nghiên cứu cho thấy rằng số năm mà một người thực hành trong một lĩnh vực lại ít tương quan với mức độ thành quả thực hiện. Cha tôi có thể xem việc đưa quả bóng golf vào cốc thiếc ở trong tầng hầm là một hình thức thực hành tốt, nhưng trừ phi ông chủ động theo dõi thành quả thực hiện của mình - xem xét lại, phản hồi lại, tư duy lại, sắp xếp lại - còn không thì ông sẽ chẳng bao giờ làm tốt hơn được. Thực hành thường xuyên thôi thì chưa đủ. Để tiến bộ, chúng ta phải thấy mình thất bại, và học được từ những sai lầm.

Theo phát hiện của Ericsson, cách tốt nhất để không rơi vào giai đoạn độc lập là thực hành sự thất bại. Một cách để làm vậy là, trong khi đang cố gắng thành thạo việc gì đó, hãy đặt bản thân vào vị trí của người có khả năng làm tốt hơn nhiệm vụ đó, và cố tìm hiểu xem người đó vượt qua những khó khăn như thế nào. Benjamin Franklin dường như là người đầu tiên thực hành kỹ thuật này. Trong cuốn hồi ký của mình, ông kể đã đọc những bài tiểu luận của những nhà tư tưởng vĩ đại, và cố viết lại những lập luận của tác giả theo logic riêng của Franklin. Rồi ông lại mở tiểu luận ra, đem so sánh phần mình viết lại với bản gốc

xem mạch suy nghĩ của ông có phù hợp với tác giả không. Những kỳ thủ giỏi nhất cũng theo một chiến lược tương tự. Họ thường dành nhiều giờ trong ngày để chơi lại những ván cờ mà các đại kiện tướng đã từng chơi, cố hiểu tìm hiểu cách suy nghĩ của bậc chuyên gia trong mỗi nước đi. Quả thật, cái chỉ dấu tốt nhất và duy nhất về kỹ năng chơi cờ của một người không phải là số ván cờ anh ta đã chơi với các đối thủ, mà số thì giờ anh ta ngồi một mình nghiên cứu những ván cờ cũ.

Bí quyết để cải thiện một kỹ năng là giữ được mức độ kiểm soát hữu thức trong khi thực hành - để buộc bản thân phải tránh chế độ hoạt động vô thức (autopilot). Với kỹ năng gõ bàn phím, vượt qua ngưỡng OK là việc tương đối dễ dàng. Các nhà tâm lý đã phát hiện ra rằng phương pháp hiệu quả nhất để cải thiện kỹ năng là buộc bản thân đánh máy nhanh hơn mức mà bạn chấp nhận được, và cho phép bản thân mắc lỗi. Trong một thí nghiệm nổi tiếng, những người gõ bàn phím gõ đi gõ lại những từ sáng trên màn hình nhanh hơn 10 đến 15 phần trăm so với khả năng ngón tay của họ gõ những từ đó trên bàn phím. Lúc đầu họ không thể theo kịp, nhưng sau vài ngày, họ tìm ra chướng ngại làm họ chậm lại, và vượt qua những cản trở đó, rồi họ tiếp tục gõ với tốc độ nhanh hơn. Bằng cách đưa việc gõ bàn phím ra khỏi giai đoạn độc lập và quay về sự kiểm soát hữu thức, họ đã chinh phục được ngưỡng OK.

Ericsson gợi ý tôi nên làm y như vậy với những lá bài. Ông bảo tôi tìm một cái máy đếm nhịp và cố ghi nhớ một lá bài mỗi khi máy kêu tích. Khi tôi đã tìm ra hạn chế của mình, ông hướng dẫn tôi đặt máy nhanh thêm 10 đến 20 phần trăm, và thử ở tốc độ nhanh hơn cho đến khi tôi không còn mắc lỗi. Mỗi khi nhìn đến lá bài nào và thấy khó khăn, tôi phải ghi chú nó, xem liệu tôi có tìm ra nguyên nhân tại sao việc nhớ lá bài ấy lại khó thế không. Việc này có tác dụng, trong vài ngày tôi đã thoát ra khỏi ngưỡng OK và thời gian ghi nhớ bài rút ngắn rất nhanh.

Nếu không thực hành một cách có chủ ý, thậm chí những chuyên gia cũng có thể thấy kỹ năng của họ suy giảm. Về chuyện này, Ericsson đã chia sẻ với tôi một ví dụ lạ thường. Dù bạn sẵn sàng tin vào lời khuyên của một bác sĩ lâu năm hơn là của một người vừa mới tốt nghiệp trường y, thì người ta phát hiện ra rằng, trong vài lĩnh vực y khoa, kỹ năng của các bác sĩ không tiến bộ theo thời gian họ hành nghề. Ví dụ, các bác sĩ xem hình chụp X-quang để chẩn đoán khối u nơi ngực chẳng hạn, có xu hướng làm càng lâu năm thì độ chính xác càng kém. Tại sao lại như vậy?

Theo Ericsson, với hầu hết những người chẩn đoán khối u ngực qua X-quang, việc hành nghề không phải là dạng thực hành có chủ ý. Nó giống trò ném đồng xu vào hộp sắt hơn là làm việc với một huấn luyện viên. Đó là bởi những người chẩn đoán khối u ngực qua phim X-quang thường vài tuần hoặc vài tháng sau mới biết được mình chẩn đoán có chính xác hay không, mà đến lúc đó họ gần như đã quên đi chi tiết vụ việc và không còn học được gì từ thành công và thất bại của mình.

Một lĩnh vực y khoa mà quy tắc này không áp dụng được là phẫu thuật. Không như người chẩn đoán u ngực qua phim X quang, các nhà phẫu thuật có xu hướng ngày càng thạo nghề theo thời gian. Theo Ericsson, điều khiến các nhà phẫu thuật khác với những người xem chẩn đoán u ngực qua X quang ấy là kết quả của hầu hết các cuộc phẫu thuật thường rõ ràng ngày lập tức - bệnh nhân sẽ khỏe lên hay yếu đi - nghĩa là nhà phẫu thuật nhanh chóng biết được kết quả thực hiện của mình. Họ luôn biết được điều gì có tác dụng, việc gì không, và họ luôn tiến bộ lên. Phát hiện này dẫn đến một ứng dụng thực tiễn của lý thuyết về sự thành thạo chuyên môn: Ericsson gợi ý rằng những người chẩn đoán ung thư vú qua phim X-quang thường xuyên phải đánh giá những ca bệnh cũ mà kết quả đã biết. Bằng

cách đó, họ có thể nhận được phản hồi ngay về kết quả thực hiện của mình.

Qua hình thức phản hồi ngay lập tức này, các chuyên gia phát hiện ra những cách mới để thực hiện tốt hơn và thúc đẩy ngưỡng OK chung cao hơn. Chừng nào mà nước vẫn ngập sâu tới cổ thì chừng ấy người ta vẫn phải bơi. Loài người chúng ta từ lâu đã tối đa tốc độ bơi. Ấy vậy mà hàng năm những kỷ lục bơi lội mới lại được xác lập. Loài người ngày càng bơi nhanh hơn. “Các vận động viên bơi lội tham gia kỳ Olympic hồi đầu thế kỷ thậm chí không đủ trình độ để tham gia đội tuyển bơi lội tại các cuộc thi ở trường trung học bây giờ”, Ericsson nhận xét, và “thành tích đạt huy chương vàng ở cuộc đua marathon Olympic nguyên thủy thì bây giờ những người nghiệp dư đủ trình độ tham gia cuộc đua Boston Marathon cũng đạt được.” Và điều này cũng đúng không chỉ với lĩnh vực thể thao, mà gần như trong mọi lĩnh vực. Triết gia thế kỷ mười ba Roger Bacon nói rằng “không ai có thể giỏi toán học bằng phương pháp đã biết từ trước tới nay, trừ phi anh ta mất ba mươi đến bốn mươi năm nghiên cứu nó.” Ngày nay, toàn bộ kiến thức toán học mà Bacon biết đến học sinh trung học bình thường cũng đạt được.

Không có lý do nào để cho rằng những vận động viên điền kinh tài năng nhất còn sống hiện nay sở hữu nhiều tài năng bẩm sinh hơn hầu hết vận động viên tài năng nhất trong quá khứ. Và cũng không có lý do nào để tin rằng việc cải tiến giày chạy hay đồ bơi - dù chắc chắn có ý nghĩa nhất định - là nguyên nhân chính toàn bộ những tiến bộ đáng kể về thành tích đó. Điều làm nên thay đổi chính là số lượng và chất lượng luyện tập mà các vận động viên đã trải qua để đạt được đẳng cấp quốc tế. Điều này đúng không chỉ trong môn chạy bộ hay bơi lội, mà cả trong môn phóng lao, trượt băng, và những môn thể thao khác. Không một môn thể thao nào mà thành tích về thời gian không đều đặn rút ngắn. Nếu quả có ngưỡng nào đó, thì nhìn chung chúng ta vẫn chưa đạt đến.

Làm sao chúng ta vượt qua chính mình như thế được? Một phần câu trả lời của Ericsson là những rào cản chúng ta đặt ra vừa có tính tâm lý lại vừa bẩm sinh. Khi một cái mốc được cho là có thể phá vỡ, thường là chẳng bao lâu sau sẽ có ai đó phá vỡ nó. Từ lâu, người ta nghĩ rằng không ai có thể chạy một dặm (tương đương 1,6km) dưới bốn phút. Đó được xem là rào cản bất biến, như tốc độ ánh sáng. Khi Roger Bannister, một sinh viên y khoa người Anh, hai lăm tuổi, cuối cùng cũng vượt qua cái ngưỡng bốn phút một dặm vào năm 1954, thành tích của anh được bắn lên trang nhất các báo trên thế giới và được ca ngợi là một trong những thành tự thể thao vĩ đại nhất mọi thời đại. Nhưng rào cản này hóa ra giống như cái cửa ngăn lũ. Chỉ sáu tuần sau, một người Úc tên John Landy chạy một dặm với thành tích hơn Bannister một giây rưỡi, và trong vòng vài năm việc chạy bốn phút một dặm đã trở nên phổ biến. Ngày nay, mọi vận động viên chạy chuyên nghiệp cự ly trung bình đều dự kiến vượt qua được mức bốn phút một dặm và kỷ lục thế giới đã giảm xuống còn 3 phút 43.13 giây. Tại Giải Vô địch trí nhớ thế giới, ít nhất nửa số kỷ lục đương tồn tại bị phá mỗi năm.

Thay vì coi việc nâng cao trí nhớ của tôi như tăng chiều cao hay cải thiện thị giác, hay co kéo những đặc tính cơ bản khác trên cơ thể mình, Ericsson khuyến khích tôi hãy nghĩ về nó như là việc cải thiện một kỹ năng - như học chơi một nhạc cụ chẳng hạn.

Chúng ta thường coi trí nhớ là một khối riêng biệt. Không phải vậy. Trí nhớ như một tập hợp những đơn vị (module) và hệ thống độc lập, mỗi đơn vị và hệ thống dựa vào mạng lưới những tế bào thần kinh. Một số người giỏi nhớ những con số, nhưng luôn quên những từ; một số người giỏi nhớ tên, nhưng không nhớ danh mục việc cần làm. Anh sinh viên SF, đối tượng nghiên cứu của Ericsson, người đã mở rộng ngưỡng nhớ chữ số lên gấp mười lần, lại không tăng lên được khả năng ghi nhớ tổng quát. Anh ta trở thành một chuyên gia nhớ

chữ số. Khi anh ta cố ghi nhớ danh mục những phụ âm ngẫu nhiên, anh ta chỉ có thể ghi nhớ chừng bảy phụ âm mà thôi.

Hơn hết thảy, điều tạo nên sự khác biệt giữa những chuyên gia trí nhớ hàng đầu với những người hạng hai đó là: họ tiếp cận việc ghi nhớ như một khoa học. Họ phát triển các giả thiết về hạn chế của mình; họ tiến hành những thử nghiệm và có dữ liệu theo dõi quá trình đó. “Giống như bạn đang phát triển một loại công nghệ, hoặc nghiên cứu một giả thiết khoa học,” người hai lần vô địch thế giới Andi Bell từng bảo tôi. “Anh phải phân tích điều anh đang làm.”

Nếu tôi muốn có cơ hội tự bắn mình lên nhóm hàng đầu ở giải vô địch trí nhớ, thì tôi phải luyện tập một cách tập trung và có chủ ý. Nghĩa là tôi cần thu thập dữ liệu và phân tích, đánh giá chúng. Và toàn bộ quá trình này là để nhích dần lên.

Tôi lập một bảng tính trên máy tính xách tay để theo dõi thời gian luyện tập của mình và những khó khăn gặp phải. Tôi vẽ đồ thị về mọi thứ, và ghi lại nhật ký về sự tăng điểm đều đặn:

Ngày 19 tháng Tám: Nhớ 28 lá bài trong 2:57

Ngày 20 tháng Tám: Nhớ 28 lá bài trong 2:39. Cũng ổn. Ngày 24 tháng Tám: nhớ 38 lá bài trong 4:40. Không tốt lắm.
Ngày 8 tháng Chín: Ngồi trong quán Starbucks chần chừ, không chịu viết bài báo đã quá hạn. Ghi nhớ 46 chữ số trong năm phút... Đáng tiếc. Rồi nhớ 46 lá bài trong 3:32. Quyết định cuối cùng mình sẽ thay đổi hình ảnh đại diện cho bốn chất bài. Tạm biệt những nữ diễn viên, xin chào những vận động viên trí óc. Quân nhép = Ed Cooke, quân rô = Gunther Karsten, quân cơ = Ben Pridmore, quân pích = mình.

Ngày 2 tháng Mười: Nhớ 70 từ ngẫu nhiên trong mười lăm phút. Không tốt! Mất điểm vì mình nhầm từ “grow” (tăng trưởng - động từ) với “growth” (sự tăng trưởng - danh từ) và “bicycle” với “bike” (đều có nghĩa là “xe đạp”). Từ nay trở đi, khi một từ có biến thể gần giống nhau, đặt một giấy nhắc trong cung trí nhớ cạnh hình ảnh gây nhầm lẫn!

16 tháng Mười: Nhớ được 87 từ ngẫu nhiên. Nhìn giấy trong mười lăm phút là quá dài. Mình cứ hay nhìn vào đồng hồ và liếc nhìn xung quanh thay vì tập trung ghi nhớ. Mình đang mất thì giờ. Tập trung đi, tập trung nào!

Dĩ nhiên sự chú ý là điều kiện tiên quyết cho việc ghi nhớ. Nói chung, khi chúng ta quên tên của một người mới quen, đó là bởi chúng ta bận rộn nghĩ xem sẽ nói gì tiếp theo, thay vì chú ý. Các kỹ thuật như hình ảnh tưởng tượng và cung trí nhớ có tác dụng đến vậy một phần là bởi chúng củng cố mức độ chú ý và sự lưu tâm mà bình thường thiếu vắng. Bạn không thể tạo ra một hình ảnh về một từ, một chữ số, hay tên một người mà không chăm chú vào đó. Và bạn không thể chăm chú vào điều gì đó nếu không làm cho nó dễ nhớ hơn. Vấn đề tôi đang mắc phải khi rèn luyện là tôi phát chán chuyện này và cho phép đầu óc mình vẩn vơ. Dù cho các hình ảnh người ta vẽ lên cung trí nhớ có thô lỗ, có sặc sỡ, hay ”khiêu khích” cách mấy chăng nữa, thì họ chỉ nhìn vào những trang giấy với những chữ số ngẫu nhiên chừng nào họ chưa phân tâm bởi tiếng động phòng bên. Có gì thú vị bên ấy không nhỉ, nghe như âm thanh cái gì đặt xuống.
Ed, anh ta đã bắt đầu gọi tôi bằng các danh xưng như “anh bạn,” “chàng trai,” rồi đến “Ông

Foer,” khăng khăng rằng giải pháp chữa chứng sao nhãng của tôi là phải nâng cấp thiết bị. Những chuyên gia trí nhớ nghiêm túc đều đeo đôi bịt tai. Một vài trong số những thí sinh nghiêm túc nhất còn đeo cả tấm che mắt để hạn chế tầm nhìn và thu hẹp phạm vi những điều gây mất tập trung. “Tôi thấy chúng lố bịch lắm, nhưng trong trường hợp của anh, chúng có thể là một vụ đầu tư hợp lý,” Ed nói trong một cuộc điện thoại cập nhật tình hình, thường là hai cuộc mỗi tuần. Chiều hôm đó, tôi đến cửa hàng dụng cụ mua một đôi bịt tai chuyên dụng, và một đôi kính nhựa bảo hộ dùng cho phòng lab. Tôi xịt sơn màu đen và khoan một lỗ nhỏ trên mỗi mắt kính. Từ lúc đó, tôi luôn đeo chúng để tập luyện.

Thật dễ dàng khi giải thích với mọi người rằng tôi sống cùng bố mẹ là để tiết kiệm vài đồng bạc khi tôi bắt đầu khởi nghiệp viết lách. Nhưng việc tôi đang làm dưới tầng hầm, với những trang giấy đầy chữ số ngẫu nhiên dán trên tường và những cuốn kỷ yếu trường trung học (mua ở chợ trời) bày đầy sàn nhà, không đến nỗi xấu hổ nhưng cũng phải giấu tiệt đi.

Khi bố tôi xuống tầng hầm và hỏi tôi có muốn đánh golf với ông một lát không, tôi sẽ nhanh chóng giấu đi trang giấy có những chữ số mà tôi ghi nhớ và giả vờ đang sốt sắng làm một việc gì khác, như viết bài báo mà tạp chí nào đó sẽ trả tiền cho tôi bằng một tấm séc, rồi tấm séc này sẽ được chuyển sang cho một chủ quán rượu. Đôi khi tôi tháo đôi bịt tai và mắt kính, rồi quay lại thấy bố tôi đang đứng ở cửa nhìn mình chăm chăm.

Nếu Ericsson là giáo sư của tôi, thì Ed nhận vai trò là người nâng đỡ tinh thần và người quản lý. Anh ta xếp đặt lịch cho tôi bốn tháng tiếp theo, với những mốc mà tôi phải đạt được, và một chế độ tập luyện nghiêm ngặt với nửa tiếng thực hành mỗi sáng, cộng với hai lượt củng cố trong buổi chiều, mỗi lượt năm phút. Một chương trình máy tính kiểm tra và ghi lại chi tiết những lỗi của tôi, để chúng tôi có thể phân tích chúng sau này. Một bảng tính theo dõi tôi đã thực hành thế nào, đã cải thiện ở đâu, và tôi gặp khó khăn ở đâu. Cứ vài ngày tôi gửi e-mail cho Ed cập nhật tình hình, và anh ta sẽ viết thư lại, đưa ra gợi ý nên làm gì để tiến bộ hơn.

Cuối cùng, tôi quyết định cần quay lại Mill Farm để có thêm thời gian tập luyện trực tiếp với huấn luyện viên. Tôi lên lịch chuyến đi sang Anh trùng với tiệc sinh nhật thứ hai lăm của Ed, một sự kiện hoành tráng mà anh ta đã xốn xang hết cả lên ngay từ khi tôi sang lần đầu tiên để xem Giải Vô địch trí nhớ Thế giới.

Bữa tiệc của Ed tổ chức ở khu nhà kho cũ xây bằng đá của trang trại Milf, nơi Ed đã dành phần lớn thời gian trong tuần để chuyển thành chỗ thử nghiệm cho triết lý tiệc tùng của anh ta. “Tôi đang cố tìm một ý tưởng để điều chỉnh những cuộc trò chuyện, không gian, chuyển động, tâm trạng và sự kỳ vọng, sao cho tôi có thể quan sát được chúng ảnh hưởng với nhau thế nào,” anh ta bảo tôi. “Để theo dõi những tham số này, tôi không coi mọi người như là các thực thể có ý chí, mà là những người máy - những phân tử thật sự - chuyện trò tại bữa tiệc. Và với tư cách là người tổ chức, tôi nghiêm túc nhận lấy trách nhiệm chuyện trò với họ theo cách tốt nhất có thể.”
Những tấm vải óng ánh treo từ rui nhà xuống sàn, chia gian nhà kho thành những phòng nhỏ. Cách duy nhất để đi vào hoặc ra là qua một mạng lưới những đường hầm, và cách dò đường duy nhất là phải nằm xuống mà bò. Không gian dưới cây đàn dương cầm lớn được chuyển thành pháo đài, những cái ghế bụi bẩn chất đống trên các bàn được lấy ra để quây thành vòng tròn trước lò sưởi.

“Những ai đã thực sự đi qua mạng lưới đường hầm đã trải qua một cuộc phiêu lưu. Họ phải

đấu tranh từng chút một, và do đó khi đến nơi, họ cảm thấy khoan khoái, nhẹ nhõm, có cảm giác đạt được thành tựu, và tham gia vào hoạt động này đem lại trải nghiệm tốt đẹp, với sự hăng hái và trí tưởng tượng cao nhất có thể. Tôi nghĩ việc rèn luyện trí nhớ của anh cũng hoàn toàn tương tự như chuyện này. Cái câu “Muốn thành công phải chịu qua gian khổ” nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng mà đúng đấy. Người ta phải chịu đau đớn, trải qua giai đoạn căng thẳng, một giai đoạn ngờ vực bản thân, một giai đoạn bối rối. Và khi ra khỏi đống hỗn độn đó, những tấm thảm thêu rực rỡ nhất đang chờ đón.”

Tôi bò theo sau anh ta qua một đường hầm tối đen dài chừng ba mét, và chui vào một căn phòng đầy quả bóng ngập tận cổ. Anh ta giải thích, mỗi ngăn phòng có chức năng như một ngăn chứa trong cung trí nhớ. Bữa tiệc của anh ta được thiết kế để có thể ghi nhớ một cách tối đa.

“Thường mọi người chỉ nhớ lờ mờ về những chuyện xảy ra trong bữa tiệc vì tiệc thường chỉ tổ chức trong một không gian duy nhất,chưa được chia nhỏ ra,” anh ta nói.“Một trong những ưu điểm của sự sắp đặt này là những trải nghiệm trong mỗi phòng đều được lưu lại trong phòng ấy, và tách biệt với những trải nghiệm ở phòng khác. Người ta rời bữa tiệc mang theo tất thảy mọi chuyện diễn ra trong bữa tiệc ấy, và sẽ ghi nhớ chúng cho đến tuổi trung niên và về già.”

Để thúc đẩy sự tương tác xã hội, Ed cảm thấy nhất thiết những người dự tiệc không được nhận ra nhau. Ben Pridmore, người đã đi tàu bốn tiếng đồng hồ từ Derby tới, mặc một áo choàng đen và đeo chiếc mặt nạ Grunch kinh dị của bộ tộc Mohawk ăn thịt người. Lukas Amsuss (đã hồi phục sau tai nạn từ trò phun lửa), đã bay từ Vienna sang chỉ để dự bữa tiệc, mặc một bộ quân phục Áo thế kỷ mười chín, có băng đeo chéo và những tấm huy chương. Một trong những bạn cũ của Ed ở Oxford, mặc bộ đồ hổ toàn thân. Một người khác xuất hiện với khuôn mặt đen sì và tóc bện. Ed đội một bộ tóc xoăn, mặc một chiếc váy, quần bó, và một áo ngực quá cỡ. Để tỏ ra mình là tay Mẽo duy nhất tại bữa tiệc, tôi vẽ khuôn mặt của mình giống Người hùng nước Mỹ (Captain America).

Sự kiện nổi bật của bữa tiệc là phần biểu diễn với các quân bài. Ngay trước lúc nửa đêm, Ed tập hợp chừng năm mươi khách khứa dưới tầng hầm của gian nhà kho và tuyên bố rằng để vinh danh hai mươi lăm năm tồn tại của anh ta trên cõi đời, hai vị chuyên gia nhớ bài vĩ đại nhất mọi thời sẽ tham gia một phần thi đối đầu. Ben, vẫn mang chiếc áo choàng đen nhưng đã tháo mặt nạ Grunch ra, ngự trên nệm ngồi ở một đầu chiếc bàn dài ngổn ngang những cốc nhựa sau khi đã dùng để uống rượu pha nước trái cây, và phần xương còn lại của nguyên một con cừu được nướng trên đống lửa ở sân sau. Lukas ngồi xuống đầu bàn bên kia trong bộ quân phục Áo.

“Trước tiên, tôi xin giới thiệu với mọi người ở đây vài chi tiết về khả năng nhớ bài của hai con người này,” Ed thông báo. “Lukas là một trong những người đầu tiên trên thế giới đã phá vỡ kỷ lục bốn mươi giây khi ghi nhớ một cỗ bài. Từ lâu trong cộng đồng chuyên gia trí nhớ, gồm mười một người, đây được xem như sự kiện bốn phút một dặm trong điền kinh. Anh ta đã liên tục phá vỡ cái mốc đó, và một thời là nhà vô địch thế giới môn nhớ bài nhanh. Anh ta cũng là một trong những thành viên sáng lập hiệp hội cao quý của những chuyên gia trí nhớ có tên KL7. Tất nhiên, trí nhớ kinh hoàng của anh ta sẽ tốt hơn nữa nếu anh ta quanh năm không say rượu,” Ed nói, giọng lúc trầm lúc bổng. Lukas nâng cốc nhựa lên rồi hướng về phía Ed gật đầu. “Các bạn biết đấy, Lukas đã cho tôi xem một cỗ máy thú vị và hữu ích mà anh ta cùng những người bạn kỹ sư ở Vienna làm ra, nó cho phép bạn uống bốn cốc bia trong chưa đầy ba giây. Nó có một hệ thống van mà họ phải mua lại của một công ty hàng không vũ trụ. Thật không may, dạo gần đây Lukas dùng nó hơi nhiều.

Gần một năm rồi, anh ta chẳng nhớ được cỗ bài nào cả. Tuy nhiên, ở lần ghi nhớ gần nhất, anh ta đạt thành tích 35.1 giây.”

Ed quay sang Ben. “Pridmore đây đang giữ kỷ lục thế giới về môn nhớ bài, 31.03 giây. Và anh ta là người Anh.” Điều này khơi lên một tràng chúc tụng om sòm từ đám thực khách. “Ben cũng nhớ được hai mươi bảy cỗ bài trong một giờ - mà điều này nói thẳng ra là không cần thiết.”

Ben buông tay xuống và lên tiếng. “Lukas và tôi có nói chuyện, và chúng tôi đang nghĩ rằng vì Ed xếp hạng thứ mười bảy trên thế giới-” “Anh giễu tôi đấy,” Ed phản đối. Anh ta không biết rằng gần đây vài người Đức trẻ tuổi đã vượt qua anh ta trên bảng xếp hạng quốc tế.

“Chúng tôi đã quyết định sẽ không tranh tài trừ phi anh ta có thể nêu tên của từng người trong phòng này.”

Lại thêm một tràng chúc tụng huyên náo, mà Ed đang cố dẹp lắng. Anh ta điểm tên được chừng một phần tư đám khách, thì bị tắc tị trước một người bạn của một người bạn, mà anh ta bảo chưa bao giờ gặp. Anh đề nghị giữ trật tự, mời hai vị khách xáo những cỗ bài, và rồi đưa những cỗ bài cho Lukas và Ben. Đồng hồ đếm giờ đã bật. Mỗi người có một phút.

Sau khi mới lật độ sáu lá bài, mọi người thấy rõ là Lukas chỉ cố giữ được thẳng cổ chứ, không tài nào sử dụng thêm năng lực nhận thức đặc biệt của anh ta được nữa. Anh đặt cỗ bài xuống bàn, ngái ngủ tuyên bố, “Ít nhất tôi vẫn đứng trước Ed trên bảng xếp hạng quốc tế.”

Ed nhanh nhẹn đẩy Lukas ra và chiếm lấy ghế của anh ta. “Nhân dịp sinh nhật thứ hai lăm của tôi, tôi rất vui sướng được nói rằng một trong những thí sinh tham gia buổi trình diễn đã say xỉn quá không tranh tài được, nên tôi sẽ đảm nhận vị trí đó!” Những cỗ bài được xáo lại và đồng hồ đếm giờ được chỉnh lại. “Bây giờ, Pridmore, anh làm ơn bình tĩnh nhé?”

Sau một phút nín lặng để ghi nhớ, Ben và Ed thay nhau đọc những quân bài trong trí nhớ, trong khi một trọng tài tự chỉ định kiểm tra xem họ có đúng không.

Ed: “J nhép.” Chúc mừng. Ben: “Hai rô.” Ều
Ed: “Chín nhép.” Chúc mừng.

Ben: “Bốn pích.” Ều.

Ed: “Năm pích.” Chúc mừng. Ben: “Át pích.” Ều.
Được chừng bốn mươi quân bài, Ben lắc đầu và đặt tay xuống bàn. “Thôi tôi chán rồi.”

Ed nhảy nhổm dậy. “Tôi biết Ben Pridmore sẽ đi quá nhanh mà! Tôi biết vậy mà! Anh ta thất bại rồi!”

“Anh đã vô địch thế giới được mấy lần rồi?” Ben phản ứng lại, với chút châm chọc cay chua

hơn hơn so với trước đây tôi từng nghe. “Hay là đấu tay đôi cho biết sức đi, Ben?”
“Anh biết tôi thua là để làm quà sinh nhật anh đấy.”

Khi Ed đi quanh phòng để đập tay ăn mừng và ôm lấy các vị khách nữ, Ben ngồi khuất trên nệm ngồi mân mê áo choàng. Một trong những anh bạn hẩu người Oxford của Ed đang say xỉn, rất ấn tượng với màn trình diễn của Ben dù anh ta thua, đã đến chỗ Ben và đưa ra một xấp thẻ tín dụng. Anh ta bảo Ben nếu Ben có thể ghi nhớ những thẻ này thì sẽ được dùng chúng.

Sau màn thi nhớ bài, bữa tiệc được chuyển ra ngoài cạnh đống lửa được dựng lên ở sân, nơi cuộc tiệc tùng của bộ tộc say xỉn kéo dài đến tận sáng. Đến lúc sắp bình minh thì tôi cũng đi ngủ, lúc này Ed và Ben đang ngồi quanh bàn trong bếp, đang ngồi nhắc đi nhắc lại dãy số nhị phân kỳ quái hấp dẫn nhất mà họ có thể nghĩ ra.

Lúc đã hoàn hồn sau cuộc say xỉn, Ed và tôi dành cả buổi chiều hôm sau ngồi bên bàn bếp để luyện tập. Tôi nêu ra ba vấn đề cụ thể cần anh ta giúp, mà khẩn thiết nhất là tôi thường xuyên nhầm lẫn giữa các hình ảnh. Khi bạn nhớ một cỗ bài, thì không có đủ thời gian để tạo ra những hình ảnh với mọi chi tiết và sự phong phú mà Ad Herennium yêu cầu. Bạn lật bài quá nhanh đến mức thường chỉ đủ thời gian liếc qua. Trên thực tế, hơn bất cứ gì khác, thuật ghi nhớ chính là học cách làm sao nhìn hình ít nhất mà vẫn nhớ được. Nhờ phân tích dữ liệu mà tôi ghi lại, tôi mới nhận ra luôn nhầm lẫn quân bảy rô - Lance Armstrong đang đi xe đạp - với bảy pích - một anh nài ngựa đang cưỡi ngựa. Có điều gì đó về động từ “riding” (vừa có nghĩa là đi xe đạp, vừa có nghĩa cưỡi ngựa) trong hai bối cảnh rất khác nhau đó khiến tôi nhầm lẫn.
Tôi đã hỏi Ed với chuyện này thì nên làm gì. “Đừng cố nhìn toàn bộ hình ảnh,” anh ta nói. “Anh không cần phải như vậy. Chỉ cần tập trung vào một yếu tố nổi bật nhất mà anh đang cố hình dung. Nếu đó là bạn gái anh, anh nhìn nụ cười cô ấy trước bất cứ điều gì khác. Tập trung vào màu trắng của hàm răng, cách đôi môi nhếch lên. Những chi tiết khác sẽ làm cô ấy dễ nhớ hơn, nhưng nụ cười mới là chủ chốt. Đôi khi khi nhớ về một hình ảnh nào đó, anh còn đọng lại ký ức về một vệt xanh xanh sặc mùi hàu, nhưng nếu anh hiểu rõ hệ thống của mình, anh vẫn có thể diễn dịch hình ảnh đó lần nữa trong đầu. Thường là, khi anh thực sự tìm kiếm nó, những dấu vết duy nhất để lại khi nhìn một cỗ bài được lật rất nhanh sẽ là một chuỗi những cảm xúc mà không có nội dung hình ảnh gì hết. Anh có thể chọn cách khác là thay đổi các hình ảnh, để chúng không quá thân quen - không quá trần tục.”

Tôi nhắm mắt và cố hình dung cảnh Lance Armstrong đang đạp xe lên dốc núi. Tôi chú ý đặc biệt vào cặp kính râm, khi ánh nắng chiếu vào chúng chuyển từ màu xanh dương sang xanh lá. Rồi tôi nghĩ về người nài ngựa và quyết định anh ta sẽ nổi bật hơn trong hình ảnh người tí hon đội mũ rộng vành cưỡi chú ngựa con. Chút điều chỉnh đó có lẽ bớt cho tôi được hai giây.

“Nhớ bài như vậy là tốt lắm,” Ed nói khi tôi đưa cho anh ta xem ghi chép mới nhất. “Chỉ năm hay sáu tiếng tập luyện nữa thôi là những hình ảnh đại diện sẽ tự động hiện ra. Tôi chắc chắn kỷ lục nhớ bài nhanh của người Mỹ chỉ là trò trẻ con thôi. Tôi sẽ sướng phát khóc mất!”

Tất nhiên, trước mọi phân tích và sắp xếp lại để khiến việc tập luyện có chủ ý trở nên thực sự có chủ ý, Ed cảnh báo tôi rằng trong môn thể thao trí nhớ luôn có rủi ro khi mải nghĩ quá nhiều thứ, bởi mỗi thay đổi trong hệ thống ghi nhớ của bạn sẽ để lại một dấu vết và quay lại ám ảnh ngay trong lúc thi đấu. Và nếu có điều gì mà những vận động viên trí nhớ hết sức muốn tránh, đó là vào ngày thi đấu, mỗi lá bài hay chữ số lại gợi ra nhiều hình ảnh khác nhau.
Một vấn đề khác tôi phát hiện ra trong quá trình tập luyện là hình ảnh lá bài thường mờ đi quá nhanh. Tới lúc tôi lật hết cỗ bài, hay xong hết một dãy số, thì những hình ảnh lúc bắt đầu trở thành bóng ma mờ nhạt. Tôi đề cập chuyện này với Ed.

“À, anh phải hiểu rõ hơn các hình ảnh của anh,” là câu trả lời của anh ta. “Bắt đầu tối nay, hãy dành thời gian nghiền ngẫm về mỗi nhân vật. Hãy tự hỏi trông họ thế nào, cảm giác, mùi vị, hương vị và âm thanh ra sao; họ đi đứng thế nào; đường cắt trên trang phục; thái độ xã hội của họ; sở thích tình dục của họ; thiên hướng bạo lực vô cớ của họ. Sau khi đã hiểu hết cảm xúc như thế về họ, cố để tất cả xảy ra cùng một lúc - hãy cảm nhận trọn vẹn cùng một lúc những đặc điểm thể chất và xã hội của họ trong luồng tưởng tượng, rồi hình dung họ đang đến nhà anh làm những việc thường ngày, để anh thật quen thuộc với họ, thậm chí trong những tình huống bình thường. Bằng cách đó, khi họ xuất hiện trong một cỗ bài, họ luôn gợi lên những những đặc điểm nổi bật gắn với không gian xung quanh họ.”

Tôi cần Ed giúp đỡ một vấn đề khác. Theo lời khuyên của Peter thành Ravenna và Ad Herennium, tập hợp những hình ảnh PAO của tôi có một vài hành động gây cười song hơi thô tục. Vì ghi nhớ một cỗ bài theo hệ thống PAO đòi hỏi tái kết hợp những hình ảnh tưởng tượng dễ nhớ có trước để tạo ra hình ảnh mới dễ nhớ, mà nếu cứ đưa những người trong gia đình tôi vào những cảnh thô tục như vậy, e là nâng cấp được trí nhớ thì tiềm thức cũng bị hành hạ khổ sở. Những hành động không đứng đắn mà tôi tưởng tượng bà mình thực hiện để ghi nhớ quân tám cơ thực sự là không thể nói ra, (mà nếu không làm vậy, như tôi đã biết từ trước, thì tôi không hình dung nổi).

Tôi giải thích với Ed nỗi khó xử của tôi. Anh ta biết rõ điều này. “Rốt cuộc thì tôi cũng đã phải đưa hình ảnh mẹ tôi vào việc ghi nhớ bài,” anh ta nói. “Tôi khuyên anh cũng làm như vậy.”

Ed là một huấn luyện viên nghiêm khắc, anh ta trách móc tôi vì “tính cách yếu đuối” trong lúc tập luyện. Nếu cứ vài ngày mà tôi không cập nhật thông tin cho anh ta, hay thú nhận tôi đã không bỏ ra nửa tiếng một ngày như anh ta yêu cầu, tôi sẽ nhận được một e-mail với lời khiển trách cay độc.

“Anh phải tiếp tục luyện tập, nếu không thì chắc chắn thành tích của anh sẽ giảm ngay trong giải đấu,” anh ta cảnh báo. “Anh có thể đạt được trạng thái tâm lý thi đấu hoàn hảo và thực sự tăng điểm số luyện tập, nhưng anh phải làm việc với tâm thế rằng thành tích của anh trong lúc luyện tập là tốt hơn trong giải đấu.”

Tôi thì không thấy mình “yếu đuối” đến thế. Giờ tôi đã vượt qua được ngưỡng OK, điểm số của tôi đang cải thiện gần như hàng ngày. Những tờ giấy với các chữ số ngẫu nhiên mà tôi ghi nhớ đã xếp đầy trong ngăn bàn. Những trang giấy thơ quăn nếp mà tôi đã học thuộc lòng nhét đầy trong cuốn Hợp tuyển Norton thơ hiện đại. Tôi bắt đầu lờ mờ cho rằng nếu cứ tiến bộ với tốc độ như hiện nay, hẳn tôi có cơ hội đạt kết quả tốt tại giải đấu. Ed gửi cho tôi một câu trích của võ sư Lý Tiểu Long, mà anh ta hy vọng sẽ khơi nguồn cảm hứng cho tôi: “Không có giới hạn nào cả. Có những cái ngưỡng, nhưng bạn không được dừng lại ở đó, bạn phải vượt qua chúng. Nếu nó giết được bạn, thì nó sẽ giết chết bạn.” Tôi chép lại trên giấy nhắc Post-it và dán lên tường. Rồi tôi xé xuống và ghi nhớ nó.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét