Theo hệ thống PAO, bất kỳ số nào có hai chữ số, từ 00 đến 99, đều được thể hiện bằng một hình ảnh riêng về một người đang thực hiện một hành động nào đó với một đồ vật. Số 34 sẽ là Frank Sinatra (một người) đang ngân nga (hành động) trước một microphone (một đồ vật). Tương tự, 13 sẽ là David Beckham đang đá một quả bóng. Số 79 có thể là siêu nhân đang bay cùng áo choàng. Bất kỳ số có sáu chữ số nào, ví dụ 34-13-79, có thể chuyển thành một hình ảnh duy nhất bằng cách kết hợp người ở số thứ nhất với hành động ở số thứ hai và đồ vật ở số thứ ba - trong trường hợp này sẽ là, Frank Sinatra đang đá áo choàng.
Nếu chữ số là 79-34-13, thì vận động viên trí óc sẽ tưởng tượng một hình ảnh khá kỳ quặc là Siêu nhân đang ngân nga trước quả bóng đá. Chẳng có gì gắn liền với Sinatra ở số 34 hay với Beckham ở số 13 cả. Không như Hệ thống Lớn, những mối liên hệ này hoàn toàn là tùy ý và phải học thuộc trước, nghĩa là phải ghi nhớ thật nhiều trước khi có thể ghi nhớ. Phải tiêu tốn một lượng lớn nhất định thời gian và công sức để đi tranh tài ở cuộc thi trí nhớ. Nhưng điều làm hệ thống này trở nên rất hiệu nghiệm ấy là nó thực sự tạo ra hình ảnh độc nhất cho mỗi số từ 0 đến 999.999. Và vì thuật toán này chắc chắn tạo ra những cảnh không có trên thực tế nên chúng dễ nhớ hơn.
Môn thể thao trí nhớ giống một dạng chạy đua vũ trang. Mỗi năm một người - thường là một đấu thủ tạm thời đang thất nghiệp hoặc một sinh viên nhàn rỗi trong kỳ nghỉ hè - nghĩ ra một kỹ thuật phức tạp hơn để ghi nhớ nhanh hơn, buộc những người còn lại phải chạy đua theo.
Sáu tháng qua Ed đã dành thời gian để phát triển cái anh ta gọi là “quái vật trí nhớ phức tạp nhất chuyên để đối phó với giải vô địch trí nhớ.” Hệ thống mới này, anh ta gọi là “PAO thiên niên kỷ,” nâng cấp từ hệ thống hai chữ số mà hầu hết người châu Âu sử dụng sang một hệ thống ba chữ số, gồm một ngàn hình ảnh người-hành-động-đồ vật khác nhau. Nó sẽ cho phép anh ta chuyển mỗi số từ không đến 999.999.999 thành một hình ảnh riêng, mà hy vọng là chúng sẽ không nhầm lẫn với nhau. “Trước đây tôi chỉ có con thuyền đua bé tí hai-chữ-số có thể bắn xuyên những chữ số như con cá hồi chơi thuốc kích thích, thì giờ đây tôi có một con tàu chiến sáu mươi tư khẩu súng ba-chữ-số,” anh ta hãnh diện. “Nó mạnh kinh hồn, nhưng hẳn sẽ khó kiểm soát.” Nếu hệ thống này hiệu quả, anh ta trù tính, nó sẽ là một bước đột phá trong môn thể thao trí nhớ.
Các vận động viên trí óc ghi nhớ những cỗ bài theo cách gần như tương tự, sử dụng hệ thống PAO trong đó mỗi quân bài được liên hệ với một hình ảnh người-hành động-đồ vật. Điều này cho phép bất kỳ bộ ba quân bài nào cũng chuyển được thành một hình ảnh, và trọn một cỗ bài có thể thu lại chỉ còn mười tám hình ảnh (52 chia 3 bằng 17, dư một lá bài.)
Nhờ Ed giúp đỡ, tôi cần mẫn tạo ra hệ thống PAO riêng của mình, bằng cách tưởng tượng
ra năm mươi hai hình ảnh người-hành động-đồ vật khác nhau. Để cho dễ nhớ nhất, hình ảnh của mỗi người phải gợi đến cảm nhận của người ghi nhớ về màu sắc và sức thu hút. Thế có nghĩa kho hình ảnh PAO của một vận động viên trí óc mang tính cá nhân và tính khôi hài rất cao, và là một chỉ dấu khá rõ về những hình tượng trong tiềm thức của mỗi người: trong trường hợp của tôi, đó là những ngôi sao truyền hình những năm 1980 và đầu những năm 1990; trong trường hợp Ben Pridmore, đó là những nhân vật hoạt hình; với Ed, đó là những người mẫu đồ lót và các vận động viên cricket của Anh vào thời kỳ Đại Suy thoái. Quân K cơ, với tôi, đó là Michael Jackson đeo găng tay trắng, nhảy điệu moonwalk. Quân K nhép là John Goodman đang ăn bánh hamburger, và K rô là Bill Clinton đang hút xì gà. Nếu tôi phải ghi nhớ K cơ, K nhép và K rô theo thứ tự, tôi sẽ tạo ra một hình ảnh Michael Jackson đang ăn một điếu xì gà. Trước khi tôi có thể ghi nhớ bất kỳ cỗ bài nào, thì trước hết tôi phải ghi nhớ năm mươi hai hình ảnh đó. Một việc không nhỏ.
So với hệ thống Ben Pridmore dùng cho các lá bài thì hệ thống PAO của tôi quả là mờ nhạt. Mùa thu năm 2002, anh ta bỏ công việc kế toán đã làm sáu năm rưỡi ở một nhà máy thịt ở Lincolnshire, để sang Vegas một tuấn chơi bài, rồi quay về Anh và dành trọn sáu tháng xem hoạt hình, lấy được bằng dạy tiếng Anh cho người nước ngoài, và phát triển một ”vũ khí hạt nhân” hoàn toàn mới. Thay vì tạo một hình ảnh người-hành động-đồ vật cho mỗi quân bài trong cỗ bài, Ben mất hàng chục tiếng đồng hồ để tạo hình ảnh riêng cho mỗi cặp bài (hai lá - ND).
Khi anh ta nhìn thấy quân Q cơ, tiếp sau là Át rô, đại diện cho cặp lá bài này là một hình ảnh riêng. Khi anh ta thấy hình quân Át rô, tiếp sau là Q cơ, lại là một hình đại diện khác. Nghĩa là có 52 nhân với 52, hay 2.704 cặp bài mà Ben phải ghi nhớ trước. Sử dụng hệ thống tương tự như PAO của Ed, anh ta đặt ba hình ảnh vào mỗi điểm chứa. Như vậy anh ta có thể thu gọn cả một cỗ bài vào chín điểm chứa (52 chia 6), và hai bảy cỗ bài - số cỗ bài nhiều nhất anh ta có thể ghi nhớ trong một giờ - tương đương 234 điểm chứa.
Khó mà nói giữa tài năng trí tuệ của Ben và bàn tay khéo léo của anh cái nào đáng ngưỡng mộ hơn. Anh ta có thể dùng ngón cái, rất mau lẹ, gẩy hai quân bài một lúc, chỉ vừa đủ để nhìn chất và số nơi góc lá bài. Khi ở tốc độ cao nhất, anh ta nhìn mỗi cặp bài chưa đầy một giây.
Ben đã phát triển một thứ tương tự như hệ thống của Byzantine để ghi nhớ những số nhị phân, giúp anh ta chuyển bất kỳ chuỗi mười chữ số nào gồm các phần tử một và không thành một hình ảnh duy nhất. Nghĩa là phải có sẵn 210, hay 1.024 hình ảnh cho những số nhị phân. Khi nhìn thấy 1101001001, anh ta ngay lập tức xem nó như một nhóm duy nhất,đại diện bằng hình ảnh của một cuộc chơi bài. Khi thấy 0111011010, anh ta ngay lập tức gợi ra hình ảnh một rạp chiếu phim. Trong cuộc thi trí nhớ quốc tế, các vận động viên trí óc nhận được những tờ giấy có 1.200 chữ số nhị phân, ba mươi số mỗi hàng, bốn mươi hàng trên một trang giấy. Ben chuyển mỗi một hàng ba mươi chữ số thành một hình ảnh riêng.
Ví dụ, số 110110100000111011010001011010, là một lực sỹ đang bỏ một con cá vào hộp. Lúc này, Ben giữ kỷ lục thế giới vì đã học thuộc 3.705 tổ hợp số 1 và 0 sắp xếp ngẫu nhiên trong vòng nửa giờ.
Khi tôi bắt đầu rèn luyện trí nhớ, viễn cảnh phải học những kỹ thuật phức tạp này đáng sợ đến vô lý. Song Anders Ericsson và tôi đã giao ước với nhau. Tôi sẽ cho ông những ghi chép tỉ mỉ toàn bộ quá trình luyện tập của tôi, đó sẽ là dữ liệu hữu ích cho nghiên cứu của ông về sự thành thạo chuyên môn. Đổi lại, Tres và Katy, các sinh viên của ông, sẽ phân tích dữ liệu đó để tìm cách nào cho tôi có thể thực hiện tốt hơn nữa. Tôi đã hứa sau giải vô địch trí nhớ sẽ quay lại Tallahassee vài ngày làm thí nghiệm đánh giá để họ có thể viết một bài nghiên cứu về toàn bộ dự án này.
Ericsson đã nghiên cứu quá trình thu nạp kĩ năng từ hàng chục góc độ trong hầu hết mọi lĩnh vực khác nhau, và nếu có bất kỳ bí quyết chung nào đó để trở thành chuyên gia, thì gần như chắc chắn chính ông là sẽ tìm ra chúng. Từ những cuộc trò chuyện rất chi tiết với ông, và nhờ đọc gần như mọi cuốn sách và nghiên cứu của ông, mà tôi biết rằng giữa nhiều lĩnh vực, ông phát hiện ra một số kỹ thuật chung mà mỗi cá nhân hoàn hảo sẽ sử dụng trong quá trình trở thành chuyên gia - những nguyên tắc chung để đạt được kỹ năng chuyên môn. Những nguyên tắc đó sẽ là vũ khí bí mật của tôi.
Mấy tháng sau đó, tôi miệt mài với hệ thống PAO trong tầng hầm nhà bố mẹ mình, Erisson theo dõi sát sao mọi diễn tiến. Tôi cập nhật cho ông những biến đổi trong suy nghĩ của mình về cuộc thi sắp tới, mà tôi nhận ra chúng đã dần bắt đầu chuyển từ sự tò mò vô tư sang lòng ganh đua hăng hái. Khi gặp chỗ bí, tôi lại gọi điện cho Ericsson tìm lời khuyên, lần nào ông cũng sẽ khiến tôi bấn lên tìm đọc những nghiên cứu mà ông hứa hẹn sẽ giúp tôi hiểu được khiếm khuyết của mình. Có thời điểm, không lâu sau khi tôi bắt đầu, trí nhớ của tôi ngừng tiến triển. Dù tôi có luyện tập thế nào, tôi không thể nhớ một cỗ bài nhanh hơn được. Tôi bị mắc kẹt trong vệt lầy mà không thể tìm ra nguyên nhân. “Thành tích thời gian nhớ quân bài của tôi đã tới ngưỡng rồi,” tôi than vãn với ông.
“Tôi khuyên anh nên đọc nghiên cứu về gõ bàn phím nhanh,” ông đáp.
Khi người ta lần đầu sử dụng bàn phím, họ tiến triển nhanh từ gõ mổ cò sang gõ cẩn thận mười ngón tay, cho đến khi cuối cùng các ngón tay múa trên bàn phím một cách tự nhiên đến mức cả quá trình này trở thành tiềm thức và những ngón tay dường như có lý trí riêng. Lúc này, kỹ năng gõ phím của mọi người hầu như không tiến triển nữa. Họ đạt đến một ngưỡng. Hẳn bạn thấy hiện tượng này cũng thật kỳ quặc. Vì dù sao, người ta thường bảo rằng tập luyện tạo nên sự hoàn hảo, và vẫn có nhiều người ngồi trước bàn phím ít nhất vài tiếng mỗi ngày để chủ yếu tập gõ bàn phím đó thôi. Tại sao họ không càng ngày càng gõ phím thạo hơn?
Những năm 1960, nhà tâm lý học Paul Fitts và Michael Posner cố trả lời câu hỏi này bằng cách mô tả ba giai đoạn bất kỳ ai cũng trải qua khi tiếp thu một kỹ năng mới. Trong giai đoạn đầu, được gọi là “giai đoạn làm quen,” (cognitive stage) bạn phân tích nhiệm vụ và khám phá ra những chiến lược mới để hoàn thành hiệu quả hơn. Thứ hai, ở giai đoạn liên tưởng (associative stage), bạn ít tập trung hơn, ít gặp lỗi lớn, và nhìn chung trở nên thành thạo hơn. Cuối cùng, bạn đạt đến độ Fitts gọi là “giai đoạn độc lập,” (autonomous stage) khi bạn nhận ra rằng bạn đạt đủ mức cần thiết để thực hiện nhiệm vụ và về căn bản, bạn gõ phím không cần suy nghĩ. Trong giai đoạn độc lập này, bạn không còn kiểm soát điều mình đang làm một cách có ý thức nữa. Trong đa số trường hợp, điều này là tốt.
Đầu óc của bạn bớt đi một việc phải bận tâm. Thực tế, giai đoạn tự động này là một trong những đặc điểm mà sự tiến hóa đã đem lại vì lợi ích của chúng ta. Bạn càng ít tập trung vào những nhiệm vụ lặp đi lặp lại hàng ngày, thì bạn càng có thể tập trung vào những việc thực sự quan trọng, những việc bạn chưa bao giờ thấy trước đó. Và vì vậy, một khi chúng ta đánh máy khá lắm rồi, chúng ta cất nó vào ngăn kéo của trí óc và thôi chú ý đến nó. Bạn có thể thấy sự dịch chuyển này diễn ra trên ảnh chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI) của những người học kỹ năng mới. Khi một nhiệm vụ trở thành tự động, phần bộ não liên quan đến lý lẽ hữu thức trở nên kém hoạt động, và những phần khác của bộ não tiếp quản. Bạn có thể gọi đó là “Ngưỡng OK,” là điểm mà bạn quyết định bạn chấp nhận mình làm tốt việc gì đó, bật chế độ tự động lên, và thôi cải thiện nó nữa.
Trong hầu hết mọi việc chúng ta làm, chúng ta đều đạt đến ngưỡng OK. Chúng ta học cách lái xe lúc còn ở tuổi thiếu niên, và một khi đã lái đến mức không còn bị vé phạt hay gây ra
những tai nạn nghiêm trọng, chúng ta chỉ có lái tốt hơn mà thôi. Cha tôi đã chơi golf được bốn mươi năm, và ông vẫn chơi dở lắm - nếu đọc được điều này chắc ông sẽ tổn thương đây. Trong suốt bốn thập kỷ, điểm chấp của ông không hề giảm đi. Sao lại thế được? Ông đã đạt đến ngưỡng OK.
Các nhà tâm lý từng nghĩ rằng ngưỡng OK đánh dấu giới hạn trên của khả năng bẩm sinh. Trong cuốn sách xuất bản năm 1869 nhan đề Thiên tài theo di truyền (Hereditary Genius), Sir Francis Galton lập luận rằng một người chỉ có thể các cải thiện hoạt động thể chất và tinh thần cho đến khi anh ta chạm đến một “tường chắn” nhất định, mà “anh ta không thể vượt qua được bằng bất cứ nỗ lực hay sự giáo dục nào.” Theo quan điểm này, mức tốt nhất chúng ta có thể làm đơn giản là mức tốt nhất chúng ta có năng lực làm.
Nhưng Ericsson và đồng nghiệp của ông, những người nghiên cứu khả năng của các chuyên gia, đã nhiều lần nhận thấy rằng khi người ta ráng sức với nỗ lực đúng hướng, nhận định trên hiếm khi đúng. Họ tin rằng bức tường của Galton thường ít liên quan đến những giới hạn bẩm sinh của chúng ta, mà liên quan nhiều hơn đến việc chúng ta xem đâu là mức độ thực hiện có thể chấp nhận được.
Điều khiến những chuyên gia khác với chúng ta là họ có xu hướng thực hành một thói quen có định hướng và tập trung cao độ, mà Ericsson gọi là “thực hành có chủ ý.” Sau khi đã nghiên cứu những người đạt tới đỉnh cao trong nhiều lĩnh vực, ông phát hiện ra rằng những người đạt thành tựu cao nhất thường đi theo một mô hình phát triển giống nhau. Họ phát triển các chiến lược để trong quá trình luyện tập họ không rơi vào giai đoạn độc lập bằng cách làm ba điều: tập trung vào kỹ thuật, giữ vững mục tiêu, đánh giá liên tục và ngay lập tức kết quả thực hiện của mình. Họ buộc bản thân phải ở trong “giai đoạn làm quen.”
Ví dụ, các nhạc công nghiệp dư dành nhiều thời gian tập chơi nhạc,trong khi những nhạc công chuyên nghiệp có xu hướng tập những bài nhàm chán hoặc tập trung vào những bản nhạc cụ thể và khó. Vận động viên trượt băng giỏi nhất nhiều dành thời gian tập luyện để thực hiện những cú nhảy mà họ tiếp đất còn kém, trong khi những người kém hơn lại chú tâm vào những cú nhảy mà họ đã thuần thục. Thực hành có chủ ý, về bản chất, chắc hẳn rất khó nhọc.
Nói cách khác, khi bạn muốn giỏi việc gì đó, cách bạn dùng thời gian để thực hành còn quan trọng hơn lượng thì giờ bạn thực hành. Quả thật, trong mọi lĩnh vực chuyên môn đã được nghiên cứu kỹ lưỡng,từ cờ vua đến đàn violon cho tới bóng rổ, những nghiên cứu cho thấy rằng số năm mà một người thực hành trong một lĩnh vực lại ít tương quan với mức độ thành quả thực hiện. Cha tôi có thể xem việc đưa quả bóng golf vào cốc thiếc ở trong tầng hầm là một hình thức thực hành tốt, nhưng trừ phi ông chủ động theo dõi thành quả thực hiện của mình - xem xét lại, phản hồi lại, tư duy lại, sắp xếp lại - còn không thì ông sẽ chẳng bao giờ làm tốt hơn được. Thực hành thường xuyên thôi thì chưa đủ. Để tiến bộ, chúng ta phải thấy mình thất bại, và học được từ những sai lầm.
Theo phát hiện của Ericsson, cách tốt nhất để không rơi vào giai đoạn độc lập là thực hành sự thất bại. Một cách để làm vậy là, trong khi đang cố gắng thành thạo việc gì đó, hãy đặt bản thân vào vị trí của người có khả năng làm tốt hơn nhiệm vụ đó, và cố tìm hiểu xem người đó vượt qua những khó khăn như thế nào. Benjamin Franklin dường như là người đầu tiên thực hành kỹ thuật này. Trong cuốn hồi ký của mình, ông kể đã đọc những bài tiểu luận của những nhà tư tưởng vĩ đại, và cố viết lại những lập luận của tác giả theo logic riêng của Franklin. Rồi ông lại mở tiểu luận ra, đem so sánh phần mình viết lại với bản gốc
xem mạch suy nghĩ của ông có phù hợp với tác giả không. Những kỳ thủ giỏi nhất cũng theo một chiến lược tương tự. Họ thường dành nhiều giờ trong ngày để chơi lại những ván cờ mà các đại kiện tướng đã từng chơi, cố hiểu tìm hiểu cách suy nghĩ của bậc chuyên gia trong mỗi nước đi. Quả thật, cái chỉ dấu tốt nhất và duy nhất về kỹ năng chơi cờ của một người không phải là số ván cờ anh ta đã chơi với các đối thủ, mà số thì giờ anh ta ngồi một mình nghiên cứu những ván cờ cũ.
Bí quyết để cải thiện một kỹ năng là giữ được mức độ kiểm soát hữu thức trong khi thực hành - để buộc bản thân phải tránh chế độ hoạt động vô thức (autopilot). Với kỹ năng gõ bàn phím, vượt qua ngưỡng OK là việc tương đối dễ dàng. Các nhà tâm lý đã phát hiện ra rằng phương pháp hiệu quả nhất để cải thiện kỹ năng là buộc bản thân đánh máy nhanh hơn mức mà bạn chấp nhận được, và cho phép bản thân mắc lỗi. Trong một thí nghiệm nổi tiếng, những người gõ bàn phím gõ đi gõ lại những từ sáng trên màn hình nhanh hơn 10 đến 15 phần trăm so với khả năng ngón tay của họ gõ những từ đó trên bàn phím. Lúc đầu họ không thể theo kịp, nhưng sau vài ngày, họ tìm ra chướng ngại làm họ chậm lại, và vượt qua những cản trở đó, rồi họ tiếp tục gõ với tốc độ nhanh hơn. Bằng cách đưa việc gõ bàn phím ra khỏi giai đoạn độc lập và quay về sự kiểm soát hữu thức, họ đã chinh phục được ngưỡng OK.
Ericsson gợi ý tôi nên làm y như vậy với những lá bài. Ông bảo tôi tìm một cái máy đếm nhịp và cố ghi nhớ một lá bài mỗi khi máy kêu tích. Khi tôi đã tìm ra hạn chế của mình, ông hướng dẫn tôi đặt máy nhanh thêm 10 đến 20 phần trăm, và thử ở tốc độ nhanh hơn cho đến khi tôi không còn mắc lỗi. Mỗi khi nhìn đến lá bài nào và thấy khó khăn, tôi phải ghi chú nó, xem liệu tôi có tìm ra nguyên nhân tại sao việc nhớ lá bài ấy lại khó thế không. Việc này có tác dụng, trong vài ngày tôi đã thoát ra khỏi ngưỡng OK và thời gian ghi nhớ bài rút ngắn rất nhanh.
Nếu không thực hành một cách có chủ ý, thậm chí những chuyên gia cũng có thể thấy kỹ năng của họ suy giảm. Về chuyện này, Ericsson đã chia sẻ với tôi một ví dụ lạ thường. Dù bạn sẵn sàng tin vào lời khuyên của một bác sĩ lâu năm hơn là của một người vừa mới tốt nghiệp trường y, thì người ta phát hiện ra rằng, trong vài lĩnh vực y khoa, kỹ năng của các bác sĩ không tiến bộ theo thời gian họ hành nghề. Ví dụ, các bác sĩ xem hình chụp X-quang để chẩn đoán khối u nơi ngực chẳng hạn, có xu hướng làm càng lâu năm thì độ chính xác càng kém. Tại sao lại như vậy?
Theo Ericsson, với hầu hết những người chẩn đoán khối u ngực qua X-quang, việc hành nghề không phải là dạng thực hành có chủ ý. Nó giống trò ném đồng xu vào hộp sắt hơn là làm việc với một huấn luyện viên. Đó là bởi những người chẩn đoán khối u ngực qua phim X-quang thường vài tuần hoặc vài tháng sau mới biết được mình chẩn đoán có chính xác hay không, mà đến lúc đó họ gần như đã quên đi chi tiết vụ việc và không còn học được gì từ thành công và thất bại của mình.
Một lĩnh vực y khoa mà quy tắc này không áp dụng được là phẫu thuật. Không như người chẩn đoán u ngực qua phim X quang, các nhà phẫu thuật có xu hướng ngày càng thạo nghề theo thời gian. Theo Ericsson, điều khiến các nhà phẫu thuật khác với những người xem chẩn đoán u ngực qua X quang ấy là kết quả của hầu hết các cuộc phẫu thuật thường rõ ràng ngày lập tức - bệnh nhân sẽ khỏe lên hay yếu đi - nghĩa là nhà phẫu thuật nhanh chóng biết được kết quả thực hiện của mình. Họ luôn biết được điều gì có tác dụng, việc gì không, và họ luôn tiến bộ lên. Phát hiện này dẫn đến một ứng dụng thực tiễn của lý thuyết về sự thành thạo chuyên môn: Ericsson gợi ý rằng những người chẩn đoán ung thư vú qua phim X-quang thường xuyên phải đánh giá những ca bệnh cũ mà kết quả đã biết. Bằng
cách đó, họ có thể nhận được phản hồi ngay về kết quả thực hiện của mình.
Qua hình thức phản hồi ngay lập tức này, các chuyên gia phát hiện ra những cách mới để thực hiện tốt hơn và thúc đẩy ngưỡng OK chung cao hơn. Chừng nào mà nước vẫn ngập sâu tới cổ thì chừng ấy người ta vẫn phải bơi. Loài người chúng ta từ lâu đã tối đa tốc độ bơi. Ấy vậy mà hàng năm những kỷ lục bơi lội mới lại được xác lập. Loài người ngày càng bơi nhanh hơn. “Các vận động viên bơi lội tham gia kỳ Olympic hồi đầu thế kỷ thậm chí không đủ trình độ để tham gia đội tuyển bơi lội tại các cuộc thi ở trường trung học bây giờ”, Ericsson nhận xét, và “thành tích đạt huy chương vàng ở cuộc đua marathon Olympic nguyên thủy thì bây giờ những người nghiệp dư đủ trình độ tham gia cuộc đua Boston Marathon cũng đạt được.” Và điều này cũng đúng không chỉ với lĩnh vực thể thao, mà gần như trong mọi lĩnh vực. Triết gia thế kỷ mười ba Roger Bacon nói rằng “không ai có thể giỏi toán học bằng phương pháp đã biết từ trước tới nay, trừ phi anh ta mất ba mươi đến bốn mươi năm nghiên cứu nó.” Ngày nay, toàn bộ kiến thức toán học mà Bacon biết đến học sinh trung học bình thường cũng đạt được.
Không có lý do nào để cho rằng những vận động viên điền kinh tài năng nhất còn sống hiện nay sở hữu nhiều tài năng bẩm sinh hơn hầu hết vận động viên tài năng nhất trong quá khứ. Và cũng không có lý do nào để tin rằng việc cải tiến giày chạy hay đồ bơi - dù chắc chắn có ý nghĩa nhất định - là nguyên nhân chính toàn bộ những tiến bộ đáng kể về thành tích đó. Điều làm nên thay đổi chính là số lượng và chất lượng luyện tập mà các vận động viên đã trải qua để đạt được đẳng cấp quốc tế. Điều này đúng không chỉ trong môn chạy bộ hay bơi lội, mà cả trong môn phóng lao, trượt băng, và những môn thể thao khác. Không một môn thể thao nào mà thành tích về thời gian không đều đặn rút ngắn. Nếu quả có ngưỡng nào đó, thì nhìn chung chúng ta vẫn chưa đạt đến.
Làm sao chúng ta vượt qua chính mình như thế được? Một phần câu trả lời của Ericsson là những rào cản chúng ta đặt ra vừa có tính tâm lý lại vừa bẩm sinh. Khi một cái mốc được cho là có thể phá vỡ, thường là chẳng bao lâu sau sẽ có ai đó phá vỡ nó. Từ lâu, người ta nghĩ rằng không ai có thể chạy một dặm (tương đương 1,6km) dưới bốn phút. Đó được xem là rào cản bất biến, như tốc độ ánh sáng. Khi Roger Bannister, một sinh viên y khoa người Anh, hai lăm tuổi, cuối cùng cũng vượt qua cái ngưỡng bốn phút một dặm vào năm 1954, thành tích của anh được bắn lên trang nhất các báo trên thế giới và được ca ngợi là một trong những thành tự thể thao vĩ đại nhất mọi thời đại. Nhưng rào cản này hóa ra giống như cái cửa ngăn lũ. Chỉ sáu tuần sau, một người Úc tên John Landy chạy một dặm với thành tích hơn Bannister một giây rưỡi, và trong vòng vài năm việc chạy bốn phút một dặm đã trở nên phổ biến. Ngày nay, mọi vận động viên chạy chuyên nghiệp cự ly trung bình đều dự kiến vượt qua được mức bốn phút một dặm và kỷ lục thế giới đã giảm xuống còn 3 phút 43.13 giây. Tại Giải Vô địch trí nhớ thế giới, ít nhất nửa số kỷ lục đương tồn tại bị phá mỗi năm.
Thay vì coi việc nâng cao trí nhớ của tôi như tăng chiều cao hay cải thiện thị giác, hay co kéo những đặc tính cơ bản khác trên cơ thể mình, Ericsson khuyến khích tôi hãy nghĩ về nó như là việc cải thiện một kỹ năng - như học chơi một nhạc cụ chẳng hạn.
Chúng ta thường coi trí nhớ là một khối riêng biệt. Không phải vậy. Trí nhớ như một tập hợp những đơn vị (module) và hệ thống độc lập, mỗi đơn vị và hệ thống dựa vào mạng lưới những tế bào thần kinh. Một số người giỏi nhớ những con số, nhưng luôn quên những từ; một số người giỏi nhớ tên, nhưng không nhớ danh mục việc cần làm. Anh sinh viên SF, đối tượng nghiên cứu của Ericsson, người đã mở rộng ngưỡng nhớ chữ số lên gấp mười lần, lại không tăng lên được khả năng ghi nhớ tổng quát. Anh ta trở thành một chuyên gia nhớ
chữ số. Khi anh ta cố ghi nhớ danh mục những phụ âm ngẫu nhiên, anh ta chỉ có thể ghi nhớ chừng bảy phụ âm mà thôi.
Hơn hết thảy, điều tạo nên sự khác biệt giữa những chuyên gia trí nhớ hàng đầu với những người hạng hai đó là: họ tiếp cận việc ghi nhớ như một khoa học. Họ phát triển các giả thiết về hạn chế của mình; họ tiến hành những thử nghiệm và có dữ liệu theo dõi quá trình đó. “Giống như bạn đang phát triển một loại công nghệ, hoặc nghiên cứu một giả thiết khoa học,” người hai lần vô địch thế giới Andi Bell từng bảo tôi. “Anh phải phân tích điều anh đang làm.”
Nếu tôi muốn có cơ hội tự bắn mình lên nhóm hàng đầu ở giải vô địch trí nhớ, thì tôi phải luyện tập một cách tập trung và có chủ ý. Nghĩa là tôi cần thu thập dữ liệu và phân tích, đánh giá chúng. Và toàn bộ quá trình này là để nhích dần lên.
Tôi lập một bảng tính trên máy tính xách tay để theo dõi thời gian luyện tập của mình và những khó khăn gặp phải. Tôi vẽ đồ thị về mọi thứ, và ghi lại nhật ký về sự tăng điểm đều đặn:
Ngày 19 tháng Tám: Nhớ 28 lá bài trong 2:57
Ngày 20 tháng Tám: Nhớ 28 lá bài trong 2:39. Cũng ổn. Ngày 24 tháng Tám: nhớ 38 lá bài trong 4:40. Không tốt lắm.
Ngày 8 tháng Chín: Ngồi trong quán Starbucks chần chừ, không chịu viết bài báo đã quá hạn. Ghi nhớ 46 chữ số trong năm phút... Đáng tiếc. Rồi nhớ 46 lá bài trong 3:32. Quyết định cuối cùng mình sẽ thay đổi hình ảnh đại diện cho bốn chất bài. Tạm biệt những nữ diễn viên, xin chào những vận động viên trí óc. Quân nhép = Ed Cooke, quân rô = Gunther Karsten, quân cơ = Ben Pridmore, quân pích = mình.
Ngày 2 tháng Mười: Nhớ 70 từ ngẫu nhiên trong mười lăm phút. Không tốt! Mất điểm vì mình nhầm từ “grow” (tăng trưởng - động từ) với “growth” (sự tăng trưởng - danh từ) và “bicycle” với “bike” (đều có nghĩa là “xe đạp”). Từ nay trở đi, khi một từ có biến thể gần giống nhau, đặt một giấy nhắc trong cung trí nhớ cạnh hình ảnh gây nhầm lẫn!
16 tháng Mười: Nhớ được 87 từ ngẫu nhiên. Nhìn giấy trong mười lăm phút là quá dài. Mình cứ hay nhìn vào đồng hồ và liếc nhìn xung quanh thay vì tập trung ghi nhớ. Mình đang mất thì giờ. Tập trung đi, tập trung nào!
Dĩ nhiên sự chú ý là điều kiện tiên quyết cho việc ghi nhớ. Nói chung, khi chúng ta quên tên của một người mới quen, đó là bởi chúng ta bận rộn nghĩ xem sẽ nói gì tiếp theo, thay vì chú ý. Các kỹ thuật như hình ảnh tưởng tượng và cung trí nhớ có tác dụng đến vậy một phần là bởi chúng củng cố mức độ chú ý và sự lưu tâm mà bình thường thiếu vắng. Bạn không thể tạo ra một hình ảnh về một từ, một chữ số, hay tên một người mà không chăm chú vào đó. Và bạn không thể chăm chú vào điều gì đó nếu không làm cho nó dễ nhớ hơn. Vấn đề tôi đang mắc phải khi rèn luyện là tôi phát chán chuyện này và cho phép đầu óc mình vẩn vơ. Dù cho các hình ảnh người ta vẽ lên cung trí nhớ có thô lỗ, có sặc sỡ, hay ”khiêu khích” cách mấy chăng nữa, thì họ chỉ nhìn vào những trang giấy với những chữ số ngẫu nhiên chừng nào họ chưa phân tâm bởi tiếng động phòng bên. Có gì thú vị bên ấy không nhỉ, nghe như âm thanh cái gì đặt xuống.
Ed, anh ta đã bắt đầu gọi tôi bằng các danh xưng như “anh bạn,” “chàng trai,” rồi đến “Ông
Foer,” khăng khăng rằng giải pháp chữa chứng sao nhãng của tôi là phải nâng cấp thiết bị. Những chuyên gia trí nhớ nghiêm túc đều đeo đôi bịt tai. Một vài trong số những thí sinh nghiêm túc nhất còn đeo cả tấm che mắt để hạn chế tầm nhìn và thu hẹp phạm vi những điều gây mất tập trung. “Tôi thấy chúng lố bịch lắm, nhưng trong trường hợp của anh, chúng có thể là một vụ đầu tư hợp lý,” Ed nói trong một cuộc điện thoại cập nhật tình hình, thường là hai cuộc mỗi tuần. Chiều hôm đó, tôi đến cửa hàng dụng cụ mua một đôi bịt tai chuyên dụng, và một đôi kính nhựa bảo hộ dùng cho phòng lab. Tôi xịt sơn màu đen và khoan một lỗ nhỏ trên mỗi mắt kính. Từ lúc đó, tôi luôn đeo chúng để tập luyện.
Thật dễ dàng khi giải thích với mọi người rằng tôi sống cùng bố mẹ là để tiết kiệm vài đồng bạc khi tôi bắt đầu khởi nghiệp viết lách. Nhưng việc tôi đang làm dưới tầng hầm, với những trang giấy đầy chữ số ngẫu nhiên dán trên tường và những cuốn kỷ yếu trường trung học (mua ở chợ trời) bày đầy sàn nhà, không đến nỗi xấu hổ nhưng cũng phải giấu tiệt đi.
Khi bố tôi xuống tầng hầm và hỏi tôi có muốn đánh golf với ông một lát không, tôi sẽ nhanh chóng giấu đi trang giấy có những chữ số mà tôi ghi nhớ và giả vờ đang sốt sắng làm một việc gì khác, như viết bài báo mà tạp chí nào đó sẽ trả tiền cho tôi bằng một tấm séc, rồi tấm séc này sẽ được chuyển sang cho một chủ quán rượu. Đôi khi tôi tháo đôi bịt tai và mắt kính, rồi quay lại thấy bố tôi đang đứng ở cửa nhìn mình chăm chăm.
Nếu Ericsson là giáo sư của tôi, thì Ed nhận vai trò là người nâng đỡ tinh thần và người quản lý. Anh ta xếp đặt lịch cho tôi bốn tháng tiếp theo, với những mốc mà tôi phải đạt được, và một chế độ tập luyện nghiêm ngặt với nửa tiếng thực hành mỗi sáng, cộng với hai lượt củng cố trong buổi chiều, mỗi lượt năm phút. Một chương trình máy tính kiểm tra và ghi lại chi tiết những lỗi của tôi, để chúng tôi có thể phân tích chúng sau này. Một bảng tính theo dõi tôi đã thực hành thế nào, đã cải thiện ở đâu, và tôi gặp khó khăn ở đâu. Cứ vài ngày tôi gửi e-mail cho Ed cập nhật tình hình, và anh ta sẽ viết thư lại, đưa ra gợi ý nên làm gì để tiến bộ hơn.
Cuối cùng, tôi quyết định cần quay lại Mill Farm để có thêm thời gian tập luyện trực tiếp với huấn luyện viên. Tôi lên lịch chuyến đi sang Anh trùng với tiệc sinh nhật thứ hai lăm của Ed, một sự kiện hoành tráng mà anh ta đã xốn xang hết cả lên ngay từ khi tôi sang lần đầu tiên để xem Giải Vô địch trí nhớ Thế giới.
Bữa tiệc của Ed tổ chức ở khu nhà kho cũ xây bằng đá của trang trại Milf, nơi Ed đã dành phần lớn thời gian trong tuần để chuyển thành chỗ thử nghiệm cho triết lý tiệc tùng của anh ta. “Tôi đang cố tìm một ý tưởng để điều chỉnh những cuộc trò chuyện, không gian, chuyển động, tâm trạng và sự kỳ vọng, sao cho tôi có thể quan sát được chúng ảnh hưởng với nhau thế nào,” anh ta bảo tôi. “Để theo dõi những tham số này, tôi không coi mọi người như là các thực thể có ý chí, mà là những người máy - những phân tử thật sự - chuyện trò tại bữa tiệc. Và với tư cách là người tổ chức, tôi nghiêm túc nhận lấy trách nhiệm chuyện trò với họ theo cách tốt nhất có thể.”
Những tấm vải óng ánh treo từ rui nhà xuống sàn, chia gian nhà kho thành những phòng nhỏ. Cách duy nhất để đi vào hoặc ra là qua một mạng lưới những đường hầm, và cách dò đường duy nhất là phải nằm xuống mà bò. Không gian dưới cây đàn dương cầm lớn được chuyển thành pháo đài, những cái ghế bụi bẩn chất đống trên các bàn được lấy ra để quây thành vòng tròn trước lò sưởi.
“Những ai đã thực sự đi qua mạng lưới đường hầm đã trải qua một cuộc phiêu lưu. Họ phải
đấu tranh từng chút một, và do đó khi đến nơi, họ cảm thấy khoan khoái, nhẹ nhõm, có cảm giác đạt được thành tựu, và tham gia vào hoạt động này đem lại trải nghiệm tốt đẹp, với sự hăng hái và trí tưởng tượng cao nhất có thể. Tôi nghĩ việc rèn luyện trí nhớ của anh cũng hoàn toàn tương tự như chuyện này. Cái câu “Muốn thành công phải chịu qua gian khổ” nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng mà đúng đấy. Người ta phải chịu đau đớn, trải qua giai đoạn căng thẳng, một giai đoạn ngờ vực bản thân, một giai đoạn bối rối. Và khi ra khỏi đống hỗn độn đó, những tấm thảm thêu rực rỡ nhất đang chờ đón.”
Tôi bò theo sau anh ta qua một đường hầm tối đen dài chừng ba mét, và chui vào một căn phòng đầy quả bóng ngập tận cổ. Anh ta giải thích, mỗi ngăn phòng có chức năng như một ngăn chứa trong cung trí nhớ. Bữa tiệc của anh ta được thiết kế để có thể ghi nhớ một cách tối đa.
“Thường mọi người chỉ nhớ lờ mờ về những chuyện xảy ra trong bữa tiệc vì tiệc thường chỉ tổ chức trong một không gian duy nhất,chưa được chia nhỏ ra,” anh ta nói.“Một trong những ưu điểm của sự sắp đặt này là những trải nghiệm trong mỗi phòng đều được lưu lại trong phòng ấy, và tách biệt với những trải nghiệm ở phòng khác. Người ta rời bữa tiệc mang theo tất thảy mọi chuyện diễn ra trong bữa tiệc ấy, và sẽ ghi nhớ chúng cho đến tuổi trung niên và về già.”
Để thúc đẩy sự tương tác xã hội, Ed cảm thấy nhất thiết những người dự tiệc không được nhận ra nhau. Ben Pridmore, người đã đi tàu bốn tiếng đồng hồ từ Derby tới, mặc một áo choàng đen và đeo chiếc mặt nạ Grunch kinh dị của bộ tộc Mohawk ăn thịt người. Lukas Amsuss (đã hồi phục sau tai nạn từ trò phun lửa), đã bay từ Vienna sang chỉ để dự bữa tiệc, mặc một bộ quân phục Áo thế kỷ mười chín, có băng đeo chéo và những tấm huy chương. Một trong những bạn cũ của Ed ở Oxford, mặc bộ đồ hổ toàn thân. Một người khác xuất hiện với khuôn mặt đen sì và tóc bện. Ed đội một bộ tóc xoăn, mặc một chiếc váy, quần bó, và một áo ngực quá cỡ. Để tỏ ra mình là tay Mẽo duy nhất tại bữa tiệc, tôi vẽ khuôn mặt của mình giống Người hùng nước Mỹ (Captain America).
Sự kiện nổi bật của bữa tiệc là phần biểu diễn với các quân bài. Ngay trước lúc nửa đêm, Ed tập hợp chừng năm mươi khách khứa dưới tầng hầm của gian nhà kho và tuyên bố rằng để vinh danh hai mươi lăm năm tồn tại của anh ta trên cõi đời, hai vị chuyên gia nhớ bài vĩ đại nhất mọi thời sẽ tham gia một phần thi đối đầu. Ben, vẫn mang chiếc áo choàng đen nhưng đã tháo mặt nạ Grunch ra, ngự trên nệm ngồi ở một đầu chiếc bàn dài ngổn ngang những cốc nhựa sau khi đã dùng để uống rượu pha nước trái cây, và phần xương còn lại của nguyên một con cừu được nướng trên đống lửa ở sân sau. Lukas ngồi xuống đầu bàn bên kia trong bộ quân phục Áo.
“Trước tiên, tôi xin giới thiệu với mọi người ở đây vài chi tiết về khả năng nhớ bài của hai con người này,” Ed thông báo. “Lukas là một trong những người đầu tiên trên thế giới đã phá vỡ kỷ lục bốn mươi giây khi ghi nhớ một cỗ bài. Từ lâu trong cộng đồng chuyên gia trí nhớ, gồm mười một người, đây được xem như sự kiện bốn phút một dặm trong điền kinh. Anh ta đã liên tục phá vỡ cái mốc đó, và một thời là nhà vô địch thế giới môn nhớ bài nhanh. Anh ta cũng là một trong những thành viên sáng lập hiệp hội cao quý của những chuyên gia trí nhớ có tên KL7. Tất nhiên, trí nhớ kinh hoàng của anh ta sẽ tốt hơn nữa nếu anh ta quanh năm không say rượu,” Ed nói, giọng lúc trầm lúc bổng. Lukas nâng cốc nhựa lên rồi hướng về phía Ed gật đầu. “Các bạn biết đấy, Lukas đã cho tôi xem một cỗ máy thú vị và hữu ích mà anh ta cùng những người bạn kỹ sư ở Vienna làm ra, nó cho phép bạn uống bốn cốc bia trong chưa đầy ba giây. Nó có một hệ thống van mà họ phải mua lại của một công ty hàng không vũ trụ. Thật không may, dạo gần đây Lukas dùng nó hơi nhiều.
Gần một năm rồi, anh ta chẳng nhớ được cỗ bài nào cả. Tuy nhiên, ở lần ghi nhớ gần nhất, anh ta đạt thành tích 35.1 giây.”
Ed quay sang Ben. “Pridmore đây đang giữ kỷ lục thế giới về môn nhớ bài, 31.03 giây. Và anh ta là người Anh.” Điều này khơi lên một tràng chúc tụng om sòm từ đám thực khách. “Ben cũng nhớ được hai mươi bảy cỗ bài trong một giờ - mà điều này nói thẳng ra là không cần thiết.”
Ben buông tay xuống và lên tiếng. “Lukas và tôi có nói chuyện, và chúng tôi đang nghĩ rằng vì Ed xếp hạng thứ mười bảy trên thế giới-” “Anh giễu tôi đấy,” Ed phản đối. Anh ta không biết rằng gần đây vài người Đức trẻ tuổi đã vượt qua anh ta trên bảng xếp hạng quốc tế.
“Chúng tôi đã quyết định sẽ không tranh tài trừ phi anh ta có thể nêu tên của từng người trong phòng này.”
Lại thêm một tràng chúc tụng huyên náo, mà Ed đang cố dẹp lắng. Anh ta điểm tên được chừng một phần tư đám khách, thì bị tắc tị trước một người bạn của một người bạn, mà anh ta bảo chưa bao giờ gặp. Anh đề nghị giữ trật tự, mời hai vị khách xáo những cỗ bài, và rồi đưa những cỗ bài cho Lukas và Ben. Đồng hồ đếm giờ đã bật. Mỗi người có một phút.
Sau khi mới lật độ sáu lá bài, mọi người thấy rõ là Lukas chỉ cố giữ được thẳng cổ chứ, không tài nào sử dụng thêm năng lực nhận thức đặc biệt của anh ta được nữa. Anh đặt cỗ bài xuống bàn, ngái ngủ tuyên bố, “Ít nhất tôi vẫn đứng trước Ed trên bảng xếp hạng quốc tế.”
Ed nhanh nhẹn đẩy Lukas ra và chiếm lấy ghế của anh ta. “Nhân dịp sinh nhật thứ hai lăm của tôi, tôi rất vui sướng được nói rằng một trong những thí sinh tham gia buổi trình diễn đã say xỉn quá không tranh tài được, nên tôi sẽ đảm nhận vị trí đó!” Những cỗ bài được xáo lại và đồng hồ đếm giờ được chỉnh lại. “Bây giờ, Pridmore, anh làm ơn bình tĩnh nhé?”
Sau một phút nín lặng để ghi nhớ, Ben và Ed thay nhau đọc những quân bài trong trí nhớ, trong khi một trọng tài tự chỉ định kiểm tra xem họ có đúng không.
Ed: “J nhép.” Chúc mừng. Ben: “Hai rô.” Ều
Ed: “Chín nhép.” Chúc mừng.
Ben: “Bốn pích.” Ều.
Ed: “Năm pích.” Chúc mừng. Ben: “Át pích.” Ều.
Được chừng bốn mươi quân bài, Ben lắc đầu và đặt tay xuống bàn. “Thôi tôi chán rồi.”
Ed nhảy nhổm dậy. “Tôi biết Ben Pridmore sẽ đi quá nhanh mà! Tôi biết vậy mà! Anh ta thất bại rồi!”
“Anh đã vô địch thế giới được mấy lần rồi?” Ben phản ứng lại, với chút châm chọc cay chua
hơn hơn so với trước đây tôi từng nghe. “Hay là đấu tay đôi cho biết sức đi, Ben?”
“Anh biết tôi thua là để làm quà sinh nhật anh đấy.”
Khi Ed đi quanh phòng để đập tay ăn mừng và ôm lấy các vị khách nữ, Ben ngồi khuất trên nệm ngồi mân mê áo choàng. Một trong những anh bạn hẩu người Oxford của Ed đang say xỉn, rất ấn tượng với màn trình diễn của Ben dù anh ta thua, đã đến chỗ Ben và đưa ra một xấp thẻ tín dụng. Anh ta bảo Ben nếu Ben có thể ghi nhớ những thẻ này thì sẽ được dùng chúng.
Sau màn thi nhớ bài, bữa tiệc được chuyển ra ngoài cạnh đống lửa được dựng lên ở sân, nơi cuộc tiệc tùng của bộ tộc say xỉn kéo dài đến tận sáng. Đến lúc sắp bình minh thì tôi cũng đi ngủ, lúc này Ed và Ben đang ngồi quanh bàn trong bếp, đang ngồi nhắc đi nhắc lại dãy số nhị phân kỳ quái hấp dẫn nhất mà họ có thể nghĩ ra.
Lúc đã hoàn hồn sau cuộc say xỉn, Ed và tôi dành cả buổi chiều hôm sau ngồi bên bàn bếp để luyện tập. Tôi nêu ra ba vấn đề cụ thể cần anh ta giúp, mà khẩn thiết nhất là tôi thường xuyên nhầm lẫn giữa các hình ảnh. Khi bạn nhớ một cỗ bài, thì không có đủ thời gian để tạo ra những hình ảnh với mọi chi tiết và sự phong phú mà Ad Herennium yêu cầu. Bạn lật bài quá nhanh đến mức thường chỉ đủ thời gian liếc qua. Trên thực tế, hơn bất cứ gì khác, thuật ghi nhớ chính là học cách làm sao nhìn hình ít nhất mà vẫn nhớ được. Nhờ phân tích dữ liệu mà tôi ghi lại, tôi mới nhận ra luôn nhầm lẫn quân bảy rô - Lance Armstrong đang đi xe đạp - với bảy pích - một anh nài ngựa đang cưỡi ngựa. Có điều gì đó về động từ “riding” (vừa có nghĩa là đi xe đạp, vừa có nghĩa cưỡi ngựa) trong hai bối cảnh rất khác nhau đó khiến tôi nhầm lẫn.
Tôi đã hỏi Ed với chuyện này thì nên làm gì. “Đừng cố nhìn toàn bộ hình ảnh,” anh ta nói. “Anh không cần phải như vậy. Chỉ cần tập trung vào một yếu tố nổi bật nhất mà anh đang cố hình dung. Nếu đó là bạn gái anh, anh nhìn nụ cười cô ấy trước bất cứ điều gì khác. Tập trung vào màu trắng của hàm răng, cách đôi môi nhếch lên. Những chi tiết khác sẽ làm cô ấy dễ nhớ hơn, nhưng nụ cười mới là chủ chốt. Đôi khi khi nhớ về một hình ảnh nào đó, anh còn đọng lại ký ức về một vệt xanh xanh sặc mùi hàu, nhưng nếu anh hiểu rõ hệ thống của mình, anh vẫn có thể diễn dịch hình ảnh đó lần nữa trong đầu. Thường là, khi anh thực sự tìm kiếm nó, những dấu vết duy nhất để lại khi nhìn một cỗ bài được lật rất nhanh sẽ là một chuỗi những cảm xúc mà không có nội dung hình ảnh gì hết. Anh có thể chọn cách khác là thay đổi các hình ảnh, để chúng không quá thân quen - không quá trần tục.”
Tôi nhắm mắt và cố hình dung cảnh Lance Armstrong đang đạp xe lên dốc núi. Tôi chú ý đặc biệt vào cặp kính râm, khi ánh nắng chiếu vào chúng chuyển từ màu xanh dương sang xanh lá. Rồi tôi nghĩ về người nài ngựa và quyết định anh ta sẽ nổi bật hơn trong hình ảnh người tí hon đội mũ rộng vành cưỡi chú ngựa con. Chút điều chỉnh đó có lẽ bớt cho tôi được hai giây.
“Nhớ bài như vậy là tốt lắm,” Ed nói khi tôi đưa cho anh ta xem ghi chép mới nhất. “Chỉ năm hay sáu tiếng tập luyện nữa thôi là những hình ảnh đại diện sẽ tự động hiện ra. Tôi chắc chắn kỷ lục nhớ bài nhanh của người Mỹ chỉ là trò trẻ con thôi. Tôi sẽ sướng phát khóc mất!”
Tất nhiên, trước mọi phân tích và sắp xếp lại để khiến việc tập luyện có chủ ý trở nên thực sự có chủ ý, Ed cảnh báo tôi rằng trong môn thể thao trí nhớ luôn có rủi ro khi mải nghĩ quá nhiều thứ, bởi mỗi thay đổi trong hệ thống ghi nhớ của bạn sẽ để lại một dấu vết và quay lại ám ảnh ngay trong lúc thi đấu. Và nếu có điều gì mà những vận động viên trí nhớ hết sức muốn tránh, đó là vào ngày thi đấu, mỗi lá bài hay chữ số lại gợi ra nhiều hình ảnh khác nhau.
Một vấn đề khác tôi phát hiện ra trong quá trình tập luyện là hình ảnh lá bài thường mờ đi quá nhanh. Tới lúc tôi lật hết cỗ bài, hay xong hết một dãy số, thì những hình ảnh lúc bắt đầu trở thành bóng ma mờ nhạt. Tôi đề cập chuyện này với Ed.
“À, anh phải hiểu rõ hơn các hình ảnh của anh,” là câu trả lời của anh ta. “Bắt đầu tối nay, hãy dành thời gian nghiền ngẫm về mỗi nhân vật. Hãy tự hỏi trông họ thế nào, cảm giác, mùi vị, hương vị và âm thanh ra sao; họ đi đứng thế nào; đường cắt trên trang phục; thái độ xã hội của họ; sở thích tình dục của họ; thiên hướng bạo lực vô cớ của họ. Sau khi đã hiểu hết cảm xúc như thế về họ, cố để tất cả xảy ra cùng một lúc - hãy cảm nhận trọn vẹn cùng một lúc những đặc điểm thể chất và xã hội của họ trong luồng tưởng tượng, rồi hình dung họ đang đến nhà anh làm những việc thường ngày, để anh thật quen thuộc với họ, thậm chí trong những tình huống bình thường. Bằng cách đó, khi họ xuất hiện trong một cỗ bài, họ luôn gợi lên những những đặc điểm nổi bật gắn với không gian xung quanh họ.”
Tôi cần Ed giúp đỡ một vấn đề khác. Theo lời khuyên của Peter thành Ravenna và Ad Herennium, tập hợp những hình ảnh PAO của tôi có một vài hành động gây cười song hơi thô tục. Vì ghi nhớ một cỗ bài theo hệ thống PAO đòi hỏi tái kết hợp những hình ảnh tưởng tượng dễ nhớ có trước để tạo ra hình ảnh mới dễ nhớ, mà nếu cứ đưa những người trong gia đình tôi vào những cảnh thô tục như vậy, e là nâng cấp được trí nhớ thì tiềm thức cũng bị hành hạ khổ sở. Những hành động không đứng đắn mà tôi tưởng tượng bà mình thực hiện để ghi nhớ quân tám cơ thực sự là không thể nói ra, (mà nếu không làm vậy, như tôi đã biết từ trước, thì tôi không hình dung nổi).
Tôi giải thích với Ed nỗi khó xử của tôi. Anh ta biết rõ điều này. “Rốt cuộc thì tôi cũng đã phải đưa hình ảnh mẹ tôi vào việc ghi nhớ bài,” anh ta nói. “Tôi khuyên anh cũng làm như vậy.”
Ed là một huấn luyện viên nghiêm khắc, anh ta trách móc tôi vì “tính cách yếu đuối” trong lúc tập luyện. Nếu cứ vài ngày mà tôi không cập nhật thông tin cho anh ta, hay thú nhận tôi đã không bỏ ra nửa tiếng một ngày như anh ta yêu cầu, tôi sẽ nhận được một e-mail với lời khiển trách cay độc.
“Anh phải tiếp tục luyện tập, nếu không thì chắc chắn thành tích của anh sẽ giảm ngay trong giải đấu,” anh ta cảnh báo. “Anh có thể đạt được trạng thái tâm lý thi đấu hoàn hảo và thực sự tăng điểm số luyện tập, nhưng anh phải làm việc với tâm thế rằng thành tích của anh trong lúc luyện tập là tốt hơn trong giải đấu.”
Tôi thì không thấy mình “yếu đuối” đến thế. Giờ tôi đã vượt qua được ngưỡng OK, điểm số của tôi đang cải thiện gần như hàng ngày. Những tờ giấy với các chữ số ngẫu nhiên mà tôi ghi nhớ đã xếp đầy trong ngăn bàn. Những trang giấy thơ quăn nếp mà tôi đã học thuộc lòng nhét đầy trong cuốn Hợp tuyển Norton thơ hiện đại. Tôi bắt đầu lờ mờ cho rằng nếu cứ tiến bộ với tốc độ như hiện nay, hẳn tôi có cơ hội đạt kết quả tốt tại giải đấu. Ed gửi cho tôi một câu trích của võ sư Lý Tiểu Long, mà anh ta hy vọng sẽ khơi nguồn cảm hứng cho tôi: “Không có giới hạn nào cả. Có những cái ngưỡng, nhưng bạn không được dừng lại ở đó, bạn phải vượt qua chúng. Nếu nó giết được bạn, thì nó sẽ giết chết bạn.” Tôi chép lại trên giấy nhắc Post-it và dán lên tường. Rồi tôi xé xuống và ghi nhớ nó.
Dám Giàu
Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018
Phần Kết - Phiêu bước cùng Einstein
Phần kết - Chúc mừng Joshua Foer. Anh ấy có chuyện để viết rồi đây, phải không?” bình luận viên Kenny Rice xướng lên. “Anh đến đây chỉ xem thi cử thế nào, khi quay về nhà đã thành nhà vô địch.”
“Vâng, không tồi với một chàng lính mới, Joshua ạ,” Ron Kruk, phóng viên của HDNet nói, anh lên sân khấu, tay cầm mic để phỏng vấn sau trận đấu. “Anh đã đến đưa tin về giải đấu này vài lần. Trải nghiệm đó có tầm quan trọng thế nào trong việc giúp anh trở nên thành công như vậy, và giành chiến thắng Giải Vô địch trí nhớ Mỹ hôm nay?”
“Tôi nghĩ điều đó cũng quan trọng, nhưng có lẽ công sức luyện tập đã bỏ ra cho ngày hôm nay có thể còn quan trọng hơn,” tôi nói.
“Vâng, công sức của anh đã được đền đáp, chắc chắn rồi. Giờ anh đang hướng đến giải vô địch thế giới.”
Ý tưởng lố bịch đó tôi còn chưa tính đến.
“Anh đã đến đó với tư cách nhà báo. Chuyện ấy sẽ giúp gì cho anh?”
Tôi bật cười. “Nói thật là tôi không có cơ hội nào ở giải vô địch thế giới. Những người đó có thể ghi nhớ một cỗ bài trong ba mươi giây. Về cơ bản, họ là người ngoài hành tinh.”
“Tôi chắc chắn anh sẽ làm nước Mỹ tự hào. Chúng tôi tin tưởng vào anh. Anh biết đấy, nếu anh thắng Cúp Super Bowl, anh sẽ nói ‘Tôi sẽ đến Disneyland.’ Nếu anh thắng Giải Vô địch Trí nhớ Mỹ, anh sẽ nói...”
Anh ta đưa mic đến trước mặt tôi. Đáng ra tôi phải trả lời rằng mình sẽ đến Kuala Lumpur, chắc vậy. Hoặc có lẽ tôi phải nói là Disneyland. Tôi bối rối quá. Và rất rất mệt. Còn các máy quay cứ đảo liên tục. “Ờ. Tôi không biết,” tôi nói. Tôi mất phương hướng. “Tôi nghĩ tôi sẽ về nhà.”
Ngay khi rời sân khấu, tôi đến quầy điện thoại gần nhất và gọi cho Ed. Lúc ấy là giữa buổi sáng ở Úc, anh ta đang đứng ở khu vực xa cửa thành trên sân cricket, anh ta bảo đang tiến hành một dạng “triết học thực nghiệm.”
“Ed hả, Josh đây...”
“Anh có thắng không?” Những lời đó buột ra khỏi miệng anh ta như thể đã đợi điện thoại của tôi suốt sáng.
“Tôi thắng rồi.”
Anh ta gào lên. “Một chiến công tuyệt vời. Tốt lắm, anh bạn, làm tốt lắm! Anh biết thế là thế nào, đúng không? Anh giờ đây là chủ nhân trí tuệ của nước Mỹ, không ai cãi được!”
Sáng hôm sau, vì tò mò, tôi vào trang mạng của giải đấu xem điểm số đầy đủ của cuộc thi đã đưa lên chưa, và nếu có thì những người châu Âu nói gì việc một gã tân binh giành chiến thắng ở giải Mỹ. Ben đã viết một tường thuật mười bốn trang về giải đấu. Phần cuối
cùng có giành vài từ về nhà vô địch mới: “Tôi ấn tượng với thành tích của anh ta, xét đến thời gian ngắn ngủi anh ta luyện tập, và tôi nghĩ anh ta hẳn là người đưa giải trí nhớ Mỹ lên tầm cao mới,” Ben viết. “Anh ta học các kỹ thuật của người châu Âu, anh ta đã xem các giải đấu của người châu Âu, và không như những người khác, anh ta không bị giới hạn bởi những tiêu chuẩn thấp nhưng cần thiết để giành chiến thắng ở giải Mỹ. Anh ta có đam mê thật sự với môn thể thao này, và tôi nghĩ anh ta có thể tiếp tục, không chỉ trở thành đại kiện tướng, mà có lẽ là người Mỹ đầu tiên vào nhóm các vận động viên trí nhớ có thứ hạng cao. Và khi anh ta làm được điều đó, chắc chắn đồng hương của anh ta sẽ nâng cấp cuộc chơi của họ để theo kịp anh ta. Chỉ cần một người để khơi cảm hứng cho những người khác. Nên tôi nghĩ tương lai cho môn thể thao trí nhớ ở Mỹ sẽ tươi sáng hơn!”
Nhà vô địch trí nhớ Mỹ hóa ra cũng là nhân vật nổi danh nho nhỏ (ừ thì, rất nhỏ). Bỗng nhiên, Ellen DeGeneres[30] muốn nói chuyện với tôi, chương trình Good Morning America và Today gọi điện hỏi tôi có muốn biểu diễn ghi nhớ cả bộ bài trên truyền hình. Kênh ESPN muốn biết liệu tôi có thích đọc thuộc kết quả giải đấu NCAA trên chương trình buổi sáng của họ không. Ai cũng muốn xem con khỉ diễn trò vui.
Cú sốc lớn nhất về vị thế ngôi sao mới có của tôi (hay vị thế một gã làm chuyện chẳng đâu vào đâu, tùy thuộc vào cách nhìn của bạn, tôi nghĩ vậy) là tôi trở thành đại diện chính thức cho 300 triệu người Mỹ đi dự Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới. Đây là tình thế tôi không ngờ mình sẽ rơi vào. Trong suốt quá trình tập luyện, tôi không hề nghĩ rằng ngày nào đó mình sẽ đối đầu với những người như Ed Cooke, Ben Pridmore, và Gunther Karsten, những huyền thoại trí nhớ mà ban đầu tôi định viết bài. Trong suốt những giờ phút tập luyện, tôi không bao giờ nghĩ đến việc so sánh điểm số của mình với họ. Tôi chỉ là một tay chặn bóng chày nghiệp dư; họ là những người chơi cho đội chuyên nghiệp đỉnh cao New York Yankees.
Khi xuất hiện ở London vào cuối tháng Tám (vào phút chót, nơi tổ chức giải chuyển từ Malaysia sang London), tôi mang theo đôi chụp tai sơn những hình sao và sọc theo nhân vật phim “Captain America”; mười bốn cỗ bài tôi sẽ cố ghi nhớ trong phần thi nhớ bài; và áo phông đội tuyển Mỹ. Tham vọng chính của tôi đơn giản chỉ là không làm xấu hổ bản thân hay đất nước. Tôi cũng đặt cho mình mục tiêu phụ: đứng vào tốp mười trong ba mươi bảy người và đạt danh hiệu đại kiện tướng trí nhớ.
Hóa ra, cả hai mục tiêu đều nằm ngoài tầm với của tôi. Khi đại diện chính thức của siêu cường vĩ đại nhất quả đất, tôi e sợ phải nói rằng mình đã tạo ra ấn tượng khá xoàng về trí nhớ của nước Mỹ nói chung. Dù tôi đạt thành tích cũng đáng nể là nhớ được chín cỗ bài rưỡi trong một tiếng (thiếu một nửa cỗ bài để đạt tiêu chuẩn đại kiện tướng); thành tích môn nhớ số là 380 chữ số (thấp hơn 620 số so với chuẩn đại kiện tướng). Tôi cũng đạt vị trí thứ ba trong phần thi nhớ khuôn mặt tên người, và một thành tựu tôi đạt được nhờ việc những cái tên mà chúng tôi phải ghi nhớ là tập hợp các tên lóng của đủ các dân tộc. Vì tôi đến từ một đất nước đa văn hóa nhất thế giới, ít có cái tên nào xa lạ với tôi. Tổng kết lại, tôi đã kết thúc ở vị trí thứ mười ba trên ba bảy thí sinh, chỉ đứng sau những người Đức, Áo, và Anh - nhưng tôi hài lòng mà nói rằng, mình đứng trên một gã người Pháp, và toàn đội Trung Quốc.
Vào chiều cuối cùng của giải, Ed kéo tôi lại và bảo rằng để công nhận “trí nhớ rất tốt và tính cách kiên định” của tôi, tối hôm đó, tôi sẽ được vào KL7, với điều kiện tôi có thể vượt qua lễ kết nạp thiêng liêng của tổ chức bí mật này.
Lời mời này, thậm chí còn hơn cả cúp vô địch Mỹ, báo hiệu một thành tựu thực sự trong
giới vận động viên trí nhớ. Tôi biết rằng nhà vô địch thế giới ba lần Andi Bell chưa bao giờ được mời làm thành viên KL7. Phần lớn trong ba mươi sáu đại kiện tướng trí nhớ cũng không được mời. Người duy nhất được chọn năm đó là Joachim Thaler, cậu trai mười bảy tuổi nhã nhặn người Áo, và cậu ta chỉ được mời vào sau khi đã đứng thứ ba ở giải vô địch thế giới hai lần liên tục. Việc trở thành thành viên KL7 khiến hành trình của tôi trở nên trọn vẹn, theo một hướng tôi chưa bao giờ có thể dự đoán vào lúc khởi đầu như một kẻ ngoại đạo, chỉ hy vọng ghi chép lại thế giới lạ kỳ của những vận động viên trí nhớ. Giờ đây, tôi thật sự chính thức trở thành một trong số họ.
Tối hôm ấy, sau khi gã sinh viên người Đức trẻ tuổi Clemens Mayer ẵm danh hiệu vô địch thế giới, và sau lễ trao giải, tại đó một tấm huy chương đồng đã được quàng quanh cổ tôi nhờ vị trí thứ ba ở phần thi tên-người-khuôn-mặt, cả cộng đồng trí nhớ đã tụ họp lại để bữa tiệc mừng tại Simson’s-in-the-Strand - một nhà hàng cổ rất lớn, nơi các kỳ thủ cờ vua vĩ đại nhất ở London thế kỷ mười chín từng tụ họp và là nơi diễn ra một trong những trận đấu cờ vua nổi tiếng nhất mọi thời đại: “Trận đấu Bất tử” năm 1851, giữa Adolf Anderssen và Lionel Kieseritzky. Trước bữa tráng miệng, vài thành viên của KL7 lẻn ra ngoài và tụ tập trong sảnh khách sạn của thành viên sáng lập hội Gunther Karsten trên cùng con phố ấy.
Ed - anh ta đã đi khắp thành phố cổ đeo hai tấm huy chương bạc (vì đã nhớ được mười sáu cỗ bài trong một tiếng và 133 chữ số liên tục trong phần thi nghe nhớ số) - ngồi xuống ghế da ngay cạnh tôi bên cái lò sưởi lớn làm bằng đá có chạm khắc. “Để tôi giải thích cho anh nhé,” anh ta nói. “Để gia nhập vào hội, anh cần hoàn thành ba nhiệm vụ sau đây trong năm phút: Anh sẽ phải uống hai cốc bia, ghi nhớ bốn chín chữ số, và hôn được ba phụ nữ. Anh có hiểu nhiệm vụ trước mắt không?”
“Tôi hiểu.”
Sau lưng tôi, Gunther đang mặc cái áo lót bó sát người, cứ đi đi lại lại.
“Điều này chắc chắn có thể làm được, Josh ạ,” Ed vừa nói vừa tháo đồng hồ trên cổ tay anh ta. “Chúng tôi sẽ cho anh một phút chuẩn bị để anh quyết định xem sẽ uống bia trước khi ghi nhớ, hay vừa uống vừa ghi nhớ. Nhưng cho anh biết trước một chuyện nhé, có người từng thử ghi nhớ bốn chín chữ số, sau đó uống hai vại bia ngay trước khi đọc lại những con số, và giờ này anh ta vẫn chưa phải thành viên của KL7.” Anh ta nhìn đồng hồ. “Chọn cách nào cũng được, đồng hồ sẽ đếm khi tôi nói bắt đầu.”
Một vận động viên trí óc, người không phải là thành viên của KL7, nhưng có mặt trong buổi lễ kết nạp, đã viết nguệch ngoạc bốn chín chữ số lên mặt sau một tấm danh thiếp. Ed hét lên, “Bắt đầu,” và tôi đưa tay lên làm thành cái bịt tai tạm bợ và bắt đầu ghi nhớ: 7... 9... 3... 8... 2... 6... Cứ sau sáu chữ số tôi lại nhấp một ngụm lớn bia. Ngay khi tôi hoàn tất việc khắc hình ảnh của hai chữ số cuối cùng, Ed hô to, “Đếm giờ!” và giật lấy những chữ số khỏi tay tôi.
Tôi buông tay ra, bắt đầu liệt kê các chữ số một cách trôi chảy. Nhưng khi đến điểm cuối trong cung trí nhớ, tôi nhận ra hình ảnh của hai chữ số cuối cùng đã bay hơi. Tôi soát một lượt những cặp số khả dĩ từ 00 đến 99, nhưng không có cặp nào khớp cả. Tôi mở mắt và cầu xin gợi ý. Một khoảng lặng.
“Tôi không qua được, đúng không?”
“Không, tôi rất tiếc, bốn bảy chữ số sẽ không đủ,” Ed trịnh trọng tuyên bố với những thành viên có mặt. Anh ta quay lại nói với tôi. “Tôi thật sự rất tiếc.”
“Đừng lo, lần đầu tôi cũng không thành công,” Gunther bảo, tay vỗ vào vai tôi. “Nghĩa là tôi không được vào KL7 sao?”
Ed mím môi và lắc đầu. Câu trả lời của anh ta nghiêm nghị lạ thường. “Không, Josh ạ. Anh
không phải là thành viên.”
“Làm ơn đi, Ed, anh không thể làm được gì sao?” tôi nài nỉ.
“Tôi e là tình bạn cũng phải theo luật của KL7. Nếu anh muốn trở thành thành viên, anh phải làm lại từ đầu.” Anh ta vẫy tay gọi cô phục vụ. “Hãy tin tôi đi, càng về đêm thì việc trở thành thành viên KL7 càng thêm ấn tượng đấy.”
Một danh sách mới gồm bốn chín chữ số được viết ra, và hai vại bia nữa đổ vào. Lần này, kỳ diệu thay, những hình ảnh của tôi rõ ràng như thể tôi đã dành cả dịp cuối tuần để tạo ra
- và độ tục tĩu tăng gấp đôi. Không như lần thử đầu tiên, lần này tôi thậm chí thừa thời gian để dạo thêm một lượt qua cung trí nhớ. Khi Ed bắt đầu tính giờ, tôi nhắm mắt và đọc ra bốn chín chữ số một cách tự tin, như thể tôi đã tập luyện nhớ chúng cả ngày trời.
Ed đứng dậy đập tay chúc mừng rồi ôm lấy tôi. Nhưng Gunther, đến lúc bấy giờ, cũng như tôi, đã khá say, lại không nhượng bộ. Ông ta cứ khăng khăng còn một rào cản cuối cùng trước khi tôi chính thức được kết nạp vào KL7. “Anh vẫn phải hôn ba lần vào đầu gối một phụ nữ xa lạ,” anh ta nói.
“Đầu gối ư? Ba lần sao? Các anh vừa mới tạo ra luật mới khi chúng ta hành lễ đấy,” tôi phản đối.
“Luật là thế đấy,” anh ta nói.
Ông ta cầm tay tôi kéo vào phòng bên cạnh của quán bar, ở đó ông ta cố giải thích tình huống cho hai phụ nữ Ai-len trung niên đang lặng lẽ thưởng thức rượu. Tôi nhớ hình như đã bảo với một trong hai người họ đừng lo lắng, rằng tình huống này không có gì kỳ lạ cả: Chúng tôi là những nhà vô địch trí nhớ, và đây quả là một vinh dự cho đầu gối của bà ấy. Tôi láng máng nhớ rằng mạch logic ấy không hiệu quả, nhưng Gunther đã nghĩ ra điều gì đó nghe thuyết phục hơn. Làm sao đó rồi cuối cùng tôi cũng quỳ một bên chân xuống hôn vội ba cái lên đầu gối trần của quý bà tội nghiệp nào đó, sau đấy Gunther giơ cánh tay tôi lên cao và tuyên bố tôi đã đáp ứng mọi thách thức, đã vượt qua mọi thử thách, và xứng đáng được gia nhập vào tổ chức cao quý nhất của các vận động viên trí óc. “Chào mừng đến với câu lạc bộ KL7!” ông ta hét lên.
Ký ức của tôi về phần còn lại của tối hôm ấy lúc mờ lúc tỏ. Tôi nhớ đang ngồi cùng Tony Buzan trên ghế trường kỷ, và không ngớt bảo rằng ông ta là “Người,” (người viết hoa), trong khi nháy mắt một cách huênh hoang về phía Ed. Tôi nhớ Ben đã đùa rằng cô phục vụ hẳn nghĩ chúng tôi là một lũ lập dị. Tôi nhớ Ed đã bảo tôi rằng “tình bạn của chúng tôi là một thiên sử thi.”
Nhìn lại cuốn sổ ghi chép vào đêm hôm ấy, có thể thấy rõ trạng trái tinh thần của tôi càng lúc càng mơ hồ. Suốt buổi tối hôm đó, những chữ viết tay của tôi bắt đầu nguệch ngoạc trên trang giấy. Đến bây giờ gần như chẳng đọc ra, dù một trang còn khá rõ: “Ối mẹ ơi!
Mình đã vào KL7! Và mình nghĩ rằng mình đang ở trong nhà vệ sinh nữ.”
Trên trang kế bên của cuốn sổ tay, những chữ viết đột nhiên trở nên rõ ràng, và chuyển sang ngôi nhứ ba. Tôi đã say xỉn quá không viết nổi, và dù sao cũng có quá nhiều trò vui. Tôi đã đưa cuốn sổ tay cho người gần nhất còn tỉnh táo và nhờ cô ấy cố viết cho khách quan. Chả có ý nghĩa gì khi vẫn đóng vai nhà báo nữa.
Sau khi dành phần lớn thời gian của năm đó cho việc cải thiện trí nhớ, tôi quay lại Đại học Bang Florida để dành thêm một ngày rưỡi cho Anders Ericsson và các sinh viên của ông kiểm tra lại, cũng trong chính căn phòng tù túng mà cách đấy gần một năm tôi đã trải qua cuộc kiểm tra trí nhớ toàn diện. Lần này cũng là Tres đang giám sát tôi, cũng loại mic nhỏ gắn sát miệng, tôi làm lại chính những bài kiểm tra ấy và một số bài kiểm tra mới.
Vậy là tôi đã cải thiện trí nhớ của mình ư? Bằng phép đo khách quan, tôi quả đã cải thiện được thứ gì đó. Giới hạn nhớ số của tôi, cái tiêu chuẩn vàng về trí nhớ, đã tăng gấp đôi từ chín lên mười tám. So với bài kiểm tra gần một năm trước, tôi có thể nhớ nhiều câu thơ hơn, nhiều tên người hơn, nhiều mẩu thông tin ngẫu nhiên hơn. Và mấy ngày sau giải vô địch thế giới, tôi đi ăn tối với vài người bạn rồi bắt tàu điện ngầm về nhà, tới lúc đi đến cửa nhà bố mẹ mình, tôi mới nhớ lúc ra đi mình đã lái xe. Tôi không những quên mình để xe ở đâu mà còn quên bẵng là mình có đi xe.
Đó là nan đề: Dù giờ đã biểu diễn được đủ trò với trí nhớ, tôi vẫn mắc cái tật xấu cố hữu là để xe không đúng chỗ và để khóa không đúng chỗ. Thậm chí dù tôi tăng đáng kể sức ghi nhớ với các thông tin có cấu trúc để có thể nhét vào cung trí nhớ, thì hầu hết những gì tôi muốn ghi nhớ trong đời sống hàng ngày lại không phải là sự kiện hay chữ số hay bài thơ hay lá bài hay những số nhị phân. Vâng, tôi có thể ghi nhớ tên của vài chục người tại một bữa tiệc cocktail, và chắc chắn việc đó là hữu ích. Và bạn có thể đưa cho tôi gia phả của một vương triều Anh, hay nhiệm kỳ của các Bộ trưởng Nội vụ Hoa Kỳ, ngày diễn ra cách trận đánh lớn trong Chiến tranh Thế giới thứ II, và tôi có thể học thuộc thông tin đó khá nhanh, và thậm chí giữ lại khá lâu. Những kỹ năng này nếu ở trường trung học thì đúng là của trời cho. Nhưng cuộc đời, dù tốt hay xấu, chẳng mấy giống với trường học.
Khả năng nhớ số của tôi tăng gấp đôi nhưng thì trí nhớ của tôi có thực sự tốt lên gấp đôi so với khi tôi bắt đầu rèn luyện trí nhớ không? Tôi ước mình có thể nói như vậy. Song sự thật là, không phải. Khi được yêu cầu nhớ những vết mực ngẫu nhiên, hay nhớ một loại những mẫu vải màu, hay nhớ việc dọn cỏ đường vào hầm nhà bố mẹ, thì tôi cũng không khá hơn người bình thường. Trí nhớ của tôi vẫn bị giới hạn bởi số bảy ma thuật như mọi người khác. Bất cứ thông tin nào không thể dễ dàng chuyển thành hình ảnh và để vào cung trí nhớ thì vẫn khó nhớ với tôi như thường. Tôi đã nâng cấp phần mềm trí nhớ của mình, nhưng phần cứng thì dường như về cơ bản không thay đổi.
Nhưng rõ ràng tôi đã thay đổi. Hay ít nhất tôi đã thay đổi cách suy nghĩ về bản thân. Bài học quan trọng nhất tôi rút ra từ một năm luyện thi trí nhớ không phải là cái bí quyết học thuộc thơ, mà điều gì đó phổ quát hơn, và ở một khía cạnh nào đó, có thể phục vụ đời sống của tôi. Trải nghiệm của tôi đã chứng minh tính hợp lý của quan niệm xa xưa rằng thực hành sẽ làm nên sự hoàn thiện. Nhưng đó phải là sự thực hành đúng cách, có tập trung, tự nhận thức, và thực hành có chủ ý. Tôi đã tự nhận ra rằng với sự tập trung, động lực, và trên hết, thời gian, thì có thể rèn luyện trí óc để làm những điều phi thường.
Khi đã làm xong bài kiểm tra, tôi hỏi Ericsson liệu ông có nghĩ bất kỳ ai bỏ ra lượng thời gian như tôi cũng có thể cải thiện trí nhớ của anh ta ở mức như tôi đã có không.
“Tôi nghĩ rằng chỉ với một dữ liệu duy nhất như thế này thì không biết được,” ông bảo tôi. “Nhưng thật hiếm có người nào tận tụy như anh, và thái độ sẵn sàng nhận lấy thử thách khiến anh khác biệt. Anh rõ ràng không phải một người tầm thường, song mặt khác, tôi không chắc chuyện anh làm là ngoài tầm với của một sinh viên có động lực khác.”
Khi tôi khởi đầu hành trình này, vào một năm trước, lúc đang đứng cuối khán phòng trong tòa nhà Con Edison, tay cầm sổ ghi chép, tôi không biết chuyện sẽ đi đến đâu, hoàn toàn không biết nó sẽ tác động đến cuộc sống của tôi thế nào, hay rốt cuộc nó sẽ thay đổi cuộc sống của tôi ra sao. Nhưng sau khi học được cách ghi nhớ thơ ca và những con số, lá bài và tiểu sử, tôi tin rằng ghi nhớ được nhiều hơn là lợi ích rõ ràng nhất của nhiều tháng tập luyện trí nhớ. Song song với việc ghi nhớ, điều tôi thực sự rèn luyện cho bộ não là khiến nó trở nên lưu tâm hơn, biết để ý đến thế giới xung quanh. Bạn chỉ có thể ghi nhớ nếu bạn quyết tâm chú ý.
Vấn đề đã hành hạ S và nhân vật hư cấu Funes là việc mất khả năng phân biệt giữa những chi tiết đáng bận tâm và không đáng bận tâm. Sự ghi nhớ bắt buộc của họ rõ ràng là bệnh lý, nhưng tôi không khỏi tưởng tượng rằng trải nghiệm của họ với thế giới cũng chắc chắn là phong phú hơn. Không ai muốn hướng chú ý vào những chi tiết tầm thường, song ngay cả việc cái chi tiết tầm thường ấy xảy ra trên đời cũng như nỗ lực để ghi nhận nó cũng có giá trị đáng nói - dù chỉ là khi cố ghi nhận nó, người ta hình thành thói quen chú ý và trân trọng.
Tôi thừa nhận rằng chưa khi nào tôi giỏi việc lấp đầy cung trí nhớ đến mức cảm thấy thoải mái vứt đi máy ghi âm và cuốn sổ tay. Và do công việc đòi hỏi phải biết mỗi thứ một ít, tôi phải đọc quá nhiều, chỉ đôi lúc mới áp dụng được lối đọc tập trung cao độ và ghi nhớ như Ed rao giảng. Dù nhờ kỹ thuật trí nhớ, tôi đã ghi nhớ được dăm ba bài thơ, song tôi vẫn không chinh phục nổi một tác phẩm văn chương nào dài hơn “Tình ca của J. Alfred Prufrock.” Thậm chí một khi đã đạt đến cấp độ có thể ghi nhớ trên ba mươi chữ số trong một phút, tôi thỉnh thoảng tôi mới dùng kỹ thuật này để ghi nhớ số điện thoại của những người mà tôi muốn gọi điện. Tôi thấy việc lưu những số đó vào máy di động là quá đơn giản. Thỉnh thoảng, tôi ghi nhớ những danh sách đồ cần mua, những chỉ dẫn, hay việc cần làm, nhưng chỉ trong tình huống hiếm hoi khi không có sẵn bút để ghi chúng lại. Không phải những kỹ thuật này không tác dụng. Tôi là bằng chứng sống về tác dụng của chúng. Vấn đề là khó tìm thấy cơ hội dùng chúng trong thế giới thực mà những giấy, máy tính, điện thoại di động, và giấy nhắc Post-it đã thay tôi nhiệm vụ ghi nhớ.
Vậy tại sao phải đầu tư cho trí nhớ khi chúng ta đang ở thời đại bộ nhớ ngoại hóa? Câu trả lời thỏa đáng nhất tôi có thể đưa ra là câu trả lời mà tôi vô tình nhận được từ EP, người mà bị mất trí nhớ hoàn toàn đến mức ông không thể định vị mình trong không gian và thời gian, hay trong mối quan hệ với người khác. Đó là: Cách chúng ta nhận thức thế giới và cách chúng ta hành xử chính là sản phẩm của việc chúng ta ghi nhớ cái gì và như thế nào. Chúng ta một khối những thói quen do trí nhớ định hình. Và chúng ta kiểm soát cuộc sống của mình bằng cách dần thay đổi những thói quen đó, nghĩa là thay đổi mạng lưới trí nhớ. Không một câu đùa nào, sáng tạo nào, hiểu biết nào, hay tác phẩm nghệ thuật nào được sản xuất bởi bộ nhớ ngoài. Không, ít nhất là chưa. Khả năng nhận ra sự hài hước trong thế giới, khả năng liên hệ giữa những khái niệm trước đó không liên hệ với nhau, khả năng tạo ra những ý tưởng mới, và khả năng chia sẻ trong một nền văn hóa chung: tất cả những hành vi cơ bản của con người này đều lệ thuộc vào trí nhớ. Một ngày nào đấy trong tương lai xa xôi như Gordon Bell dự đoán, khi bộ nhớ trong và bộ nhớ ngoài của chúng ta hợp nhất hoàn toàn, chúng ta có thể sẽ sở hữu kho tri thức vô hạn. Nhưng điều đó không đồng nhất với trí khôn. Hơn bao giờ hết, lúc này đây, khi vai trò của trí nhớ
trong nền văn hóa bị xói mòn nhanh hơn trước, chúng ta cần nuôi dưỡng trí nhớ trong bộ não, cái trí nhớ tạo nên chúng ta là ai, cái trí nhớ tạo nên giá trị và nguồn gốc của tính cách chúng ta. Tranh đua nhau để xem ai có thể nhớ nhiều trang những bài thơ hạng hai hơn có vẻ không phải là việc quan trọng, song đấy chính là điều quan trọng. Đó chính là điều Ed đã cố truyền đạt cho tôi ngay từ đầu: rèn luyện trí nhớ không phải là để thực hiện trò lạ mua vui ở chỗ tiệc tùng; mà là để nuôi dưỡng điều gì đó có tính nhân văn căn bản và sâu sắc.
Trước khi cuộc vui của KL7 chuyển sang chơi trò cờ tưởng ai tham gia cũng được và mọi người thi nhau lè nhè đọc lại bài thơ ngày hôm trước, thì Gunther dồn tôi xuống ghế trường kỷ và hỏi liệu tôi sẽ tiếp tục thi đấu ở giải trí nhớ không. Tôi bảo ông ta rằng phần không nhỏ trong tôi rất muốn thế. Cuộc chơi này không chỉ kích thích lạ lùng đến không ngờ, mà mà còn gây nghiện nữa. Tối hôm đó, tôi có thể hình dung ra điều mà tôi chưa bao giờ tính tới: khả năng lậm sâu hơn vào trò này. Dù gì, tôi cũng đã giành được chức vô địch Mỹ và lập một kỷ lục nhớ bài nhanh, và tôi chắc mình có thể vượt qua cái rào cản một phút trong môn nhớ bài, nếu dành nhiều thời gian hơn. Đấy là chưa kể đến những ngày tháng lịch sử: Tôi có thể đạt thành tích tốt hơn nhiều trong phần nhớ ngày tháng lịch sử! Và còn đó tiêu chuẩn đại kiện tướng mà tôi bỏ lỡ. “Cái danh hiệu Đại kiện tướng Trí nhớ mà để trên danh thiếp sẽ hay lắm đấy,” tôi đùa với Gunther (ông ta quả có in nó lên danh thiếp). Tôi hẳn đã đưa vào cung trí nhớ của mình những hình ảnh tôi đang tưởng tượng: hệ thống thiên niên kỷ tôi sẽ phát triển, những tấm che mắt tôi sẽ mua, hàng giờ tập luyện mà tôi sẽ đầu tư, lịch di chuyển máy bay đến dự các giải vô địch quốc gia trên thế giới. Dù có như vậy, ngay thời khắc tôi được mời vào chốn linh thiêng nhất của cộng đồng trí nhớ, thì tôi cũng đủ tỉnh táo để nhận ra rằng đã đến lúc dừng lại. Thí nghiệm của tôi đã kết thúc. Kết quả đã có. Tôi bảo Gunther là tôi sẽ nhớ nó đấy, nhưng tôi không nghĩ mình sẽ quay lại năm sau.
“Chán quá,” ông ta nói, “nhưng tôi hiểu. Nếu tiếp tục là phải luyện tập nhiều hơn, và lúc này anh sẽ biết đầu tư thời gian hiệu quả hơn nhiều.” Ông ta đã đúng, tôi nghĩ. Tôi tự hỏi tại sao bản thân ông ta không bao giờ biến điều đó thành hiện thực.
Ed đứng dậy và nâng cốc mừng tôi, người học trò ngôi sao của anh ta. “Chúng ta đi kiếm bánh vòng nào,” anh ta nói, chúng tôi cùng ra khỏi cửa. Tôi không nhớ gì phần còn lại tối hôm ấy. Sáng hôm sau tôi tỉnh dậy, trên má có một vòng tròn lớn màu đỏ - tấm huy chương đồng ở phần thi tên-người-khuôn-mặt đã hằn dấu lên. Tôi đã quên tháo nó ra.
HẾT
Tủ sách BOOKBT #300 07/08/2017
Chú thích
[1] Royal flush: một dây bài đồng chất trong môn poker (xì tố).
[2] Cờ tưởng hay cờ mù (Blindfold chess) là một nội dung thi đấu đặc thù của môn cờ vua trong đó hai đấu thủ chơi cờ bằng tâm trí, không có bàn cờ hoặc các con cờ trên bàn cờ. Đây là một hình thức thi đấu cờ phổ biến trên thế giới.
[3] Sau chiến tranh thế giới thứ II, ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước phương Tây, xảy ra tình trạng tăng vọt về dân số. Người ta hay gọi thời kỳ này là Baby Boom.
[4] Yawn: ngáp; Ulcer: nhọt; Aisle: lối đi.
[5] Trong tiếng Anh, Josh nghĩa là bỡn cợt; còn Foer đọc lên nghe giống four, số 4.
[6] Baker tiếng Anh cũng có nghĩa là thợ làm bánh.
[7] Peter Pan: Nhân vật trong tiểu thuyết của J.M. Barrie. Cậu bé Peter Pan ham vui chơi và không muốn trưởng thành.
[8] Theo thứ tự: đùa bỡn, mềm mại, càu nhàu.
[9] Loài sinh vật trong thần thoại có thân hình của người và đầu của chó hay chó sói.
[10] Ed dùng chữ peat-smoked salmon là món cá hồi xông khói than bùn. Còn Foer (tác giả) dùng từ lox, cũng chỉ món cá hồi xông khói.
[11] Merlot: Rượu vang đỏ, làm từ nho trồng ở miền nam nước Pháp; Sauvignon blanc: Rượu vang trắng, làm từ nho trồng miền trung và tây nam nước Pháp; Chardonnay: Rượu vang trắng, làm từ nho trồng ở vùng Burgundy, nước Pháp; Gewurztramnier: Rượu vang trắng, làm từ nho trồng ở vùng Alsace, nước Đức; Riesling: một loại vang trắng của Đức.
[12] Tiếng Anh: she-male (người chuyển đổi giới tính nam thành nữ), đọc lên nghe giống e- mail.
[13] Những từ do Lewis Carroll sáng tạo ra trong bài thơ Jabberwocky.
[14] Scrabble: Trò chơi ghép chữ, người chơi dùng các thẻ chữ cái đặt lên bàn ô vuông theo hàng dọc hoặc hàng ngang để tạo ra các từ có nghĩa.
[15] Miserare: từ này không rõ nghĩa. Có thể Buzan lấy cảm hứng từ Bài thánh ca số 51 của tác giả người Ý Gregorio Allegi, tựa đề Miserere, hay Miserere mei, Deus nghĩa là Xin Chúa mở lòng từ bi với con.
[16] Rawa là một thành phố ở Iraq. Người dân ở thành phố này được gọi là người Rawi.
[17] Đoạn trên có nghĩa: AS YOU CAN SEE IT’S NOT VERY EASY TO READ TEXT WRITTEN WITHOUT SPACES OR PUNCTUATION OF ANY KIND OR EVEN HELPFULLY POSITIONED LINE-BREAKS. AND YET THIS WAS EXACTLY THE FORM OF INSCRIPTION USED IN ANCIENT GREECE (Bạn thấy đấy, chẳng dễ gì đọc đoạn văn không hề có bất kỳ dấu cách hay dấu câu nào, hay thậm chí là những chỗ cách dòng hữu ích. Ấy nhưng đây chính là cách ghi chép vào thời Hy Lạp cổ đại.)
[18] Hai câu này có nghĩa: (Bị) ngạt mũi làm giảm khả năng ngửi rượu; và Những trò hắn biết khiến hắn liếm cô ả. Trong tiếng Anh, hai câu này đọc lên nghe giống nhau.
[19] Johannes Gutenberg (1395-1468), người Đức, đã phát minh ra máy in khởi đầu cuộc cách mạng in ấn.
[20] Frank Lloyd Wright (1867-1959), kiến trúc sư người Mỹ, có ảnh hưởng lớn đến nền kiến trúc Mỹ trong thế kỷ 20.
[21] Chứng bệnh gây suy yếu và phá hủy thần kinh vận động.
[22] Một loại vải do người Akan ở châu Phi làm ra, giống thổ cẩm ở Việt Nam.
[23] “Tìm kiếm” ở đây được hiểu là tìm trong trí nhớ.
[24] Một dạng tài liệu hướng dẫn học tập, chủ yếu dùng ở Mỹ.
[25] Gettysburg Address: là bài diễn văn do Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đọc tại Nghĩa trang Quốc gia Gettysburg, bang Pennsylvania năm 1863. Chữ address cũng có nghĩa là địa chỉ.
[26] Laurence Kerr Olivier (1907-1989), diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất phim người Anh; Joshep Ryduard Kipling (1865-1936): nhà thơ, nhà văn Anh, nổi tiếng qua những bài thơ viết về quân lính Anh ở Ấn độ và những truyện cổ tích viết cho trẻ em.
[27] Narrow savant. Trang wikipedia dẫn lời nhà tâm lý học Darold Treffert rằng các kỳ nhân có trí nhớ rất sâu nhưng cực kỳ hạn hẹp (narrow). Hạn hẹp hiểu theo nghĩa họ có trí nhớ tuyệt vời nhưng rất khó sử dụng chúng.
[28] Tương đương với bằng tốt nghiệp Trung học Cơ sở.
[29] Mental anguish: giày vò trí óc.
[30] Elles Lee DeGeneres, người Mỹ, là diễn viên, dẫn chương trình truyền hình, và người độc tấu hài (stand up comedian). Bà là người dẫn chương trình mang tên The Elles DeGeneres Talk show.
“Vâng, không tồi với một chàng lính mới, Joshua ạ,” Ron Kruk, phóng viên của HDNet nói, anh lên sân khấu, tay cầm mic để phỏng vấn sau trận đấu. “Anh đã đến đưa tin về giải đấu này vài lần. Trải nghiệm đó có tầm quan trọng thế nào trong việc giúp anh trở nên thành công như vậy, và giành chiến thắng Giải Vô địch trí nhớ Mỹ hôm nay?”
“Tôi nghĩ điều đó cũng quan trọng, nhưng có lẽ công sức luyện tập đã bỏ ra cho ngày hôm nay có thể còn quan trọng hơn,” tôi nói.
“Vâng, công sức của anh đã được đền đáp, chắc chắn rồi. Giờ anh đang hướng đến giải vô địch thế giới.”
Ý tưởng lố bịch đó tôi còn chưa tính đến.
“Anh đã đến đó với tư cách nhà báo. Chuyện ấy sẽ giúp gì cho anh?”
Tôi bật cười. “Nói thật là tôi không có cơ hội nào ở giải vô địch thế giới. Những người đó có thể ghi nhớ một cỗ bài trong ba mươi giây. Về cơ bản, họ là người ngoài hành tinh.”
“Tôi chắc chắn anh sẽ làm nước Mỹ tự hào. Chúng tôi tin tưởng vào anh. Anh biết đấy, nếu anh thắng Cúp Super Bowl, anh sẽ nói ‘Tôi sẽ đến Disneyland.’ Nếu anh thắng Giải Vô địch Trí nhớ Mỹ, anh sẽ nói...”
Anh ta đưa mic đến trước mặt tôi. Đáng ra tôi phải trả lời rằng mình sẽ đến Kuala Lumpur, chắc vậy. Hoặc có lẽ tôi phải nói là Disneyland. Tôi bối rối quá. Và rất rất mệt. Còn các máy quay cứ đảo liên tục. “Ờ. Tôi không biết,” tôi nói. Tôi mất phương hướng. “Tôi nghĩ tôi sẽ về nhà.”
Ngay khi rời sân khấu, tôi đến quầy điện thoại gần nhất và gọi cho Ed. Lúc ấy là giữa buổi sáng ở Úc, anh ta đang đứng ở khu vực xa cửa thành trên sân cricket, anh ta bảo đang tiến hành một dạng “triết học thực nghiệm.”
“Ed hả, Josh đây...”
“Anh có thắng không?” Những lời đó buột ra khỏi miệng anh ta như thể đã đợi điện thoại của tôi suốt sáng.
“Tôi thắng rồi.”
Anh ta gào lên. “Một chiến công tuyệt vời. Tốt lắm, anh bạn, làm tốt lắm! Anh biết thế là thế nào, đúng không? Anh giờ đây là chủ nhân trí tuệ của nước Mỹ, không ai cãi được!”
Sáng hôm sau, vì tò mò, tôi vào trang mạng của giải đấu xem điểm số đầy đủ của cuộc thi đã đưa lên chưa, và nếu có thì những người châu Âu nói gì việc một gã tân binh giành chiến thắng ở giải Mỹ. Ben đã viết một tường thuật mười bốn trang về giải đấu. Phần cuối
cùng có giành vài từ về nhà vô địch mới: “Tôi ấn tượng với thành tích của anh ta, xét đến thời gian ngắn ngủi anh ta luyện tập, và tôi nghĩ anh ta hẳn là người đưa giải trí nhớ Mỹ lên tầm cao mới,” Ben viết. “Anh ta học các kỹ thuật của người châu Âu, anh ta đã xem các giải đấu của người châu Âu, và không như những người khác, anh ta không bị giới hạn bởi những tiêu chuẩn thấp nhưng cần thiết để giành chiến thắng ở giải Mỹ. Anh ta có đam mê thật sự với môn thể thao này, và tôi nghĩ anh ta có thể tiếp tục, không chỉ trở thành đại kiện tướng, mà có lẽ là người Mỹ đầu tiên vào nhóm các vận động viên trí nhớ có thứ hạng cao. Và khi anh ta làm được điều đó, chắc chắn đồng hương của anh ta sẽ nâng cấp cuộc chơi của họ để theo kịp anh ta. Chỉ cần một người để khơi cảm hứng cho những người khác. Nên tôi nghĩ tương lai cho môn thể thao trí nhớ ở Mỹ sẽ tươi sáng hơn!”
Nhà vô địch trí nhớ Mỹ hóa ra cũng là nhân vật nổi danh nho nhỏ (ừ thì, rất nhỏ). Bỗng nhiên, Ellen DeGeneres[30] muốn nói chuyện với tôi, chương trình Good Morning America và Today gọi điện hỏi tôi có muốn biểu diễn ghi nhớ cả bộ bài trên truyền hình. Kênh ESPN muốn biết liệu tôi có thích đọc thuộc kết quả giải đấu NCAA trên chương trình buổi sáng của họ không. Ai cũng muốn xem con khỉ diễn trò vui.
Cú sốc lớn nhất về vị thế ngôi sao mới có của tôi (hay vị thế một gã làm chuyện chẳng đâu vào đâu, tùy thuộc vào cách nhìn của bạn, tôi nghĩ vậy) là tôi trở thành đại diện chính thức cho 300 triệu người Mỹ đi dự Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới. Đây là tình thế tôi không ngờ mình sẽ rơi vào. Trong suốt quá trình tập luyện, tôi không hề nghĩ rằng ngày nào đó mình sẽ đối đầu với những người như Ed Cooke, Ben Pridmore, và Gunther Karsten, những huyền thoại trí nhớ mà ban đầu tôi định viết bài. Trong suốt những giờ phút tập luyện, tôi không bao giờ nghĩ đến việc so sánh điểm số của mình với họ. Tôi chỉ là một tay chặn bóng chày nghiệp dư; họ là những người chơi cho đội chuyên nghiệp đỉnh cao New York Yankees.
Khi xuất hiện ở London vào cuối tháng Tám (vào phút chót, nơi tổ chức giải chuyển từ Malaysia sang London), tôi mang theo đôi chụp tai sơn những hình sao và sọc theo nhân vật phim “Captain America”; mười bốn cỗ bài tôi sẽ cố ghi nhớ trong phần thi nhớ bài; và áo phông đội tuyển Mỹ. Tham vọng chính của tôi đơn giản chỉ là không làm xấu hổ bản thân hay đất nước. Tôi cũng đặt cho mình mục tiêu phụ: đứng vào tốp mười trong ba mươi bảy người và đạt danh hiệu đại kiện tướng trí nhớ.
Hóa ra, cả hai mục tiêu đều nằm ngoài tầm với của tôi. Khi đại diện chính thức của siêu cường vĩ đại nhất quả đất, tôi e sợ phải nói rằng mình đã tạo ra ấn tượng khá xoàng về trí nhớ của nước Mỹ nói chung. Dù tôi đạt thành tích cũng đáng nể là nhớ được chín cỗ bài rưỡi trong một tiếng (thiếu một nửa cỗ bài để đạt tiêu chuẩn đại kiện tướng); thành tích môn nhớ số là 380 chữ số (thấp hơn 620 số so với chuẩn đại kiện tướng). Tôi cũng đạt vị trí thứ ba trong phần thi nhớ khuôn mặt tên người, và một thành tựu tôi đạt được nhờ việc những cái tên mà chúng tôi phải ghi nhớ là tập hợp các tên lóng của đủ các dân tộc. Vì tôi đến từ một đất nước đa văn hóa nhất thế giới, ít có cái tên nào xa lạ với tôi. Tổng kết lại, tôi đã kết thúc ở vị trí thứ mười ba trên ba bảy thí sinh, chỉ đứng sau những người Đức, Áo, và Anh - nhưng tôi hài lòng mà nói rằng, mình đứng trên một gã người Pháp, và toàn đội Trung Quốc.
Vào chiều cuối cùng của giải, Ed kéo tôi lại và bảo rằng để công nhận “trí nhớ rất tốt và tính cách kiên định” của tôi, tối hôm đó, tôi sẽ được vào KL7, với điều kiện tôi có thể vượt qua lễ kết nạp thiêng liêng của tổ chức bí mật này.
Lời mời này, thậm chí còn hơn cả cúp vô địch Mỹ, báo hiệu một thành tựu thực sự trong
giới vận động viên trí nhớ. Tôi biết rằng nhà vô địch thế giới ba lần Andi Bell chưa bao giờ được mời làm thành viên KL7. Phần lớn trong ba mươi sáu đại kiện tướng trí nhớ cũng không được mời. Người duy nhất được chọn năm đó là Joachim Thaler, cậu trai mười bảy tuổi nhã nhặn người Áo, và cậu ta chỉ được mời vào sau khi đã đứng thứ ba ở giải vô địch thế giới hai lần liên tục. Việc trở thành thành viên KL7 khiến hành trình của tôi trở nên trọn vẹn, theo một hướng tôi chưa bao giờ có thể dự đoán vào lúc khởi đầu như một kẻ ngoại đạo, chỉ hy vọng ghi chép lại thế giới lạ kỳ của những vận động viên trí nhớ. Giờ đây, tôi thật sự chính thức trở thành một trong số họ.
Tối hôm ấy, sau khi gã sinh viên người Đức trẻ tuổi Clemens Mayer ẵm danh hiệu vô địch thế giới, và sau lễ trao giải, tại đó một tấm huy chương đồng đã được quàng quanh cổ tôi nhờ vị trí thứ ba ở phần thi tên-người-khuôn-mặt, cả cộng đồng trí nhớ đã tụ họp lại để bữa tiệc mừng tại Simson’s-in-the-Strand - một nhà hàng cổ rất lớn, nơi các kỳ thủ cờ vua vĩ đại nhất ở London thế kỷ mười chín từng tụ họp và là nơi diễn ra một trong những trận đấu cờ vua nổi tiếng nhất mọi thời đại: “Trận đấu Bất tử” năm 1851, giữa Adolf Anderssen và Lionel Kieseritzky. Trước bữa tráng miệng, vài thành viên của KL7 lẻn ra ngoài và tụ tập trong sảnh khách sạn của thành viên sáng lập hội Gunther Karsten trên cùng con phố ấy.
Ed - anh ta đã đi khắp thành phố cổ đeo hai tấm huy chương bạc (vì đã nhớ được mười sáu cỗ bài trong một tiếng và 133 chữ số liên tục trong phần thi nghe nhớ số) - ngồi xuống ghế da ngay cạnh tôi bên cái lò sưởi lớn làm bằng đá có chạm khắc. “Để tôi giải thích cho anh nhé,” anh ta nói. “Để gia nhập vào hội, anh cần hoàn thành ba nhiệm vụ sau đây trong năm phút: Anh sẽ phải uống hai cốc bia, ghi nhớ bốn chín chữ số, và hôn được ba phụ nữ. Anh có hiểu nhiệm vụ trước mắt không?”
“Tôi hiểu.”
Sau lưng tôi, Gunther đang mặc cái áo lót bó sát người, cứ đi đi lại lại.
“Điều này chắc chắn có thể làm được, Josh ạ,” Ed vừa nói vừa tháo đồng hồ trên cổ tay anh ta. “Chúng tôi sẽ cho anh một phút chuẩn bị để anh quyết định xem sẽ uống bia trước khi ghi nhớ, hay vừa uống vừa ghi nhớ. Nhưng cho anh biết trước một chuyện nhé, có người từng thử ghi nhớ bốn chín chữ số, sau đó uống hai vại bia ngay trước khi đọc lại những con số, và giờ này anh ta vẫn chưa phải thành viên của KL7.” Anh ta nhìn đồng hồ. “Chọn cách nào cũng được, đồng hồ sẽ đếm khi tôi nói bắt đầu.”
Một vận động viên trí óc, người không phải là thành viên của KL7, nhưng có mặt trong buổi lễ kết nạp, đã viết nguệch ngoạc bốn chín chữ số lên mặt sau một tấm danh thiếp. Ed hét lên, “Bắt đầu,” và tôi đưa tay lên làm thành cái bịt tai tạm bợ và bắt đầu ghi nhớ: 7... 9... 3... 8... 2... 6... Cứ sau sáu chữ số tôi lại nhấp một ngụm lớn bia. Ngay khi tôi hoàn tất việc khắc hình ảnh của hai chữ số cuối cùng, Ed hô to, “Đếm giờ!” và giật lấy những chữ số khỏi tay tôi.
Tôi buông tay ra, bắt đầu liệt kê các chữ số một cách trôi chảy. Nhưng khi đến điểm cuối trong cung trí nhớ, tôi nhận ra hình ảnh của hai chữ số cuối cùng đã bay hơi. Tôi soát một lượt những cặp số khả dĩ từ 00 đến 99, nhưng không có cặp nào khớp cả. Tôi mở mắt và cầu xin gợi ý. Một khoảng lặng.
“Tôi không qua được, đúng không?”
“Không, tôi rất tiếc, bốn bảy chữ số sẽ không đủ,” Ed trịnh trọng tuyên bố với những thành viên có mặt. Anh ta quay lại nói với tôi. “Tôi thật sự rất tiếc.”
“Đừng lo, lần đầu tôi cũng không thành công,” Gunther bảo, tay vỗ vào vai tôi. “Nghĩa là tôi không được vào KL7 sao?”
Ed mím môi và lắc đầu. Câu trả lời của anh ta nghiêm nghị lạ thường. “Không, Josh ạ. Anh
không phải là thành viên.”
“Làm ơn đi, Ed, anh không thể làm được gì sao?” tôi nài nỉ.
“Tôi e là tình bạn cũng phải theo luật của KL7. Nếu anh muốn trở thành thành viên, anh phải làm lại từ đầu.” Anh ta vẫy tay gọi cô phục vụ. “Hãy tin tôi đi, càng về đêm thì việc trở thành thành viên KL7 càng thêm ấn tượng đấy.”
Một danh sách mới gồm bốn chín chữ số được viết ra, và hai vại bia nữa đổ vào. Lần này, kỳ diệu thay, những hình ảnh của tôi rõ ràng như thể tôi đã dành cả dịp cuối tuần để tạo ra
- và độ tục tĩu tăng gấp đôi. Không như lần thử đầu tiên, lần này tôi thậm chí thừa thời gian để dạo thêm một lượt qua cung trí nhớ. Khi Ed bắt đầu tính giờ, tôi nhắm mắt và đọc ra bốn chín chữ số một cách tự tin, như thể tôi đã tập luyện nhớ chúng cả ngày trời.
Ed đứng dậy đập tay chúc mừng rồi ôm lấy tôi. Nhưng Gunther, đến lúc bấy giờ, cũng như tôi, đã khá say, lại không nhượng bộ. Ông ta cứ khăng khăng còn một rào cản cuối cùng trước khi tôi chính thức được kết nạp vào KL7. “Anh vẫn phải hôn ba lần vào đầu gối một phụ nữ xa lạ,” anh ta nói.
“Đầu gối ư? Ba lần sao? Các anh vừa mới tạo ra luật mới khi chúng ta hành lễ đấy,” tôi phản đối.
“Luật là thế đấy,” anh ta nói.
Ông ta cầm tay tôi kéo vào phòng bên cạnh của quán bar, ở đó ông ta cố giải thích tình huống cho hai phụ nữ Ai-len trung niên đang lặng lẽ thưởng thức rượu. Tôi nhớ hình như đã bảo với một trong hai người họ đừng lo lắng, rằng tình huống này không có gì kỳ lạ cả: Chúng tôi là những nhà vô địch trí nhớ, và đây quả là một vinh dự cho đầu gối của bà ấy. Tôi láng máng nhớ rằng mạch logic ấy không hiệu quả, nhưng Gunther đã nghĩ ra điều gì đó nghe thuyết phục hơn. Làm sao đó rồi cuối cùng tôi cũng quỳ một bên chân xuống hôn vội ba cái lên đầu gối trần của quý bà tội nghiệp nào đó, sau đấy Gunther giơ cánh tay tôi lên cao và tuyên bố tôi đã đáp ứng mọi thách thức, đã vượt qua mọi thử thách, và xứng đáng được gia nhập vào tổ chức cao quý nhất của các vận động viên trí óc. “Chào mừng đến với câu lạc bộ KL7!” ông ta hét lên.
Ký ức của tôi về phần còn lại của tối hôm ấy lúc mờ lúc tỏ. Tôi nhớ đang ngồi cùng Tony Buzan trên ghế trường kỷ, và không ngớt bảo rằng ông ta là “Người,” (người viết hoa), trong khi nháy mắt một cách huênh hoang về phía Ed. Tôi nhớ Ben đã đùa rằng cô phục vụ hẳn nghĩ chúng tôi là một lũ lập dị. Tôi nhớ Ed đã bảo tôi rằng “tình bạn của chúng tôi là một thiên sử thi.”
Nhìn lại cuốn sổ ghi chép vào đêm hôm ấy, có thể thấy rõ trạng trái tinh thần của tôi càng lúc càng mơ hồ. Suốt buổi tối hôm đó, những chữ viết tay của tôi bắt đầu nguệch ngoạc trên trang giấy. Đến bây giờ gần như chẳng đọc ra, dù một trang còn khá rõ: “Ối mẹ ơi!
Mình đã vào KL7! Và mình nghĩ rằng mình đang ở trong nhà vệ sinh nữ.”
Trên trang kế bên của cuốn sổ tay, những chữ viết đột nhiên trở nên rõ ràng, và chuyển sang ngôi nhứ ba. Tôi đã say xỉn quá không viết nổi, và dù sao cũng có quá nhiều trò vui. Tôi đã đưa cuốn sổ tay cho người gần nhất còn tỉnh táo và nhờ cô ấy cố viết cho khách quan. Chả có ý nghĩa gì khi vẫn đóng vai nhà báo nữa.
Sau khi dành phần lớn thời gian của năm đó cho việc cải thiện trí nhớ, tôi quay lại Đại học Bang Florida để dành thêm một ngày rưỡi cho Anders Ericsson và các sinh viên của ông kiểm tra lại, cũng trong chính căn phòng tù túng mà cách đấy gần một năm tôi đã trải qua cuộc kiểm tra trí nhớ toàn diện. Lần này cũng là Tres đang giám sát tôi, cũng loại mic nhỏ gắn sát miệng, tôi làm lại chính những bài kiểm tra ấy và một số bài kiểm tra mới.
Vậy là tôi đã cải thiện trí nhớ của mình ư? Bằng phép đo khách quan, tôi quả đã cải thiện được thứ gì đó. Giới hạn nhớ số của tôi, cái tiêu chuẩn vàng về trí nhớ, đã tăng gấp đôi từ chín lên mười tám. So với bài kiểm tra gần một năm trước, tôi có thể nhớ nhiều câu thơ hơn, nhiều tên người hơn, nhiều mẩu thông tin ngẫu nhiên hơn. Và mấy ngày sau giải vô địch thế giới, tôi đi ăn tối với vài người bạn rồi bắt tàu điện ngầm về nhà, tới lúc đi đến cửa nhà bố mẹ mình, tôi mới nhớ lúc ra đi mình đã lái xe. Tôi không những quên mình để xe ở đâu mà còn quên bẵng là mình có đi xe.
Đó là nan đề: Dù giờ đã biểu diễn được đủ trò với trí nhớ, tôi vẫn mắc cái tật xấu cố hữu là để xe không đúng chỗ và để khóa không đúng chỗ. Thậm chí dù tôi tăng đáng kể sức ghi nhớ với các thông tin có cấu trúc để có thể nhét vào cung trí nhớ, thì hầu hết những gì tôi muốn ghi nhớ trong đời sống hàng ngày lại không phải là sự kiện hay chữ số hay bài thơ hay lá bài hay những số nhị phân. Vâng, tôi có thể ghi nhớ tên của vài chục người tại một bữa tiệc cocktail, và chắc chắn việc đó là hữu ích. Và bạn có thể đưa cho tôi gia phả của một vương triều Anh, hay nhiệm kỳ của các Bộ trưởng Nội vụ Hoa Kỳ, ngày diễn ra cách trận đánh lớn trong Chiến tranh Thế giới thứ II, và tôi có thể học thuộc thông tin đó khá nhanh, và thậm chí giữ lại khá lâu. Những kỹ năng này nếu ở trường trung học thì đúng là của trời cho. Nhưng cuộc đời, dù tốt hay xấu, chẳng mấy giống với trường học.
Khả năng nhớ số của tôi tăng gấp đôi nhưng thì trí nhớ của tôi có thực sự tốt lên gấp đôi so với khi tôi bắt đầu rèn luyện trí nhớ không? Tôi ước mình có thể nói như vậy. Song sự thật là, không phải. Khi được yêu cầu nhớ những vết mực ngẫu nhiên, hay nhớ một loại những mẫu vải màu, hay nhớ việc dọn cỏ đường vào hầm nhà bố mẹ, thì tôi cũng không khá hơn người bình thường. Trí nhớ của tôi vẫn bị giới hạn bởi số bảy ma thuật như mọi người khác. Bất cứ thông tin nào không thể dễ dàng chuyển thành hình ảnh và để vào cung trí nhớ thì vẫn khó nhớ với tôi như thường. Tôi đã nâng cấp phần mềm trí nhớ của mình, nhưng phần cứng thì dường như về cơ bản không thay đổi.
Nhưng rõ ràng tôi đã thay đổi. Hay ít nhất tôi đã thay đổi cách suy nghĩ về bản thân. Bài học quan trọng nhất tôi rút ra từ một năm luyện thi trí nhớ không phải là cái bí quyết học thuộc thơ, mà điều gì đó phổ quát hơn, và ở một khía cạnh nào đó, có thể phục vụ đời sống của tôi. Trải nghiệm của tôi đã chứng minh tính hợp lý của quan niệm xa xưa rằng thực hành sẽ làm nên sự hoàn thiện. Nhưng đó phải là sự thực hành đúng cách, có tập trung, tự nhận thức, và thực hành có chủ ý. Tôi đã tự nhận ra rằng với sự tập trung, động lực, và trên hết, thời gian, thì có thể rèn luyện trí óc để làm những điều phi thường.
Khi đã làm xong bài kiểm tra, tôi hỏi Ericsson liệu ông có nghĩ bất kỳ ai bỏ ra lượng thời gian như tôi cũng có thể cải thiện trí nhớ của anh ta ở mức như tôi đã có không.
“Tôi nghĩ rằng chỉ với một dữ liệu duy nhất như thế này thì không biết được,” ông bảo tôi. “Nhưng thật hiếm có người nào tận tụy như anh, và thái độ sẵn sàng nhận lấy thử thách khiến anh khác biệt. Anh rõ ràng không phải một người tầm thường, song mặt khác, tôi không chắc chuyện anh làm là ngoài tầm với của một sinh viên có động lực khác.”
Khi tôi khởi đầu hành trình này, vào một năm trước, lúc đang đứng cuối khán phòng trong tòa nhà Con Edison, tay cầm sổ ghi chép, tôi không biết chuyện sẽ đi đến đâu, hoàn toàn không biết nó sẽ tác động đến cuộc sống của tôi thế nào, hay rốt cuộc nó sẽ thay đổi cuộc sống của tôi ra sao. Nhưng sau khi học được cách ghi nhớ thơ ca và những con số, lá bài và tiểu sử, tôi tin rằng ghi nhớ được nhiều hơn là lợi ích rõ ràng nhất của nhiều tháng tập luyện trí nhớ. Song song với việc ghi nhớ, điều tôi thực sự rèn luyện cho bộ não là khiến nó trở nên lưu tâm hơn, biết để ý đến thế giới xung quanh. Bạn chỉ có thể ghi nhớ nếu bạn quyết tâm chú ý.
Vấn đề đã hành hạ S và nhân vật hư cấu Funes là việc mất khả năng phân biệt giữa những chi tiết đáng bận tâm và không đáng bận tâm. Sự ghi nhớ bắt buộc của họ rõ ràng là bệnh lý, nhưng tôi không khỏi tưởng tượng rằng trải nghiệm của họ với thế giới cũng chắc chắn là phong phú hơn. Không ai muốn hướng chú ý vào những chi tiết tầm thường, song ngay cả việc cái chi tiết tầm thường ấy xảy ra trên đời cũng như nỗ lực để ghi nhận nó cũng có giá trị đáng nói - dù chỉ là khi cố ghi nhận nó, người ta hình thành thói quen chú ý và trân trọng.
Tôi thừa nhận rằng chưa khi nào tôi giỏi việc lấp đầy cung trí nhớ đến mức cảm thấy thoải mái vứt đi máy ghi âm và cuốn sổ tay. Và do công việc đòi hỏi phải biết mỗi thứ một ít, tôi phải đọc quá nhiều, chỉ đôi lúc mới áp dụng được lối đọc tập trung cao độ và ghi nhớ như Ed rao giảng. Dù nhờ kỹ thuật trí nhớ, tôi đã ghi nhớ được dăm ba bài thơ, song tôi vẫn không chinh phục nổi một tác phẩm văn chương nào dài hơn “Tình ca của J. Alfred Prufrock.” Thậm chí một khi đã đạt đến cấp độ có thể ghi nhớ trên ba mươi chữ số trong một phút, tôi thỉnh thoảng tôi mới dùng kỹ thuật này để ghi nhớ số điện thoại của những người mà tôi muốn gọi điện. Tôi thấy việc lưu những số đó vào máy di động là quá đơn giản. Thỉnh thoảng, tôi ghi nhớ những danh sách đồ cần mua, những chỉ dẫn, hay việc cần làm, nhưng chỉ trong tình huống hiếm hoi khi không có sẵn bút để ghi chúng lại. Không phải những kỹ thuật này không tác dụng. Tôi là bằng chứng sống về tác dụng của chúng. Vấn đề là khó tìm thấy cơ hội dùng chúng trong thế giới thực mà những giấy, máy tính, điện thoại di động, và giấy nhắc Post-it đã thay tôi nhiệm vụ ghi nhớ.
Vậy tại sao phải đầu tư cho trí nhớ khi chúng ta đang ở thời đại bộ nhớ ngoại hóa? Câu trả lời thỏa đáng nhất tôi có thể đưa ra là câu trả lời mà tôi vô tình nhận được từ EP, người mà bị mất trí nhớ hoàn toàn đến mức ông không thể định vị mình trong không gian và thời gian, hay trong mối quan hệ với người khác. Đó là: Cách chúng ta nhận thức thế giới và cách chúng ta hành xử chính là sản phẩm của việc chúng ta ghi nhớ cái gì và như thế nào. Chúng ta một khối những thói quen do trí nhớ định hình. Và chúng ta kiểm soát cuộc sống của mình bằng cách dần thay đổi những thói quen đó, nghĩa là thay đổi mạng lưới trí nhớ. Không một câu đùa nào, sáng tạo nào, hiểu biết nào, hay tác phẩm nghệ thuật nào được sản xuất bởi bộ nhớ ngoài. Không, ít nhất là chưa. Khả năng nhận ra sự hài hước trong thế giới, khả năng liên hệ giữa những khái niệm trước đó không liên hệ với nhau, khả năng tạo ra những ý tưởng mới, và khả năng chia sẻ trong một nền văn hóa chung: tất cả những hành vi cơ bản của con người này đều lệ thuộc vào trí nhớ. Một ngày nào đấy trong tương lai xa xôi như Gordon Bell dự đoán, khi bộ nhớ trong và bộ nhớ ngoài của chúng ta hợp nhất hoàn toàn, chúng ta có thể sẽ sở hữu kho tri thức vô hạn. Nhưng điều đó không đồng nhất với trí khôn. Hơn bao giờ hết, lúc này đây, khi vai trò của trí nhớ
trong nền văn hóa bị xói mòn nhanh hơn trước, chúng ta cần nuôi dưỡng trí nhớ trong bộ não, cái trí nhớ tạo nên chúng ta là ai, cái trí nhớ tạo nên giá trị và nguồn gốc của tính cách chúng ta. Tranh đua nhau để xem ai có thể nhớ nhiều trang những bài thơ hạng hai hơn có vẻ không phải là việc quan trọng, song đấy chính là điều quan trọng. Đó chính là điều Ed đã cố truyền đạt cho tôi ngay từ đầu: rèn luyện trí nhớ không phải là để thực hiện trò lạ mua vui ở chỗ tiệc tùng; mà là để nuôi dưỡng điều gì đó có tính nhân văn căn bản và sâu sắc.
Trước khi cuộc vui của KL7 chuyển sang chơi trò cờ tưởng ai tham gia cũng được và mọi người thi nhau lè nhè đọc lại bài thơ ngày hôm trước, thì Gunther dồn tôi xuống ghế trường kỷ và hỏi liệu tôi sẽ tiếp tục thi đấu ở giải trí nhớ không. Tôi bảo ông ta rằng phần không nhỏ trong tôi rất muốn thế. Cuộc chơi này không chỉ kích thích lạ lùng đến không ngờ, mà mà còn gây nghiện nữa. Tối hôm đó, tôi có thể hình dung ra điều mà tôi chưa bao giờ tính tới: khả năng lậm sâu hơn vào trò này. Dù gì, tôi cũng đã giành được chức vô địch Mỹ và lập một kỷ lục nhớ bài nhanh, và tôi chắc mình có thể vượt qua cái rào cản một phút trong môn nhớ bài, nếu dành nhiều thời gian hơn. Đấy là chưa kể đến những ngày tháng lịch sử: Tôi có thể đạt thành tích tốt hơn nhiều trong phần nhớ ngày tháng lịch sử! Và còn đó tiêu chuẩn đại kiện tướng mà tôi bỏ lỡ. “Cái danh hiệu Đại kiện tướng Trí nhớ mà để trên danh thiếp sẽ hay lắm đấy,” tôi đùa với Gunther (ông ta quả có in nó lên danh thiếp). Tôi hẳn đã đưa vào cung trí nhớ của mình những hình ảnh tôi đang tưởng tượng: hệ thống thiên niên kỷ tôi sẽ phát triển, những tấm che mắt tôi sẽ mua, hàng giờ tập luyện mà tôi sẽ đầu tư, lịch di chuyển máy bay đến dự các giải vô địch quốc gia trên thế giới. Dù có như vậy, ngay thời khắc tôi được mời vào chốn linh thiêng nhất của cộng đồng trí nhớ, thì tôi cũng đủ tỉnh táo để nhận ra rằng đã đến lúc dừng lại. Thí nghiệm của tôi đã kết thúc. Kết quả đã có. Tôi bảo Gunther là tôi sẽ nhớ nó đấy, nhưng tôi không nghĩ mình sẽ quay lại năm sau.
“Chán quá,” ông ta nói, “nhưng tôi hiểu. Nếu tiếp tục là phải luyện tập nhiều hơn, và lúc này anh sẽ biết đầu tư thời gian hiệu quả hơn nhiều.” Ông ta đã đúng, tôi nghĩ. Tôi tự hỏi tại sao bản thân ông ta không bao giờ biến điều đó thành hiện thực.
Ed đứng dậy và nâng cốc mừng tôi, người học trò ngôi sao của anh ta. “Chúng ta đi kiếm bánh vòng nào,” anh ta nói, chúng tôi cùng ra khỏi cửa. Tôi không nhớ gì phần còn lại tối hôm ấy. Sáng hôm sau tôi tỉnh dậy, trên má có một vòng tròn lớn màu đỏ - tấm huy chương đồng ở phần thi tên-người-khuôn-mặt đã hằn dấu lên. Tôi đã quên tháo nó ra.
HẾT
Tủ sách BOOKBT #300 07/08/2017
Chú thích
[1] Royal flush: một dây bài đồng chất trong môn poker (xì tố).
[2] Cờ tưởng hay cờ mù (Blindfold chess) là một nội dung thi đấu đặc thù của môn cờ vua trong đó hai đấu thủ chơi cờ bằng tâm trí, không có bàn cờ hoặc các con cờ trên bàn cờ. Đây là một hình thức thi đấu cờ phổ biến trên thế giới.
[3] Sau chiến tranh thế giới thứ II, ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước phương Tây, xảy ra tình trạng tăng vọt về dân số. Người ta hay gọi thời kỳ này là Baby Boom.
[4] Yawn: ngáp; Ulcer: nhọt; Aisle: lối đi.
[5] Trong tiếng Anh, Josh nghĩa là bỡn cợt; còn Foer đọc lên nghe giống four, số 4.
[6] Baker tiếng Anh cũng có nghĩa là thợ làm bánh.
[7] Peter Pan: Nhân vật trong tiểu thuyết của J.M. Barrie. Cậu bé Peter Pan ham vui chơi và không muốn trưởng thành.
[8] Theo thứ tự: đùa bỡn, mềm mại, càu nhàu.
[9] Loài sinh vật trong thần thoại có thân hình của người và đầu của chó hay chó sói.
[10] Ed dùng chữ peat-smoked salmon là món cá hồi xông khói than bùn. Còn Foer (tác giả) dùng từ lox, cũng chỉ món cá hồi xông khói.
[11] Merlot: Rượu vang đỏ, làm từ nho trồng ở miền nam nước Pháp; Sauvignon blanc: Rượu vang trắng, làm từ nho trồng miền trung và tây nam nước Pháp; Chardonnay: Rượu vang trắng, làm từ nho trồng ở vùng Burgundy, nước Pháp; Gewurztramnier: Rượu vang trắng, làm từ nho trồng ở vùng Alsace, nước Đức; Riesling: một loại vang trắng của Đức.
[12] Tiếng Anh: she-male (người chuyển đổi giới tính nam thành nữ), đọc lên nghe giống e- mail.
[13] Những từ do Lewis Carroll sáng tạo ra trong bài thơ Jabberwocky.
[14] Scrabble: Trò chơi ghép chữ, người chơi dùng các thẻ chữ cái đặt lên bàn ô vuông theo hàng dọc hoặc hàng ngang để tạo ra các từ có nghĩa.
[15] Miserare: từ này không rõ nghĩa. Có thể Buzan lấy cảm hứng từ Bài thánh ca số 51 của tác giả người Ý Gregorio Allegi, tựa đề Miserere, hay Miserere mei, Deus nghĩa là Xin Chúa mở lòng từ bi với con.
[16] Rawa là một thành phố ở Iraq. Người dân ở thành phố này được gọi là người Rawi.
[17] Đoạn trên có nghĩa: AS YOU CAN SEE IT’S NOT VERY EASY TO READ TEXT WRITTEN WITHOUT SPACES OR PUNCTUATION OF ANY KIND OR EVEN HELPFULLY POSITIONED LINE-BREAKS. AND YET THIS WAS EXACTLY THE FORM OF INSCRIPTION USED IN ANCIENT GREECE (Bạn thấy đấy, chẳng dễ gì đọc đoạn văn không hề có bất kỳ dấu cách hay dấu câu nào, hay thậm chí là những chỗ cách dòng hữu ích. Ấy nhưng đây chính là cách ghi chép vào thời Hy Lạp cổ đại.)
[18] Hai câu này có nghĩa: (Bị) ngạt mũi làm giảm khả năng ngửi rượu; và Những trò hắn biết khiến hắn liếm cô ả. Trong tiếng Anh, hai câu này đọc lên nghe giống nhau.
[19] Johannes Gutenberg (1395-1468), người Đức, đã phát minh ra máy in khởi đầu cuộc cách mạng in ấn.
[20] Frank Lloyd Wright (1867-1959), kiến trúc sư người Mỹ, có ảnh hưởng lớn đến nền kiến trúc Mỹ trong thế kỷ 20.
[21] Chứng bệnh gây suy yếu và phá hủy thần kinh vận động.
[22] Một loại vải do người Akan ở châu Phi làm ra, giống thổ cẩm ở Việt Nam.
[23] “Tìm kiếm” ở đây được hiểu là tìm trong trí nhớ.
[24] Một dạng tài liệu hướng dẫn học tập, chủ yếu dùng ở Mỹ.
[25] Gettysburg Address: là bài diễn văn do Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đọc tại Nghĩa trang Quốc gia Gettysburg, bang Pennsylvania năm 1863. Chữ address cũng có nghĩa là địa chỉ.
[26] Laurence Kerr Olivier (1907-1989), diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất phim người Anh; Joshep Ryduard Kipling (1865-1936): nhà thơ, nhà văn Anh, nổi tiếng qua những bài thơ viết về quân lính Anh ở Ấn độ và những truyện cổ tích viết cho trẻ em.
[27] Narrow savant. Trang wikipedia dẫn lời nhà tâm lý học Darold Treffert rằng các kỳ nhân có trí nhớ rất sâu nhưng cực kỳ hạn hẹp (narrow). Hạn hẹp hiểu theo nghĩa họ có trí nhớ tuyệt vời nhưng rất khó sử dụng chúng.
[28] Tương đương với bằng tốt nghiệp Trung học Cơ sở.
[29] Mental anguish: giày vò trí óc.
[30] Elles Lee DeGeneres, người Mỹ, là diễn viên, dẫn chương trình truyền hình, và người độc tấu hài (stand up comedian). Bà là người dẫn chương trình mang tên The Elles DeGeneres Talk show.
Chương XI - Giải Vô địch Trí nhớ Hoa Kỳ
Chương mười một - Giải Vô địch Trí nhớ Hoa Kỳ
giải Vô địch Trí nhớ Hoa Kỳ năm 2006 có một phần thi mới, phần thi trước đấy chưa hề xuất hiện trong lịch sử các cuộc thi trí nhớ. Nó được gán cho tên gọi vang chan chát là “Ba lần sai là rời tiệc trà” để làm hài lòng những nhà sản xuất HDNet và mạng truyền hình cáp lần đầu tiên đưa giải lên sóng truyền hình quốc gia. Năm người lạ trong vai những vị khách tại một tiệc trà, sẽ bước lên sân khấu và nói với các thí sinh mười thông tin về bản thân - địa chỉ, số điện thoại, sở thích, ngày sinh, đồ ăn ưa thích, tên con vật nuôi, mẫu xe ô tô và nhà sản xuất, v.v... Đây là phần thi sát nhất với những đòi hỏi cuộc sống từng được đưa vào trong một giải đấu trí nhớ. Tôi không biết sẽ chuẩn bị như thế nào, và mãi đến khoảng một tháng rưỡi trước giải đấu, tôi mới nghĩ tới nó; ấy là vào hai buổi tối khi Ed và tôi trao đổi qua cuộc điện thoại xuyên Đại Tây Dương nhằm sáng tạo ra một hệ thống sẽ cho phép tôi lưu giữ những thông tin cá nhân ấy một cách nhanh chóng và dễ dàng trong một cung trí nhớ được thiết kế đặc biệt dành riêng cho mỗi người lạ.
Tôi đã dựng trong trí tưởng tượng những tòa nhà, mỗi tòa dành cho một khách dự “tiệc trà.” Mỗi tòa nhà xây theo phong cách khác nhau nhưng thiết kế phòng tương tự nhau, gồm một phòng lớn ở giữa và những phòng xung quanh. Cung đầu tiên là một khối nhà kính hiện đại theo kiểu tòa Nhà Kính của Philip Johnson; căn nhà thứ hai là kiểu nhà mái tháp thời nữ hoàng Anne mà bạn có thể thấy khắp San Francisco, với nhiều nét trang trí rườm rà phô trương; ngôi nhà thứ ba xây theo phong cách Frank Gehry, với tường gợn sóng bọc titan và những cửa sổ cong; thứ tư là loại nhà gạch đỏ của Thomas Jefferson, Monticello; và ngôi nhà thứ năm không có gì đặc biệt, ngoại trừ tất cả các bức tường đều sơn màu xanh dương nhạt. Phần bếp mỗi ngôi nhà là nơi lưu địa chỉ. Phòng làm việc sẽ giữ số điện thoại. Phòng ngủ lớn là nơi để sở thích, và phòng tắm là cho ngày sinh, v.v...
Ba tuần trước giải, sau khi xem điểm số tôi gửi cho anh ta, Ed gọi điện bảo tôi cần ngưng luyện mọi phần thi khác để tập trung cho phần tiệc trà. Tôi tập hợp bạn bè và gia đình rồi bảo họ bịa ra các thông tin tiểu sử để tôi ghi nhớ trong những cung trí nhớ mới mà tôi đã cần mẫn tạo riêng ra. Thêm vài buổi ăn tối thiếu phần lãng mạn với bạn gái tôi, để cô ấy mặc sức tưởng tượng rồi kể tôi nghe những câu chuyện về cuộc đời cô ấy, là thôn nữ ở Nebraska hay một bà nội trợ vùng ngoại ô hay cô thợ may Paris, và tôi sẽ đọc lại cho cô ấy nghe lúc ăn tráng miệng.
Một tuần trước giải, ngay khi tôi muốn rèn luyện cật lực nhất, thì Ed bảo tôi phải dừng lại. Các vận động viên trí óc luôn ngưng việc rèn luyện một tuần trước khi giải đấu để dọn sạch các cung trí nhớ. Họ đi qua các cung giũ bỏ những hình ảnh còn vương vất, bởi vì giữa lúc thi đấu nước sôi lửa bỏng, bạn sẽ không bao giờ muốn tình cờ nhớ ra điều gì đó vừa ghi nhớ tuần trước. “Một số thí sinh, khi đạt đến đẳng cấp cao thực sự, còn không nói chuyện gì với ai trong ba ngày trước giải đấu,” Tony Buzan bảo tôi. “Họ cảm thấy rằng bất kỳ mối liên hệ nào đi vào đầu họ cũng có thể ảnh hưởng tới những mối liên hệ họ tạo ra trong cuộc thi.”
Đến lúc bấy giờ, theo kế hoạch Ed sẽ có mặt trên khán đài giải Vô địch Mỹ. Nhưng ngay trước khi giải đấu diễn ra, anh ta lại sang đại học Sydney, Úc nhân cơ hội có một không hai là nghiên cứu triết học về vấn đề hiện tượng học trong môn thể thao cricket. (Anh ta tin rằng so với những chuyên gia giới tính gà hay đại kiện tướng cờ vua, môn thể thao cho
anh có những ví dụ minh họa rõ ràng hơn để minh chứng cho công trình của anh ta rằng nhận thức con người về thế giới chịu ảnh hưởng rất mạnh của trí nhớ.) Thế là bỗng nhiên chuyện anh ta đến dự giải thành ra chẳng có gì chắc chắn, khi mà chuyến bay từ nửa bán cầu kia giờ trở nên dài hơn và đắt đỏ hơn.“Có cách nào làm cậu bớt bực vì chuyện có khả năng tôi vắng mặt không?” anh ta e-mail hỏi tôi vài ngày trước cuộc thi. Tôi cảm thấy lo sợ nhiều hơn là bực bội. Dù tôi có bảo mọi người rằng tôi chỉ do chợt thấy hứng thú mà tham gia cuộc thi đấy thôi - “một cách kỳ quặc để tiêu tốn thì giờ buổi sáng cuối tuần”, tôi nói đùa thế với người bạn về “cuộc chơi lập dị” này chỉ để che giấu sự thật là tôi muốn giành chiến thắng đến chết đi được.
Vào phút chót, Ed quyết định ở lại Úc, nghĩa là còn mỗi mình tôi lo nghĩ về những đấu thủ khác, phỏng đoán trong năm qua họ đã luyện tập kham khổ ra sao, và băn khoăn liệu có ai đó sẽ làm chúng tôi ngạc nhiên bằng cách công bố một kỹ thuật mới sẽ đưa môn thể thao này đến một cấp độ mà tôi chẳng thể đạt tới không. Tham gia cuộc thi lần này có Ram Kolli, đương kim vô địch lúc nào cũng hoan hỉ và vô tâm, người mà tôi biết là có tài bẩm sinh nhất trong nhóm. Nếu anh ta quyết tâm rèn luyện kham khổ như người châu Âu thì chúng tôi sẽ chẳng có cơ hội nào. Nhưng tôi đồ rằng anh ta chẳng có kỹ thuật mới nào hết. Người khiến tôi dè chừng nhất là Maurice Stoll. Nếu ai bỏ thời gian để phát triển một hệ thống PAO thiên niên kỷ như Ed, hay một hệ thống 2.704 hình ảnh như Ben, thì nhiều khả năng người đó là Maurice.
Buổi tối trước giải đấu, Ed gửi e-mail cho tôi với lời khuyên cuối cùng: “Anh chỉ cần nhấm nháp những hình ảnh, và thực sự tận hưởng chúng. Chừng nào anh còn làm chính mình bất ngờ với tính sống động của chúng thì anh sẽ thi đấu tốt. Dù ở bất kỳ giai đoạn nào cũng chớ nên lo lắng. Cứ thoải mái, mặc kệ các đối thủ mà vui vẻ đi. Tôi tự hào về anh rồi đấy. Và hãy nhớ, các cô nàng đào xới những vết thương còn vinh quang là vĩnh viễn.”
Đêm hôm đó, lúc nằm trên giường, ngược xuôi diễu qua từng cung trí nhớ của mình trong nỗi ám ảnh, nơm nớp lo về Maurice. Tôi không tài nào ngủ được, đúng y như tình trạng của Maurice tại giải năm trước, chuyện này đối với vận động viên trí óc cũng như cầu thủ “bị gãy chân trước trận bóng.”
Rồi đến chừng ba giờ, nhờ mấy viên Tylenol PM tôi cũng thiếp đi được, và gặp cơn ác mộng kinh hoàng trong đó Danny DeVito và Rhea Perlman, quân K pích và Q pích của tôi, đang cưỡi trên một con ngựa, tức quân bảy pích, đi quanh bãi đỗ xe hàng tiếng đồng hồ, vô vọng tìm nơi để đỗ con xe Lamborghini Countach, quân J cơ. Cuối cùng, họ và con ngựa tan ra thành nhựa đường, trong khi Maurice Stoll đứng nhìn cùng tiếng cười lục khục nham hiểm của bác sĩ Mengele. Bốn tiếng sau tôi thức giấc, lờ đờ và mụ mị, và vô tình gội đầu tận hai lượt - một điềm báo xấu, nếu quả có điềm báo thật.
Khi tôi ra khỏi thang máy trên tầng mười chín trụ sở Con Edison, người đầu tiên tôi đụng phải là Ben Pridmore. Anh ta đã từ Anh bay sang vào dịp cuối tuần chỉ để thám thính đấu trường Mỹ. Tại sân bay Manchester, anh ta đã vung tiền nâng lên ghế hạng nhất vào phút chót. “Tôi còn biết tiêu tiền vào việc gì khác đây?” anh ta hỏi tôi. Tôi nhìn xuống đôi giày da cóc gặm với dây giày muốn tuột ra của anh ta và đáp: “Nói hay lắm.”.
“Phần thi đầu tiên còn chưa bắt đầu, thế mà tôi đã hoang mang rồi,” tôi bảo Ben. Tôi giải thích về cơn mất ngủ và vụ gội đầu tận hai lần, và anh ta cho rằng tôi dùng thuốc ngủ là lợi bất cập hại, anh ta bảo, mấy thứ dược chất trong thuốc hẳn vẫn còn bơi lội trong huyết quản tôi.
Tôi nốc hai cốc lớn cà phê, và thật tình thấy bồn chồn hơn là mỏi mệt. Chủ yếu là tôi cảm thấy ngu ngốc vì đã hành hạ vũ khí cần có để thi đấu. Lúc này, Maurice đi vào, đội chiếc mũ phớt có logo đội bóng chày Texas A&M Aggies và mặc áo sơ mi hoa hòe hoa sói, trông vênh váo hơn nhiều so với năm ngoái. Tự tin đến phát sợ. Từ bên kia phòng, anh ta nhận ra tôi và bước thẳng đến bắt tay, rồi tự giới thiệu với huyền thoại Ben Pridmore.
“Anh đã quay lại,” Maurice bảo tôi. Đó là một lời xác nhận chứ không phải câu hỏi. Đúng ra tôi định lẳng lặng đến gần và làm Maurice ngạc nhiên, nhưng xem ra anh ta đã biết tôi sẽ tham dự từ trước. Hẳn ai đó đã cho anh ta biết rằng tôi đã tập luyện cùng Ed Cooke.
“Vâng, tôi nghĩ là tôi sẽ thử thi đấu năm nay xem sao,” tôi nói vẻ hờ hững, và chỉ vào biển tên của mình, trên đó viết “Joshua Foer, Vận động viên trí óc.”
“Như một trải nghiệm báo chí thôi.”
Tôi hỏi, “Năm nay vụ nhớ các con số của anh thế nào?” tôi đang thăm dò xem anh ta đã nâng cấp hệ thống chưa.
“Tốt lắm. Còn anh?”
“Tốt. Phần thi nhớ quân bài thế nào?” “Không tồi. Anh?”
“Tôi sẽ chắc sẽ ổn ở phần nhớ quân bài,” tôi nói. “Anh vẫn dùng hệ thống như năm ngoái
à?”
Anh ta nhún vai, không đáp, và hỏi tôi, “Hôm qua anh ngủ thế nào?” “Sao cơ?”
“Hôm qua anh ngủ thế nào?”
Sao anh ta hỏi tôi vậy? Sao anh ta biết tôi mất ngủ? Maurice định chơi trò gì đây? “Anh nhớ không, năm ngoái tôi có ngủ ngon đâu,” anh ta nói tiếp.
“Vâng, tôi nhớ rồi. Còn năm nay?” “Năm nay, tôi ngủ cũng được.”
“Josh phải dùng đến thuốc ngủ đấy,” Ben sốt sắng nói.
“Vâng, à, toàn giả dược ấy mà, đâu có tác dụng gì thật, đúng không?”
“Có lần trong lúc tập luyện tôi đã cố dùng thuốc ngủ, và sáng hôm sau trong lúc ghi nhớ những con số tôi lại thấy buồn ngủ,” Maurice nói. “Anh biết đấy, thiếu ngủ là kẻ thù của trí nhớ.”
“Ồ.”
“Dù sao thì cũng chúc anh may mắn.”
“Vâng, cũng chúc anh may mắn.”
Điểm mới ở năm nay là cả rừng máy quay truyền hình lượn lờ vo ve khắp phòng và những người bình luận trực tiếp - người dẫn chương trình kỳ cựu chương trình đấm bốc Kenny Rice, và người cùng tham gia bình luận, bốn lần vô địch Mỹ Scott Hagwood - ngồi ngay trước khán đài. Sự hiện diện của họ tạo cho cuộc thi không khí một bộ phim tài liệu không thực. Có phải tôi vừa nghe Rice mô tả các thí sinh là đã “đưa năng lực trí óc lên một tầm cao mới” không nhỉ?
Ở các giải quốc tế tôi đã đến xem, vào những giây phút trước trận đấu, các đấu thủ ngồi riêng rẽ, đeo đôi bịt tai hoặc tập tành để khởi động bộ não, còn ở đây các thí sinh ở giải Mỹ lại loanh quanh đi lại chuyện trò, như thể họ sắp đi đo mắt chứ chẳng thi thố gì cả. Tôi lui vào một góc, nhét cái bịt tai vào, và cố tẩy sạch đầu óc như một chuyên gia trí nhớ Âu châu thực sự.
Tony Dottino, một nhân viên tư vấn quản trị doanh nghiệp, năm mươi tám tuổi, người mảnh khảnh, tóc ánh bạc, để ria mép, đang đứng trước khán phòng để giới thiệu cuộc thi. Dottino đã sáng lập giải Vô địch Trí nhớ Mỹ vào năm 1997, và từ bấy đến nay đã tổ chức giải được mười ba lần. Ông là một trong những môn đệ người Mỹ của Tony Buzan. Dottino kiếm sống bằng việc tư vấn các công ty như IBM, British Airways, và Con Edison (vậy nên đây là nơi tổ chức giải chẳng ai ngờ tới) để người lao động ở đấy sử dụng các kỹ thuật ghi nhớ sao cho công việc hiệu quả hơn.
“Các bạn chính là những người cho người dân đất nước này biết rằng trí nhớ không phải dành cho kẻ lập dị,” ông tuyên bố với đám người lập dị đang tụ hội trước mặt. “Các bạn sẽ là hình mẫu mọi người sẽ noi theo. Nếu nói tới chuyện viết nên trang sử cho giải đấu này, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ con mà thôi. Chính các bạn” - ông dùng cả hai ngón tay trỏ chỉ vào chúng tôi - “mới đang viết những trang sử đó.” Tôi chẳng muốn nghe gì thêm những gì ông ta nói, tôi chụp nút tai, và dạo một lượt cuối cùng qua từng cung trí nhớ. Tôi đang kiểm tra, như Ed đã dạy tôi, để đảm bảo mọi cánh cửa sổ đã mở ra cho ánh chiều rực rỡ tràn vào, để những hình ảnh của tôi sẽ rõ nét nhất.
Những người góp phần “viết nên lịch sử” là ba mươi sáu vận động viên trí óc đến từ mười bang khác nhau, trong đó gồm một mục sư phái Luther người Wisconsin, tên là T. Michael Harty, khoảng sáu đứa trẻ thuộc nhóm Một phần mười là nhân tài của Raemon Matthew, và một huấn luyện viên trí nhớ chuyên nghiệp bốn mươi bảy tuổi người Richmond, Virginia, tên Paul Mellor, ông tham gia các cuộc marathon ở cả năm mươi bang và mới tuần trước đây đã ở New Jersey để dạy các cảnh sát ghi nhớ biển số xe.
Ở dãy bàn phía sau mới là những tay sừng sỏ. Đây là những người mà Dottino đã dự đoán sẽ chạy đua giành danh hiệu. Tôi thật hân hạnh được liệt vào trong nhóm ấy, dẫu phải ngồi ghế cuối hàng. (Ở giải năm trước Dottino và tôi đã nói chuyện vài lần, và tôi vẫn cập nhật điểm số của tôi cho ông ta, nên ông ta biết tôi có cơ hội chiến thắng). Trong nhóm này còn có một kỹ sư phần mềm, ba sáu tuổi, người San Francisco, tên Chester Santos, mang bí danh “Người Băng,” chẳng hợp gì với cách ăn nói dịu dàng và bẽn lẽn của anh ta cả. Năm ngoái anh ta đứng thứ ba. Tôi rất ngờ là Chester không ưa tôi lắm. Sau khi tôi đã viết bài báo đầu tiên cho báo Slate nói về giải vô địch Mỹ năm trước, tôi đã nhận được một e-mail mà anh ta đã gửi cho Tony Dottino. Trong thư, Chester kêu ca rằng bài báo của tôi đúng là “KINH HOÀNG” vì tôi đã khiến cho Lukas và Ed “nghe có vẻ hay ho lắm,” trong khi các vận động viên Mỹ được mô tả như “những kẻ lười biếng và nghiệp dư toàn tập.” Giờ đây, chỉ sau một năm luyện tập, tôi lại trơ tráo đi đối mặt với anh ta, thật chẳng còn gì xúc phạm hơn.
Ở ngoài biên, tôi nghe Kenny Rice nói, “Hẳn là đáng gờm, như một kẻ nghiệp dư chấp nhận đấu tay đôi với LeBron James.” Tôi nhận ra ông ấy đang nói về tôi.
Dù ở các giải vô địch trí nhớ quốc gia khác trên thế giới, các môn thi đấu được thiết kế theo gần như cùng một chuẩn, với những luật thi đấu chuẩn do Hội đồng Thể thao Trí nhớ Thế giới ban hành, thì nước Mỹ mọi thứ có hơi khác. Trong các giải quốc tế, khi kết thúc giải đấu, điểm số của từng đấu thủ được cộng lại để xác định người thắng, còn giải Mỹ lại khác một chút: vòng sơ loại buổi sáng gồm bốn phần thi cổ điển dùng giấy và bút - tên người và khuôn mặt, nhớ số nhanh, nhớ bài nhanh, và nhớ thơ - để chọn ra sáu người vào chung kết. Buổi chiều, sáu người vào chung kết sẽ tranh tài ở ba phần thi “đấu loại” độc đáo, phù hợp với việc phát lên truyền hình là “Những từ phải nhớ,”
“Ba lần sai là rời tiệc trà,” và “Bắt hai cỗ bài,” những phần thi này sẽ cắt tỉa dần các thí sinh cho tới khi chỉ còn lại duy nhất nhà vô địch.
Phần thi đầu tiên của buổi sáng là tên người khuôn mặt, phần tôi luôn làm rất tốt khi luyện tập. Luật chơi là nhìn vào chín mươi chín hình chụp chân dung và ghi nhớ tên, họ tương ứng với mỗi khuôn mặt. Thí sinh ghi nhớ bằng cách tưởng tượng ra từng hình ảnh khó quên để liên hệ đến khuôn mặt với cái tên. Ví dụ, Edward Bedford là một trong chín mươi chín cái tên mà chúng tôi phải ghi nhớ. Anh ta là người da đen, có chòm râu dê, đầu bắt đầu hói, đeo kính mát và đeo khuyên bên tai trái. Để kết nối khuôn mặt đó với cái tên đó, tôi cố hình dung Edward Bedford đang nằm trên giường (bed) của một chiếc xe tải Ford, rồi nhận định như vậy chưa đủ nổi bật, tôi thấy anh ta đang lội (fording) qua một dòng sông trên một chiếc giường (bed) nổi. Để ghi nhớ tên anh ta là Edward, tôi đặt Edward Scissorhands trên giường cạnh anh ta, đang xén vụn tấm thảm khi anh ta cưỡi tấm thảm qua sông.
Tôi sử dụng một mẹo khác để ghi nhớ Sean Kirk, một gã da trắng để tóc mullet với tóc mai dài và nụ cười méo xệch như nạn nhân đột quỵ. Tôi so sánh anh ta với phóng viên Sean Hannity của hãng Fox News và Thuyền trưởng Kirk của Starship Enterprise (tàu không gian trong bộ phim Star Trek), và vẽ trong đầu tôi hình ảnh ba người họ đang tạo thành một tháp người.
Sau mười lăm phút cho các thí sinh nhìn những tên và khuôn mặt đó, một trọng tài sẽ đến và lấy đi tập ảnh vừa xem rồi đưa cho chúng tôi tập ảnh mới, với những khuôn mặt đó và sắp xếp theo trật tự khác, lần này không kèm theo tên. Chúng tôi có mười lăm phút để nhớ lại càng nhiều càng tốt.
Khi tôi đặt bút xuống và đưa bản kết quả của mình, tôi nghĩ điểm số của mình nằm đâu đó ở giữa nhóm. Những cái tên như Sean Kird và Edward Bedford xuất hiện ngay, nhưng tôi đã quên khuấy mất một cô tóc vàng dễ thương, và một đứa bé con có tên giống tiếng Pháp, và vài người khác, nên khó mà nghĩ tôi làm tốt cả. Ngạc nhiên thay, thành tích 107 họ và tên tôi nhớ được đủ để xếp ở hạng ba, chỉ sau Ram Kolli với thành tích 115, và trước Maurice Stoll, nhớ được 104. Người chiến thắng là một vận động viên bơi lội mười bảy tuổi từ Mechanicsburg, Pennylvania, tên Erin Hope Luley, đã nhớ được 124 họ và tên, một kỷ lục mới của Mỹ, và là một điểm số hẳn sẽ nhận được cái gật đầu kính trọng thậm chí của cả những người Đức giỏi nhất. Khi tên của cô được xướng lên, cô đứng dậy và vẫy tay vẻ ngượng ngùng. Tôi nhìn Ram, và bắt gặp anh ta nhìn tôi. Anh ta nhíu mày như thể muốn nói, “Con bé này ở đâu ra ấy nhỉ?”
Phần thi thứ hai của buổi sáng là nhớ số nhanh, môn thi tôi kém nhất. Đây là môn thi mà sự huấn luyện của Ed chẳng cho tôi mấy lợi thế - vì tôi lờ đi hầu hết mọi lời khuyên thị của Ed. Suốt mấy tháng anh ta thúc giục tôi phát triển một hệ thống phức tạp hơn để nhớ những con số - không hẳn giống Hệ thống PAO Thiên niên kỷ “Chiến hạm 64 khẩu” mà anh ta mất nhiều tháng trời tạo ra, song ít nhất cũng phải hơn Hệ thống Lớn hầu hết các vận động viên người Mỹ khác đang dùng. Tôi chiều theo ý anh ta và phát triển một hệ thống PAO cho năm mươi hai quân bài, nhưng chưa bao giờ bắt tay vào xây dựng hệ thống tương tự cho tất cả các số từ 00 đến 99.
Sử dụng Hệ thống Lớn như các vận động viên trí óc khác, tôi dành năm phút để tập nhớ chín mươi tư chữ số, thành tích an toàn nhưng khá xoàng, ngay cả theo chuẩn Mỹ. Vậy mà tôi vẫn bị nhầm ở cặp số thứ tám mươi tám (thay vì Bill Cosby, lẽ ra tôi nên thấy hình ảnh một gia đình đang chơi môn cờ do Milton Bradley phát minh). Tôi đổ hết lỗi cho Maurice về màn trình diễn nghèo nàn của mình, vì dù đã đeo đôi chụp tai rồi mà tôi vẫn nghe được anh ta cứ gào lên thô lỗ, “Chụp ảnh thế chưa đủ à?” với một gã thợ ảnh cứ lượn lờ quanh phòng. Song, tám mươi bảy chữ số giúp tôi ở vị trí thứ năm. Maurice đã nhớ được 148 số, một kỷ lục mới của Mỹ, và Ram kết thúc ở thứ hai với 124 số. Erin xuống thứ mười một, chỉ nhớ được năm mươi hai chữ số. Tôi đứng lên, duỗi người, và uống cốc cà phê thứ ba. “Người ta gọi họ là MAs, hay mental athletes - vận động viên trí óc,” tôi nghe Kenny Rice nghiêm nghị nói trước máy quay, “nhưng ở thời điểm nay của giải, MA có thể mang nghĩa khác: mental anguish[29].”
Tuy trong phần nhớ số tôi thể hiện kém, nhưng đến phần nhớ bài tiếp theo, tôi là thí sinh duy nhất được trang bị cái Ed gọi là “Vũ khí tối tân nhất của châu Âu.” Hầu hết các vận động viên Mỹ vẫn đặt mỗi lá bài vào một “điểm chứa”, thậm chí những người đã thi đấu nhiều năm như Ram và “Người Băng” Chester, giỏi lắm cũng chỉ hai quân bài thành một hình ảnh. Thực tế, chỉ vài năm trước ở giải vô địch Mỹ, hoàn toàn chưa thấy nhắc đến người nào có thể ghi nhớ cả một cỗ bài. Nhớ Ed mà hệ thống PAO tôi đang dùng gói ghém được ba quân bài vào một hình ảnh, nghĩa là hiệu quả hơn ít nhất năm mươi phần trăm so với hệ thống các vận động viên Mỹ khác sử dụng. Đó là lợi thế khổng lồ. Dù Maurice, Chester, và Ram sẽ hạ tôi những môn khác, tôi hy vọng mình sẽ có thể tăng điểm số ở phần nhớ bài nhanh.
Mỗi thí sinh có riêng một trọng tài cầm đồng hồ bấm giờ ngồi trước mặt. Trọng tài của tôi là một phụ nữ trung tuổi, chị ta ngồi xuống, mỉm cười và nói gì đó tôi không nghe được do đôi chụp tai và cả nút bịt lỗ tai. Tôi đã mang theo cả cặp cặp kính đã bảo hộ đã sơn đen để dùng trong phần thi nhớ bài, và cho đến lúc một cỗ bài mới xáo đặt trên bàn trước mặt tôi, tôi vẫn đang cân nhắc có nên đeo chúng không. Nhiều tuần nay, lúc nào tập luyện tôi cũng đeo nó, và khán phòng Con Edison chắc chắn có rất nhiều yếu tố gây mất tập trung. Nhưng có cả ba máy quay truyền hình lướt khắp phòng. Có một cái chĩa thẳng vào mặt tôi, tôi nghĩ đến tất cả những người quen biết tôi tình cờ ngồi xem buổi phát sóng: những bạn hồi trung học lâu rồi không gặp, những người bạn không biết gì về nỗi ám ảnh của tôi với trí nhớ, bố mẹ bạn gái tôi. Họ sẽ nghĩ sao khi bật tivi lên và thấy tôi đeo cặp kính bảo hộ to đùng, đen xì và đôi bịt tai, tay khẩy một cỗ bài? Cuối cùng, nỗi sợ bị xấu hổ trước công chúng đã lấn át bản năng cạnh tranh, và tôi bỏ cặp kính dưới sàn, ngay cạnh chân.
Ngồi ở đầu phòng, trọng tài chính, một cựu trung sĩ huấn luyện lính thủy quân lục chiến, hét lên, “Bắt đầu!”. Trọng tài của tôi bấm đồng hồ đếm giờ, và tôi bắt đầu lật những lá bài nhanh nhất có thể, mỗi lần chuyển ba lá bài sang tay phải. Tôi đang lưu giữ những hình ảnh đó trong cung trí nhớ tôi hiểu rõ hơn ai hết, ngôi nhà ở Washington, D.C., mà tôi đã sống từ khi lên bốn - cũng chính là căn nhà tôi đã dùng để ghi nhớ danh sách việc cần làm
của Ed khi ở trên tảng đá ở Central Park. Ở cửa chính, tôi thấy bạn tôi Liz đang mổ xẻ một con lợn (hai cơ, hai rô, ba cơ). Trong phòng, gã khổng lồ Hulk cưỡi máy tập xe đạp, và đôi móc khuyên tai to quá cỡ đang thõng xuống dái tai anh ta (ba nhép, bảy rô, J pích). Cạnh tấm gương ở chân cầu thang, Terry Bradshaw đang giữ thăng bằng trên xe đẩy (bảy cơ, chín rô, tám cơ), và ngay sau ông ta, một gã nài ngựa thấp lùn đội mũ rộng vành cầm ô nhảy dù từ chiếc máy bay (bảy pích, tám rô, bốn nhép). Được nửa cỗ bài, cái giọng Đức của Maurice lại réo lên và chui vào tai tôi. “Cấm đi!” Tôi nghe anh ta hét lên, chắc là nói với một thợ chụp ảnh khác. Lần này, tôi không bị mất tập trung. Trong phòng của anh tôi, tôi thấy bạn mình là Ben đang tè lên mũ của giáo hoàng Benedict (mười rô, hai nhép, sáu rô), Jerry Seinfeld nằm xoài, máu chảy trên ca-pô chiếc Lamborghini trong hành lang (năm cơ, át rô, J cơ), và ở chân cửa phòng bố mẹ tôi, tôi thấy mình đang “phiêu” với điệu moonwalk (điệu “đi lùi” nổi tiếng của Michael Jackson) cùng Einstein (bốn pích, K cơ, ba rô).
Thuật nhớ bài nhanh là làm sao đạt được sự cân bằng hoàn hảo giữa cử động mau lẹ và tạo các hình ảnh chi tiết. Bạn cần nhìn thoáng qua các hình ảnh vừa đủ lâu để có thể dựng lại chúng sau này và không để mất thời gian quý báu để tô vẽ thêm những màu sắc nhiều hơn cần thiết. Khi tôi dập hai tay lên bàn để bấm dừng đồng hồ, tôi biết mình đã đạt điểm “được” nhất của sự cân bằng đó. Nhưng tôi chưa biết nó “được” đến thế nào.
Trọng tài, người đang ngồi đối diện tôi, báo cho tôi thời gian trên đồng hồ của chị ta: một phút bốn mươi giây. Không chỉ tốt hơn thành tích tập luyện, mà tôi ngay lập tức nhận ra mình đã nghiền nát kỷ lục cũ của Mỹ, một phút năm ba giây. Tôi nhắm mắt, gục đầu xuống bàn, lẩm nhẩm chửi tục, và mất một giây để thấm thía rằng tôi đã làm được một điều - dù tầm thường và kỳ dị thế nào - tốt hơn bất cứ ai ở toàn nước Mỹ này.
Tôi ngước lên và liếc vội sang Maurice Stoll, anh vuốt vuốt râu có vẻ bối rối, biết là không phải phép nhưng tôi vẫn khoan khoái khi anh ta gặp khó. Rồi tôi nhìn sang Chester và lại căng thẳng lên. Anh ta đang cười tự tin. Không phải thế chứ. Anh ta đã nhấn đồng hồ ở tận hai phút mười lăm giây.
Theo tiêu chuẩn quốc tế, ba mươi giây là thành tích tốt nhất, vậy thành tích một phút bốn mươi giây của tôi chỉ tầm tầm mà thôi - tương đương một vận động viên người Âu tập luyện nghiêm túc chạy năm phút một dặm. Nhưng chúng tôi đâu phải đang ở châu Âu.
Khi thành tích thời gian của tôi lan khắp phòng, các máy quay và khán giả bắt đầu vây quanh bàn tôi. Trong tài rút ra một cỗ bài chưa xáo và đẩy về phía tôi. Nhiệm vụ của tôi bây giờ là sắp xếp cỗ bài chưa xáo đó cho trùng khớp với thứ tự với bộ bài tôi đã ghi nhớ.
Tôi rải cỗ bài chưa xáo ấy ra trên bàn, hít một hơi thật sâu rồi dạo bước trong cung trí nhớ của mình một lần nữa. Tôi có thể thấy mọi hình ảnh đậu ngay tại nơi tôi đã bỏ chúng lại, trừ hai hình ảnh. Đáng ra chúng phải ở trong phòng tắm, ướt nhoẹt, nhưng tôi chỉ có thể dò thấy những viên gạch lát trắng trơn.
Mình không nhìn thấy nó , tôi thầm thì điên dại. Mình không nhìn thấy nó. Tôi chạy một lượt thật nhanh qua từng hình ảnh. Liệu tôi đã quên hai ngón chân khổng lồ chăng? Một gã công tử bột đeo cà vạt chăng? Bộ ngực của Pamela Anderson? Con quỷ Lucky Charms? Một đoàn quân người Sikh đội khăn xếp? Không, không, không.
Tôi bắt đầu dùng ngón trỏ để rải những quân bài mình đã nhớ. Trên góc trái bàn, tôi đặt bạn Liz của tôi và con lợn chết của cô ấy. Cạnh cô ấy, gã khổng lồ Hulk ngồi trên xe đạp, và Terry Bradshaw ngồi xe lăn. Khi năm phút ghi nhớ sắp hết, tôi còn ba lá bài vẫn trên bàn.
Chúng là ba lá bài đã biến mất trong phòng tắm: K rô, bốn cơ, và bảy nhép. Bill Clinton đang “vui vẻ” với một quả bóng rổ. Sao tôi có thể bỏ qua nó được nhỉ?
Tôi nhanh chóng sắp xếp cỗ bài gọn gàng, rồi đẩy sang cho trọng tài bên kia bàn, tháo chụp tai và bịt tai. Tôi đã hoàn thành rất chính xác. Tôi không hề nghi ngờ gì hết.
Sau khi chờ một lúc cho máy quay truyền hình xoay quanh để có góc nhìn tốt hơn, trọng tài bắt đầu đếm từng lá bài một, lúc ấy, để thêm phần kịch tính, tôi cũng làm y như vậy với cỗ bài mình đã ghi nhớ.
Hai cơ. Hai cơ. Hai rô. Ba cơ Ba cơ...
Từng quân bài một, khớp từng quân. Khi chúng tôi đến cuối cỗ bài, tôi vứt quân bài cuối cùng lên bàn, ngước nhìn lên và ngoác miệng cười đần độn mà tôi không tài nào cưỡng lại được. Tôi là người giữ kỷ lúc nhớ bài mới của Mỹ. Đám đông quanh bàn tôi vỗ tay giòn giã. Ai đó huýt gió. Ben Pridmore đấm tay lên trời. Một cậu bé mười hai tuổi bước tới, đưa tôi cái bút và hỏi xin chữ ký.
Không rõ vì sao nhưng người ta đã quyết định rằng ba người đứng đầu ở ba phần thi đầu tiên buổi sáng được đặc cách vào vòng trong mà sẽ không phải thi đấu ở môn sơ loại cuối cùng của buổi sáng: nhớ thơ. Dù thành tích phần thi nhớ số của tôi thấp, thành tích kỷ lục về nhớ bài đủ để tôi xếp thứ hai trên bảng tổng, sau Maurice và trước “Người Băng” Chester. Chúng tôi sẽ vào thẳng tứ kết. Ba chúng tôi cùng Ben Pridmore rời phòng thi đấu rồi cùng đi ăn trưa trong không khí thân mật nhưng hầu như chẳng ai nói gì. Khi chúng tôi quay lại, ba chúng tôi ngồi trên sân khấu, cạnh Ram, người chạy marathon bốn bảy tuổi Paul Mellor, và cô bé mười bảy tuổi Erin Luley, người đã lập kỷ lục mới của Mỹ ở phần nhớ thơ, cô bé lập kỷ lục thứ hai trong ngày khi chúng tôi ra khỏi phòng.
Giờ chúng tôi chỉ còn sáu người, cuộc thi chuyển sang vòng hai, được thiết kế kịch tính hơn để thỏa mãn các máy quay truyền hình. Những hình đồ họa 3-D hợp mốt được chiếu lên màn hình trước phòng, ánh sáng đổ xuống sân khấu đặt sẵn sáu cái ghế cao cho chúng tôi đang ngồi, mỗi ghế để sẵn một micro gắn áo.
Phần thi đầu tiên của buổi chiều là nhớ từ ngẫu nhiên. Trong một phần thi nhớ từ ngẫu nhiên điển hình của một giải vô địch quốc gia điển hình, các thí sinh có mười lăm phút để ghi nhớ danh mục bốn trăm từ, rồi sau đó là một quãng nghỉ ngắn, và ba mươi phút để viết lại trên giấy những từ họ có thể nhớ, theo đúng thứ tự. Cách thi đấu ấy không phải dành cho khán giả theo dõi. Trong giải vô địch Mỹ, mọi chuyện đều diễn ra trên sân khấu, với hy vọng đem lại cho giải đấu những phút lo lắng căng thẳng, những tiếng gào hú inh ỏi, và cả những trò cười biến cuộc thi từ ngữ này trở thành một sân chơi hấp dẫn. Sáu chúng tôi ngồi theo vòng tròn, từng người một đọc từ tiếp theo trong danh sách chúng tôi nhớ. Hai vận động viên trí óc đầu tiên nhớ sai một từ sẽ bị loại.
Danh sách này gồm những danh từ và động từ cụ thể như “bò sát” và “chết đuối,” những
từ dễ hình dung nhất, trộn lẫn trong đó là những từ trừu tượng khó hình dung hơn như “đáng tiếc” và “ơn huệ” Dù mục tiêu ở phần thi nhớ từ ngẫu nhiên là ghi nhớ càng nhiều càng tốt, có lẽ cứ thế nhồi đầy cung trí nhớ của bạn đến tận nóc là hơi khinh suất. Tôi và Ed nhận thấy rằng, với luật thi đấu ở giải vô địch Mỹ, chiến lược khôn ngoan hơn là nên chọn ghi nhớ ít từ hơn. Tôi chỉ nhớ được 120 từ, nhưng chắc chắn đúng trăm phần trăm. Chúng tôi tính là hầu hết mọi người trên sân khấu có thể ghi nhớ nhiều từ hơn tôi, cũng có người quá mê mải mà cố ghi nhớ nhiều hơn khả năng của mình. Tôi sẽ không nằm trong số ấy.
Sau mười lăm phút ghi nhớ, chúng tôi, từng người một trên sân khấu đọc từ tiếp theo có trong danh sách: “sự châm biếm”... “biểu tượng”... “mái hiên”... “thòng lọng”... “giày vò... Khi chúng tôi đến từ thứ hai mươi bảy, Erin, người trong buổi sáng hôm đó đã ghi nhớ thơ giỏi hơn bất cứ vận động viên trí óc Mỹ nào trước đây, đã gặp lúng túng. Từ đó là “tê cóng”, năm chúng tôi còn lại đều biết - nhưng vì sao đó mà cô bé không thấy. Cô bé gục xuống ghế, lắc đầu. Chín từ sau, Paul Mellor nhầm “sự hoạt động” (danh từ) với “hoạt động” (động từ) - một lỗi kinh điển của những tay mơ. Hầu hết chúng tôi - đặc biệt là nhà sản xuất ở HDNet, hãng truyền hình đang phát đi từng diễn biến hấp dẫn - đã trông đợi một cuộc đấu gay cấn, mệt mỏi, kéo dài ít nhất là tới từ thứ một trăm. Thật khó hiểu nổi vòng thi này lại kết thúc sớm như vậy. Thậm chí đối với người vừa mới học xong nguyên tắc cung trí nhớ thường cũng có thể ghi nhớ ít nhất ba mươi hoặc bốn mươi từ trong lần thử đầu tiên. Tôi ngờ cả Erin lẫn Paul nhận định sai về các đối thủ khác và thất bại. Nghĩa là Ram, Chester, Maurice và tôi lọt vào vòng chung kết nhờ sai lầm của những người kia. Nghĩa là tôi cách trận chung kết Giải Vô địch trí nhớ Mỹ một bữa tiệc trà.
Một cô gái dáng cao, tóc nâu, mặc váy hè bước lên sân khấu và tự giới thiệu. “Xin chào, tôi là Diana Marie Anderson. Tôi sinh năm 1967, ngày 22 tháng Mười hai, ở Ithaca, New York, 14850. Đây là số điện thoại nơi làm việc, nhưng xin đừng gọi tôi theo số này, là 929-244- 6735, số lẻ 14. Tôi có một con thú cưng, tên nó là Karma, một con chó màu vàng. Tôi có vài sở thích: xem phim, đi xe đạp, và đan len. Loại xe yêu thích của tôi là xe T Ford Model 1927. Nó màu đen. Khi ăn, tôi pizza và món thạch, kem que vị bạc hà cay.”
Trong khi cô ta nói, Ram, Chester, Maurice, và tôi nhắm mắt lại, sốt sắng vẽ những hình ảnh trong cung trí nhớ. Ngày sinh của Diana 22/12/67, trở thành khối nặng một tấn (12) đang nghiền nát một bà sơ (22) khi bà đang uống sinh tố trái cây (67), tôi đặt ở trong cái bồn tắm có chân, xê dịch được, trong phòng tắm ngôi nhà kiểu Victoria. Sinh nhật cô ta, và mã vùng, tôi bước đến tủ đựng đồ trong nhà tắm và tưởng tượng một chiếc bánh xe tải khổng lồ (14) đang lăn trên mép một trong những hẻm núi nổi tiếng ở Ithaca, và rơi xuống hai người đàn ông (850). Bốn khách tiệc trà nữa xuất hiện trên sân khấu, và đọc tiểu sử với các chi tiết tương tự.
Phần thi có tên “Ba lần sai là bị loại,” nghĩa là hai thí sinh đầu tiên quên ba mẩu thông tin sẽ bị loại. Sau khi cho chúng tôi vài phút để đường cong lãng quên phát huy tác dụng của nó, năm khách tiệc trà quay lại sân khấu và bắt đầu chất vấn chúng tôi những câu hỏi về bản thân họ. Đầu tiên, chúng tôi được hỏi tên một phụ nữ trẻ có mái tóc vàng và đội mũ phớt bóng chày, người thứ tư trong năm vị khách. Chester, đang ngồi cuối hàng, biết tên cô ta. “Susan Lana Jones.” Tiếp theo, Maurice bị hỏi về ngày sinh cô ta, mà anh ta không biết, và khiến tôi tự hỏi liệu anh ta có bịp bợm chuyện ngủ ngon tối hôm trước không. Một gạch cho Maurice. May thay, tôi cũng biết sinh nhật cô ta. Tôi lôi nó ra từ cái chậu rửa mặt làm bằng đá đen trong cung trí nhớ tòa nhà hiện đại. Đó là 10 tháng Mười hai, 1975. Ram biết nơi cư trú của cô ấy: Bờ biển Bắc Miami, Florida, 33180, nhưng Chester không thể nhớ số điện thoại cô ấy. Một gạch cho Chester. Và Maurice cũng không nhớ. Hai gạch cho
Maurice. Máy quay chĩa vào tôi, chờ đợi tôi đọc lên mười chữ số, cộng với số máy lẻ. “Tôi thậm chí không cố ghi nhớ số điện toại cô ấy,” tôi nói, nhìn thẳng vào ống kính. Chiến lược của tôi là tập trung vào mọi thứ khác, và chỉ hy vọng rằng dãy số dài đó sẽ là vấn đề của ai khác. Một vạch cho Josh.
Cuộc chơi cứ tiếp tục như vậy, cho tới khi quay lại Maurice, anh ta còn không nhớ nổi dù chỉ một trong ba sở thích của một phụ nữ. Hẳn là anh ta cũng đánh được một giấc trong khi họ đọc tiểu sử của họ. Anh ta bị ba gạch. Thế là bị loại.
Còn lại ba chúng tôi trên sân khấu chuyền qua chuyền lại chi tiết tiểu sử thêm vài vòng nữa. Cuối cùng, đến lượt Chester đọc số điện thoại của một khách tiệc trà, gồm cả mã vùng và ba chữ số máy lẻ.
Chester nhếch mép và cúi xuống. “Tại sao bao giờ tôi cũng phải nhớ số điện thoại nhỉ? Các cô đùa tôi à?”
“Cuộc chơi là như vậy đấy,” Tony Dottino nói, ông đang đứng sau dãy ghế bên trái sân khấu, trong vai trò người dẫn chương trình.
“Tiếp tục nào, không ai biết số điện thoại cả.” “Anh là bậc thầy về nhớ số mà, Chester.”
Nếu tôi ngồi trên ghế của Chester, tôi cũng sẽ không nhớ được. Đó là vận đen khi Chester lại ngồi trên ghế kia, không phải tôi, vận đen mà anh ta gặp phải khi bị ba gạch trước cả tôi, và vì cái vận đen kia mà giờ đây tôi đang tiến vào vòng chung kết Giải Vô địch Trí nhớ Mỹ.
Có thông báo nghỉ mười phút giải lao trước phần thi chung kết, “Nhớ hai cỗ bài,” trong đó Ram và tôi sẽ có năm phút ghi nhớ hai cỗ bài như nhau. Khi tôi bước ra khỏi sân khấu, Maurice nắm lấy tôi và quàng tay lên vai tôi. “Anh là người chiến thắng,” anh ta nói thứ tiếng Anh như gió. “Ram không thể nhớ hai cỗ bài đâu. Đó là điều chắc chắn.” Tôi cảm ơn cụt ngủn anh ta, và cố rẽ đám đông để ra khỏi phòng. Ben chào tôi ở chân cầu thang, đang giơ bàn tay ra chờ đập tay ăn mừng.
“Ram chơi kém nhất ở phần thi nhớ bài,” anh ta phấn khích nói. “Giờ coi như anh thắng rồi đấy.”
“Thôi nào, anh định làm gì nào, yểm quẻ chăng?” “Anh chỉ cần làm bằng một nửa sáng nay là được.” “Đừng nói thế. Anh đang mang điềm gở đến đây đấy.” Anh ta xin lỗi và rời đi tìm Ram nói lời chúc tốt đẹp.
Ở phía bên trái sân khấu, Kenny Rice tiếp tục những bình luận. “Chúng ta gần tới giây phút quyết định của Giải vô địch Trí nhớ Mỹ. Năm ngoái, Ram Kolli đã thắng ở phần thi này. Liệu anh chàng hai lăm tuổi người Virginia có lặp lại thành tích ấy không, hay sẽ là Joshua Foer kẻ mới tới, một nhà báo mạng đã đưa tin về giải đấu này năm ngoái? Giờ anh ta đang cố giành chiến thắng. Phần thi cuối này, “Nhớ hai cỗ bài” là vòng thi đối đầu.
Tôi biết, dù nói trước sẽ bước không qua, rằng Ben và Maurice nói đúng. Ram gần như không thể nhớ một cỗ bài trong năm phút, đừng nói đến hai cỗ bài. Dưới ánh đèn làm đổ mồ hôi, đối mặt với tiếng rì rì của máy quay truyền hình, tôi biết mình chỉ cần đừng có nghẹn thở, và bàn tay bạc với móng tay sơn vàng kia sẽ là của tôi.
Điều đầu tiên tôi làm, sau khi ngồi xuống và đeo nút bịt tai, là đẩy cỗ bài thứ hai sang một bên. Tôi chỉ cần ghi nhớ hơn Ram một lá bài, nên tôi quyết định sẽ biết rõ cỗ bài đầu tiên đến tường tận. Tôi dành năm phút nhìn đi nhìn lại 52 quân lá bài đó, chỉ ngừng một thoáng chốc để liếc nhanh sang Ram, anh ta đang ngồi ở bàn cạnh tôi. Anh ta đang cầm một lá bài và ngâm cứu như thể đó là một loài côn trùng hiếm. Ô chúa ơi, gã này chẳng có cơ hội đâu, tôi nghĩ.
Sáu năm phút ghi nhớ, có màn tung đồng xu để quyết định ai là người đọc trước. Ram chọn mặt sấp. Đồng xu lại ngửa. Thế là tôi có quyền chọn mình bắt đầu trước, hay để Ram bắt đầu.
“Điều này quan trọng lắm,” tôi thầm thì, đủ lớn để micro bắt được tiếng. Tôi nhắm mắt và bước đi thật nhanh qua cỗ bài, xem liệu có khoảng trống nào trong cung trí nhớ không, những nơi mà vì lý do nào đó hình ảnh không dính lại, như đã xảy ra vào buổi sáng. Nếu có, tôi muốn Ram phải chịu trách nhiệm cho những lá bài ấy, không phải tôi. Cuối cùng, sau một hồi lâu, tôi mở mắt. “Tôi sẽ bắt đầu.”
Tôi lại suy nghĩ chừng hơn một giây. “Không, không, không. Đợi đã. Ram có thể bắt đầu.” Điều đó nghe như thể một đòn tâm lý trong thi đấu, nhưng thực sự tôi nhận ra mình không thể nhớ lá bài thứ bốn ba trong cỗ bài. Tôi muốn chắc rằng lá bài đó sẽ thuộc trách nhiệm của Ram.
Dottino. “Được rồi, Ram, anh là người đọc bài trước.” Ram vân vê ngón tay một lát. “Hai rô.”
Rồi đến tôi: “Q cơ.” “Chín nhép.”
“K cơ.”
Ram ngước lên trần nhà và dựa vào ghế.
Tôi có thể thấy anh ta lắc đầu. Không đời nào, tôi nghĩ. Anh ta nhìn xuống. “K rô ư?”
Giờ đây tôi lắc đầu. Tôi biết anh ta bị loại. Ở lá bài thứ năm! Tôi nhìn sang Ram, đang sốc. Anh ta đã hớ. Anh ta đã thất bại. Maurice, đang ngồi hàng ghế trước, đưa tay bóp trán.
“Nước Mỹ có nhà vô địch trí nhớ mới.”
Tôi không đứng lên. Tôi thậm chí còn không chắc mình có hé miệng cười không. Một phút trước đó, tôi chỉ muốn chiến thắng. Nhưng giờ đây cảm xúc đầu tiên của tôi không phải hạnh phúc hay nhẹ nhõm hay tự chúc mừng. Tôi ngạc nhiên khi phát hiện ra, cảm giác ấy đơn giản là mệt mỏi. Tôi cảm thấy cơn mất ngủ đêm hôm trước chợt ùa đến, và vùi đầu vào tay một lát. Mọi người đang xem ở nhà hẳn nghĩ rằng tôi mất tự chủ vì xúc động. Thực tế, tôi vẫn bị mắc kẹt trong cung trí nhớ của mình, bồng bềnh trong một thể giới những
hình ảnh không có trong hiện thực, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi chúng dường như còn hiện thực hơn là cái sân khấu tôi đang ngồi. Tôi ngước lên và thấy, chiếc cúp hai tầng hào nhoáng lấp lánh ở rìa sân khấu. Ram đưa tay ra bắt tay tôi, thầm vào tai tôi, “Lá bài thứ năm là quân gì vậy?”
Tôi buông tay, quay sang anh ta, thì thầm lại. “Năm nhép.” Dom Deluise. Đang lắc mông. Tất nhiên.
giải Vô địch Trí nhớ Hoa Kỳ năm 2006 có một phần thi mới, phần thi trước đấy chưa hề xuất hiện trong lịch sử các cuộc thi trí nhớ. Nó được gán cho tên gọi vang chan chát là “Ba lần sai là rời tiệc trà” để làm hài lòng những nhà sản xuất HDNet và mạng truyền hình cáp lần đầu tiên đưa giải lên sóng truyền hình quốc gia. Năm người lạ trong vai những vị khách tại một tiệc trà, sẽ bước lên sân khấu và nói với các thí sinh mười thông tin về bản thân - địa chỉ, số điện thoại, sở thích, ngày sinh, đồ ăn ưa thích, tên con vật nuôi, mẫu xe ô tô và nhà sản xuất, v.v... Đây là phần thi sát nhất với những đòi hỏi cuộc sống từng được đưa vào trong một giải đấu trí nhớ. Tôi không biết sẽ chuẩn bị như thế nào, và mãi đến khoảng một tháng rưỡi trước giải đấu, tôi mới nghĩ tới nó; ấy là vào hai buổi tối khi Ed và tôi trao đổi qua cuộc điện thoại xuyên Đại Tây Dương nhằm sáng tạo ra một hệ thống sẽ cho phép tôi lưu giữ những thông tin cá nhân ấy một cách nhanh chóng và dễ dàng trong một cung trí nhớ được thiết kế đặc biệt dành riêng cho mỗi người lạ.
Tôi đã dựng trong trí tưởng tượng những tòa nhà, mỗi tòa dành cho một khách dự “tiệc trà.” Mỗi tòa nhà xây theo phong cách khác nhau nhưng thiết kế phòng tương tự nhau, gồm một phòng lớn ở giữa và những phòng xung quanh. Cung đầu tiên là một khối nhà kính hiện đại theo kiểu tòa Nhà Kính của Philip Johnson; căn nhà thứ hai là kiểu nhà mái tháp thời nữ hoàng Anne mà bạn có thể thấy khắp San Francisco, với nhiều nét trang trí rườm rà phô trương; ngôi nhà thứ ba xây theo phong cách Frank Gehry, với tường gợn sóng bọc titan và những cửa sổ cong; thứ tư là loại nhà gạch đỏ của Thomas Jefferson, Monticello; và ngôi nhà thứ năm không có gì đặc biệt, ngoại trừ tất cả các bức tường đều sơn màu xanh dương nhạt. Phần bếp mỗi ngôi nhà là nơi lưu địa chỉ. Phòng làm việc sẽ giữ số điện thoại. Phòng ngủ lớn là nơi để sở thích, và phòng tắm là cho ngày sinh, v.v...
Ba tuần trước giải, sau khi xem điểm số tôi gửi cho anh ta, Ed gọi điện bảo tôi cần ngưng luyện mọi phần thi khác để tập trung cho phần tiệc trà. Tôi tập hợp bạn bè và gia đình rồi bảo họ bịa ra các thông tin tiểu sử để tôi ghi nhớ trong những cung trí nhớ mới mà tôi đã cần mẫn tạo riêng ra. Thêm vài buổi ăn tối thiếu phần lãng mạn với bạn gái tôi, để cô ấy mặc sức tưởng tượng rồi kể tôi nghe những câu chuyện về cuộc đời cô ấy, là thôn nữ ở Nebraska hay một bà nội trợ vùng ngoại ô hay cô thợ may Paris, và tôi sẽ đọc lại cho cô ấy nghe lúc ăn tráng miệng.
Một tuần trước giải, ngay khi tôi muốn rèn luyện cật lực nhất, thì Ed bảo tôi phải dừng lại. Các vận động viên trí óc luôn ngưng việc rèn luyện một tuần trước khi giải đấu để dọn sạch các cung trí nhớ. Họ đi qua các cung giũ bỏ những hình ảnh còn vương vất, bởi vì giữa lúc thi đấu nước sôi lửa bỏng, bạn sẽ không bao giờ muốn tình cờ nhớ ra điều gì đó vừa ghi nhớ tuần trước. “Một số thí sinh, khi đạt đến đẳng cấp cao thực sự, còn không nói chuyện gì với ai trong ba ngày trước giải đấu,” Tony Buzan bảo tôi. “Họ cảm thấy rằng bất kỳ mối liên hệ nào đi vào đầu họ cũng có thể ảnh hưởng tới những mối liên hệ họ tạo ra trong cuộc thi.”
Đến lúc bấy giờ, theo kế hoạch Ed sẽ có mặt trên khán đài giải Vô địch Mỹ. Nhưng ngay trước khi giải đấu diễn ra, anh ta lại sang đại học Sydney, Úc nhân cơ hội có một không hai là nghiên cứu triết học về vấn đề hiện tượng học trong môn thể thao cricket. (Anh ta tin rằng so với những chuyên gia giới tính gà hay đại kiện tướng cờ vua, môn thể thao cho
anh có những ví dụ minh họa rõ ràng hơn để minh chứng cho công trình của anh ta rằng nhận thức con người về thế giới chịu ảnh hưởng rất mạnh của trí nhớ.) Thế là bỗng nhiên chuyện anh ta đến dự giải thành ra chẳng có gì chắc chắn, khi mà chuyến bay từ nửa bán cầu kia giờ trở nên dài hơn và đắt đỏ hơn.“Có cách nào làm cậu bớt bực vì chuyện có khả năng tôi vắng mặt không?” anh ta e-mail hỏi tôi vài ngày trước cuộc thi. Tôi cảm thấy lo sợ nhiều hơn là bực bội. Dù tôi có bảo mọi người rằng tôi chỉ do chợt thấy hứng thú mà tham gia cuộc thi đấy thôi - “một cách kỳ quặc để tiêu tốn thì giờ buổi sáng cuối tuần”, tôi nói đùa thế với người bạn về “cuộc chơi lập dị” này chỉ để che giấu sự thật là tôi muốn giành chiến thắng đến chết đi được.
Vào phút chót, Ed quyết định ở lại Úc, nghĩa là còn mỗi mình tôi lo nghĩ về những đấu thủ khác, phỏng đoán trong năm qua họ đã luyện tập kham khổ ra sao, và băn khoăn liệu có ai đó sẽ làm chúng tôi ngạc nhiên bằng cách công bố một kỹ thuật mới sẽ đưa môn thể thao này đến một cấp độ mà tôi chẳng thể đạt tới không. Tham gia cuộc thi lần này có Ram Kolli, đương kim vô địch lúc nào cũng hoan hỉ và vô tâm, người mà tôi biết là có tài bẩm sinh nhất trong nhóm. Nếu anh ta quyết tâm rèn luyện kham khổ như người châu Âu thì chúng tôi sẽ chẳng có cơ hội nào. Nhưng tôi đồ rằng anh ta chẳng có kỹ thuật mới nào hết. Người khiến tôi dè chừng nhất là Maurice Stoll. Nếu ai bỏ thời gian để phát triển một hệ thống PAO thiên niên kỷ như Ed, hay một hệ thống 2.704 hình ảnh như Ben, thì nhiều khả năng người đó là Maurice.
Buổi tối trước giải đấu, Ed gửi e-mail cho tôi với lời khuyên cuối cùng: “Anh chỉ cần nhấm nháp những hình ảnh, và thực sự tận hưởng chúng. Chừng nào anh còn làm chính mình bất ngờ với tính sống động của chúng thì anh sẽ thi đấu tốt. Dù ở bất kỳ giai đoạn nào cũng chớ nên lo lắng. Cứ thoải mái, mặc kệ các đối thủ mà vui vẻ đi. Tôi tự hào về anh rồi đấy. Và hãy nhớ, các cô nàng đào xới những vết thương còn vinh quang là vĩnh viễn.”
Đêm hôm đó, lúc nằm trên giường, ngược xuôi diễu qua từng cung trí nhớ của mình trong nỗi ám ảnh, nơm nớp lo về Maurice. Tôi không tài nào ngủ được, đúng y như tình trạng của Maurice tại giải năm trước, chuyện này đối với vận động viên trí óc cũng như cầu thủ “bị gãy chân trước trận bóng.”
Rồi đến chừng ba giờ, nhờ mấy viên Tylenol PM tôi cũng thiếp đi được, và gặp cơn ác mộng kinh hoàng trong đó Danny DeVito và Rhea Perlman, quân K pích và Q pích của tôi, đang cưỡi trên một con ngựa, tức quân bảy pích, đi quanh bãi đỗ xe hàng tiếng đồng hồ, vô vọng tìm nơi để đỗ con xe Lamborghini Countach, quân J cơ. Cuối cùng, họ và con ngựa tan ra thành nhựa đường, trong khi Maurice Stoll đứng nhìn cùng tiếng cười lục khục nham hiểm của bác sĩ Mengele. Bốn tiếng sau tôi thức giấc, lờ đờ và mụ mị, và vô tình gội đầu tận hai lượt - một điềm báo xấu, nếu quả có điềm báo thật.
Khi tôi ra khỏi thang máy trên tầng mười chín trụ sở Con Edison, người đầu tiên tôi đụng phải là Ben Pridmore. Anh ta đã từ Anh bay sang vào dịp cuối tuần chỉ để thám thính đấu trường Mỹ. Tại sân bay Manchester, anh ta đã vung tiền nâng lên ghế hạng nhất vào phút chót. “Tôi còn biết tiêu tiền vào việc gì khác đây?” anh ta hỏi tôi. Tôi nhìn xuống đôi giày da cóc gặm với dây giày muốn tuột ra của anh ta và đáp: “Nói hay lắm.”.
“Phần thi đầu tiên còn chưa bắt đầu, thế mà tôi đã hoang mang rồi,” tôi bảo Ben. Tôi giải thích về cơn mất ngủ và vụ gội đầu tận hai lần, và anh ta cho rằng tôi dùng thuốc ngủ là lợi bất cập hại, anh ta bảo, mấy thứ dược chất trong thuốc hẳn vẫn còn bơi lội trong huyết quản tôi.
Tôi nốc hai cốc lớn cà phê, và thật tình thấy bồn chồn hơn là mỏi mệt. Chủ yếu là tôi cảm thấy ngu ngốc vì đã hành hạ vũ khí cần có để thi đấu. Lúc này, Maurice đi vào, đội chiếc mũ phớt có logo đội bóng chày Texas A&M Aggies và mặc áo sơ mi hoa hòe hoa sói, trông vênh váo hơn nhiều so với năm ngoái. Tự tin đến phát sợ. Từ bên kia phòng, anh ta nhận ra tôi và bước thẳng đến bắt tay, rồi tự giới thiệu với huyền thoại Ben Pridmore.
“Anh đã quay lại,” Maurice bảo tôi. Đó là một lời xác nhận chứ không phải câu hỏi. Đúng ra tôi định lẳng lặng đến gần và làm Maurice ngạc nhiên, nhưng xem ra anh ta đã biết tôi sẽ tham dự từ trước. Hẳn ai đó đã cho anh ta biết rằng tôi đã tập luyện cùng Ed Cooke.
“Vâng, tôi nghĩ là tôi sẽ thử thi đấu năm nay xem sao,” tôi nói vẻ hờ hững, và chỉ vào biển tên của mình, trên đó viết “Joshua Foer, Vận động viên trí óc.”
“Như một trải nghiệm báo chí thôi.”
Tôi hỏi, “Năm nay vụ nhớ các con số của anh thế nào?” tôi đang thăm dò xem anh ta đã nâng cấp hệ thống chưa.
“Tốt lắm. Còn anh?”
“Tốt. Phần thi nhớ quân bài thế nào?” “Không tồi. Anh?”
“Tôi sẽ chắc sẽ ổn ở phần nhớ quân bài,” tôi nói. “Anh vẫn dùng hệ thống như năm ngoái
à?”
Anh ta nhún vai, không đáp, và hỏi tôi, “Hôm qua anh ngủ thế nào?” “Sao cơ?”
“Hôm qua anh ngủ thế nào?”
Sao anh ta hỏi tôi vậy? Sao anh ta biết tôi mất ngủ? Maurice định chơi trò gì đây? “Anh nhớ không, năm ngoái tôi có ngủ ngon đâu,” anh ta nói tiếp.
“Vâng, tôi nhớ rồi. Còn năm nay?” “Năm nay, tôi ngủ cũng được.”
“Josh phải dùng đến thuốc ngủ đấy,” Ben sốt sắng nói.
“Vâng, à, toàn giả dược ấy mà, đâu có tác dụng gì thật, đúng không?”
“Có lần trong lúc tập luyện tôi đã cố dùng thuốc ngủ, và sáng hôm sau trong lúc ghi nhớ những con số tôi lại thấy buồn ngủ,” Maurice nói. “Anh biết đấy, thiếu ngủ là kẻ thù của trí nhớ.”
“Ồ.”
“Dù sao thì cũng chúc anh may mắn.”
“Vâng, cũng chúc anh may mắn.”
Điểm mới ở năm nay là cả rừng máy quay truyền hình lượn lờ vo ve khắp phòng và những người bình luận trực tiếp - người dẫn chương trình kỳ cựu chương trình đấm bốc Kenny Rice, và người cùng tham gia bình luận, bốn lần vô địch Mỹ Scott Hagwood - ngồi ngay trước khán đài. Sự hiện diện của họ tạo cho cuộc thi không khí một bộ phim tài liệu không thực. Có phải tôi vừa nghe Rice mô tả các thí sinh là đã “đưa năng lực trí óc lên một tầm cao mới” không nhỉ?
Ở các giải quốc tế tôi đã đến xem, vào những giây phút trước trận đấu, các đấu thủ ngồi riêng rẽ, đeo đôi bịt tai hoặc tập tành để khởi động bộ não, còn ở đây các thí sinh ở giải Mỹ lại loanh quanh đi lại chuyện trò, như thể họ sắp đi đo mắt chứ chẳng thi thố gì cả. Tôi lui vào một góc, nhét cái bịt tai vào, và cố tẩy sạch đầu óc như một chuyên gia trí nhớ Âu châu thực sự.
Tony Dottino, một nhân viên tư vấn quản trị doanh nghiệp, năm mươi tám tuổi, người mảnh khảnh, tóc ánh bạc, để ria mép, đang đứng trước khán phòng để giới thiệu cuộc thi. Dottino đã sáng lập giải Vô địch Trí nhớ Mỹ vào năm 1997, và từ bấy đến nay đã tổ chức giải được mười ba lần. Ông là một trong những môn đệ người Mỹ của Tony Buzan. Dottino kiếm sống bằng việc tư vấn các công ty như IBM, British Airways, và Con Edison (vậy nên đây là nơi tổ chức giải chẳng ai ngờ tới) để người lao động ở đấy sử dụng các kỹ thuật ghi nhớ sao cho công việc hiệu quả hơn.
“Các bạn chính là những người cho người dân đất nước này biết rằng trí nhớ không phải dành cho kẻ lập dị,” ông tuyên bố với đám người lập dị đang tụ hội trước mặt. “Các bạn sẽ là hình mẫu mọi người sẽ noi theo. Nếu nói tới chuyện viết nên trang sử cho giải đấu này, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ con mà thôi. Chính các bạn” - ông dùng cả hai ngón tay trỏ chỉ vào chúng tôi - “mới đang viết những trang sử đó.” Tôi chẳng muốn nghe gì thêm những gì ông ta nói, tôi chụp nút tai, và dạo một lượt cuối cùng qua từng cung trí nhớ. Tôi đang kiểm tra, như Ed đã dạy tôi, để đảm bảo mọi cánh cửa sổ đã mở ra cho ánh chiều rực rỡ tràn vào, để những hình ảnh của tôi sẽ rõ nét nhất.
Những người góp phần “viết nên lịch sử” là ba mươi sáu vận động viên trí óc đến từ mười bang khác nhau, trong đó gồm một mục sư phái Luther người Wisconsin, tên là T. Michael Harty, khoảng sáu đứa trẻ thuộc nhóm Một phần mười là nhân tài của Raemon Matthew, và một huấn luyện viên trí nhớ chuyên nghiệp bốn mươi bảy tuổi người Richmond, Virginia, tên Paul Mellor, ông tham gia các cuộc marathon ở cả năm mươi bang và mới tuần trước đây đã ở New Jersey để dạy các cảnh sát ghi nhớ biển số xe.
Ở dãy bàn phía sau mới là những tay sừng sỏ. Đây là những người mà Dottino đã dự đoán sẽ chạy đua giành danh hiệu. Tôi thật hân hạnh được liệt vào trong nhóm ấy, dẫu phải ngồi ghế cuối hàng. (Ở giải năm trước Dottino và tôi đã nói chuyện vài lần, và tôi vẫn cập nhật điểm số của tôi cho ông ta, nên ông ta biết tôi có cơ hội chiến thắng). Trong nhóm này còn có một kỹ sư phần mềm, ba sáu tuổi, người San Francisco, tên Chester Santos, mang bí danh “Người Băng,” chẳng hợp gì với cách ăn nói dịu dàng và bẽn lẽn của anh ta cả. Năm ngoái anh ta đứng thứ ba. Tôi rất ngờ là Chester không ưa tôi lắm. Sau khi tôi đã viết bài báo đầu tiên cho báo Slate nói về giải vô địch Mỹ năm trước, tôi đã nhận được một e-mail mà anh ta đã gửi cho Tony Dottino. Trong thư, Chester kêu ca rằng bài báo của tôi đúng là “KINH HOÀNG” vì tôi đã khiến cho Lukas và Ed “nghe có vẻ hay ho lắm,” trong khi các vận động viên Mỹ được mô tả như “những kẻ lười biếng và nghiệp dư toàn tập.” Giờ đây, chỉ sau một năm luyện tập, tôi lại trơ tráo đi đối mặt với anh ta, thật chẳng còn gì xúc phạm hơn.
Ở ngoài biên, tôi nghe Kenny Rice nói, “Hẳn là đáng gờm, như một kẻ nghiệp dư chấp nhận đấu tay đôi với LeBron James.” Tôi nhận ra ông ấy đang nói về tôi.
Dù ở các giải vô địch trí nhớ quốc gia khác trên thế giới, các môn thi đấu được thiết kế theo gần như cùng một chuẩn, với những luật thi đấu chuẩn do Hội đồng Thể thao Trí nhớ Thế giới ban hành, thì nước Mỹ mọi thứ có hơi khác. Trong các giải quốc tế, khi kết thúc giải đấu, điểm số của từng đấu thủ được cộng lại để xác định người thắng, còn giải Mỹ lại khác một chút: vòng sơ loại buổi sáng gồm bốn phần thi cổ điển dùng giấy và bút - tên người và khuôn mặt, nhớ số nhanh, nhớ bài nhanh, và nhớ thơ - để chọn ra sáu người vào chung kết. Buổi chiều, sáu người vào chung kết sẽ tranh tài ở ba phần thi “đấu loại” độc đáo, phù hợp với việc phát lên truyền hình là “Những từ phải nhớ,”
“Ba lần sai là rời tiệc trà,” và “Bắt hai cỗ bài,” những phần thi này sẽ cắt tỉa dần các thí sinh cho tới khi chỉ còn lại duy nhất nhà vô địch.
Phần thi đầu tiên của buổi sáng là tên người khuôn mặt, phần tôi luôn làm rất tốt khi luyện tập. Luật chơi là nhìn vào chín mươi chín hình chụp chân dung và ghi nhớ tên, họ tương ứng với mỗi khuôn mặt. Thí sinh ghi nhớ bằng cách tưởng tượng ra từng hình ảnh khó quên để liên hệ đến khuôn mặt với cái tên. Ví dụ, Edward Bedford là một trong chín mươi chín cái tên mà chúng tôi phải ghi nhớ. Anh ta là người da đen, có chòm râu dê, đầu bắt đầu hói, đeo kính mát và đeo khuyên bên tai trái. Để kết nối khuôn mặt đó với cái tên đó, tôi cố hình dung Edward Bedford đang nằm trên giường (bed) của một chiếc xe tải Ford, rồi nhận định như vậy chưa đủ nổi bật, tôi thấy anh ta đang lội (fording) qua một dòng sông trên một chiếc giường (bed) nổi. Để ghi nhớ tên anh ta là Edward, tôi đặt Edward Scissorhands trên giường cạnh anh ta, đang xén vụn tấm thảm khi anh ta cưỡi tấm thảm qua sông.
Tôi sử dụng một mẹo khác để ghi nhớ Sean Kirk, một gã da trắng để tóc mullet với tóc mai dài và nụ cười méo xệch như nạn nhân đột quỵ. Tôi so sánh anh ta với phóng viên Sean Hannity của hãng Fox News và Thuyền trưởng Kirk của Starship Enterprise (tàu không gian trong bộ phim Star Trek), và vẽ trong đầu tôi hình ảnh ba người họ đang tạo thành một tháp người.
Sau mười lăm phút cho các thí sinh nhìn những tên và khuôn mặt đó, một trọng tài sẽ đến và lấy đi tập ảnh vừa xem rồi đưa cho chúng tôi tập ảnh mới, với những khuôn mặt đó và sắp xếp theo trật tự khác, lần này không kèm theo tên. Chúng tôi có mười lăm phút để nhớ lại càng nhiều càng tốt.
Khi tôi đặt bút xuống và đưa bản kết quả của mình, tôi nghĩ điểm số của mình nằm đâu đó ở giữa nhóm. Những cái tên như Sean Kird và Edward Bedford xuất hiện ngay, nhưng tôi đã quên khuấy mất một cô tóc vàng dễ thương, và một đứa bé con có tên giống tiếng Pháp, và vài người khác, nên khó mà nghĩ tôi làm tốt cả. Ngạc nhiên thay, thành tích 107 họ và tên tôi nhớ được đủ để xếp ở hạng ba, chỉ sau Ram Kolli với thành tích 115, và trước Maurice Stoll, nhớ được 104. Người chiến thắng là một vận động viên bơi lội mười bảy tuổi từ Mechanicsburg, Pennylvania, tên Erin Hope Luley, đã nhớ được 124 họ và tên, một kỷ lục mới của Mỹ, và là một điểm số hẳn sẽ nhận được cái gật đầu kính trọng thậm chí của cả những người Đức giỏi nhất. Khi tên của cô được xướng lên, cô đứng dậy và vẫy tay vẻ ngượng ngùng. Tôi nhìn Ram, và bắt gặp anh ta nhìn tôi. Anh ta nhíu mày như thể muốn nói, “Con bé này ở đâu ra ấy nhỉ?”
Phần thi thứ hai của buổi sáng là nhớ số nhanh, môn thi tôi kém nhất. Đây là môn thi mà sự huấn luyện của Ed chẳng cho tôi mấy lợi thế - vì tôi lờ đi hầu hết mọi lời khuyên thị của Ed. Suốt mấy tháng anh ta thúc giục tôi phát triển một hệ thống phức tạp hơn để nhớ những con số - không hẳn giống Hệ thống PAO Thiên niên kỷ “Chiến hạm 64 khẩu” mà anh ta mất nhiều tháng trời tạo ra, song ít nhất cũng phải hơn Hệ thống Lớn hầu hết các vận động viên người Mỹ khác đang dùng. Tôi chiều theo ý anh ta và phát triển một hệ thống PAO cho năm mươi hai quân bài, nhưng chưa bao giờ bắt tay vào xây dựng hệ thống tương tự cho tất cả các số từ 00 đến 99.
Sử dụng Hệ thống Lớn như các vận động viên trí óc khác, tôi dành năm phút để tập nhớ chín mươi tư chữ số, thành tích an toàn nhưng khá xoàng, ngay cả theo chuẩn Mỹ. Vậy mà tôi vẫn bị nhầm ở cặp số thứ tám mươi tám (thay vì Bill Cosby, lẽ ra tôi nên thấy hình ảnh một gia đình đang chơi môn cờ do Milton Bradley phát minh). Tôi đổ hết lỗi cho Maurice về màn trình diễn nghèo nàn của mình, vì dù đã đeo đôi chụp tai rồi mà tôi vẫn nghe được anh ta cứ gào lên thô lỗ, “Chụp ảnh thế chưa đủ à?” với một gã thợ ảnh cứ lượn lờ quanh phòng. Song, tám mươi bảy chữ số giúp tôi ở vị trí thứ năm. Maurice đã nhớ được 148 số, một kỷ lục mới của Mỹ, và Ram kết thúc ở thứ hai với 124 số. Erin xuống thứ mười một, chỉ nhớ được năm mươi hai chữ số. Tôi đứng lên, duỗi người, và uống cốc cà phê thứ ba. “Người ta gọi họ là MAs, hay mental athletes - vận động viên trí óc,” tôi nghe Kenny Rice nghiêm nghị nói trước máy quay, “nhưng ở thời điểm nay của giải, MA có thể mang nghĩa khác: mental anguish[29].”
Tuy trong phần nhớ số tôi thể hiện kém, nhưng đến phần nhớ bài tiếp theo, tôi là thí sinh duy nhất được trang bị cái Ed gọi là “Vũ khí tối tân nhất của châu Âu.” Hầu hết các vận động viên Mỹ vẫn đặt mỗi lá bài vào một “điểm chứa”, thậm chí những người đã thi đấu nhiều năm như Ram và “Người Băng” Chester, giỏi lắm cũng chỉ hai quân bài thành một hình ảnh. Thực tế, chỉ vài năm trước ở giải vô địch Mỹ, hoàn toàn chưa thấy nhắc đến người nào có thể ghi nhớ cả một cỗ bài. Nhớ Ed mà hệ thống PAO tôi đang dùng gói ghém được ba quân bài vào một hình ảnh, nghĩa là hiệu quả hơn ít nhất năm mươi phần trăm so với hệ thống các vận động viên Mỹ khác sử dụng. Đó là lợi thế khổng lồ. Dù Maurice, Chester, và Ram sẽ hạ tôi những môn khác, tôi hy vọng mình sẽ có thể tăng điểm số ở phần nhớ bài nhanh.
Mỗi thí sinh có riêng một trọng tài cầm đồng hồ bấm giờ ngồi trước mặt. Trọng tài của tôi là một phụ nữ trung tuổi, chị ta ngồi xuống, mỉm cười và nói gì đó tôi không nghe được do đôi chụp tai và cả nút bịt lỗ tai. Tôi đã mang theo cả cặp cặp kính đã bảo hộ đã sơn đen để dùng trong phần thi nhớ bài, và cho đến lúc một cỗ bài mới xáo đặt trên bàn trước mặt tôi, tôi vẫn đang cân nhắc có nên đeo chúng không. Nhiều tuần nay, lúc nào tập luyện tôi cũng đeo nó, và khán phòng Con Edison chắc chắn có rất nhiều yếu tố gây mất tập trung. Nhưng có cả ba máy quay truyền hình lướt khắp phòng. Có một cái chĩa thẳng vào mặt tôi, tôi nghĩ đến tất cả những người quen biết tôi tình cờ ngồi xem buổi phát sóng: những bạn hồi trung học lâu rồi không gặp, những người bạn không biết gì về nỗi ám ảnh của tôi với trí nhớ, bố mẹ bạn gái tôi. Họ sẽ nghĩ sao khi bật tivi lên và thấy tôi đeo cặp kính bảo hộ to đùng, đen xì và đôi bịt tai, tay khẩy một cỗ bài? Cuối cùng, nỗi sợ bị xấu hổ trước công chúng đã lấn át bản năng cạnh tranh, và tôi bỏ cặp kính dưới sàn, ngay cạnh chân.
Ngồi ở đầu phòng, trọng tài chính, một cựu trung sĩ huấn luyện lính thủy quân lục chiến, hét lên, “Bắt đầu!”. Trọng tài của tôi bấm đồng hồ đếm giờ, và tôi bắt đầu lật những lá bài nhanh nhất có thể, mỗi lần chuyển ba lá bài sang tay phải. Tôi đang lưu giữ những hình ảnh đó trong cung trí nhớ tôi hiểu rõ hơn ai hết, ngôi nhà ở Washington, D.C., mà tôi đã sống từ khi lên bốn - cũng chính là căn nhà tôi đã dùng để ghi nhớ danh sách việc cần làm
của Ed khi ở trên tảng đá ở Central Park. Ở cửa chính, tôi thấy bạn tôi Liz đang mổ xẻ một con lợn (hai cơ, hai rô, ba cơ). Trong phòng, gã khổng lồ Hulk cưỡi máy tập xe đạp, và đôi móc khuyên tai to quá cỡ đang thõng xuống dái tai anh ta (ba nhép, bảy rô, J pích). Cạnh tấm gương ở chân cầu thang, Terry Bradshaw đang giữ thăng bằng trên xe đẩy (bảy cơ, chín rô, tám cơ), và ngay sau ông ta, một gã nài ngựa thấp lùn đội mũ rộng vành cầm ô nhảy dù từ chiếc máy bay (bảy pích, tám rô, bốn nhép). Được nửa cỗ bài, cái giọng Đức của Maurice lại réo lên và chui vào tai tôi. “Cấm đi!” Tôi nghe anh ta hét lên, chắc là nói với một thợ chụp ảnh khác. Lần này, tôi không bị mất tập trung. Trong phòng của anh tôi, tôi thấy bạn mình là Ben đang tè lên mũ của giáo hoàng Benedict (mười rô, hai nhép, sáu rô), Jerry Seinfeld nằm xoài, máu chảy trên ca-pô chiếc Lamborghini trong hành lang (năm cơ, át rô, J cơ), và ở chân cửa phòng bố mẹ tôi, tôi thấy mình đang “phiêu” với điệu moonwalk (điệu “đi lùi” nổi tiếng của Michael Jackson) cùng Einstein (bốn pích, K cơ, ba rô).
Thuật nhớ bài nhanh là làm sao đạt được sự cân bằng hoàn hảo giữa cử động mau lẹ và tạo các hình ảnh chi tiết. Bạn cần nhìn thoáng qua các hình ảnh vừa đủ lâu để có thể dựng lại chúng sau này và không để mất thời gian quý báu để tô vẽ thêm những màu sắc nhiều hơn cần thiết. Khi tôi dập hai tay lên bàn để bấm dừng đồng hồ, tôi biết mình đã đạt điểm “được” nhất của sự cân bằng đó. Nhưng tôi chưa biết nó “được” đến thế nào.
Trọng tài, người đang ngồi đối diện tôi, báo cho tôi thời gian trên đồng hồ của chị ta: một phút bốn mươi giây. Không chỉ tốt hơn thành tích tập luyện, mà tôi ngay lập tức nhận ra mình đã nghiền nát kỷ lục cũ của Mỹ, một phút năm ba giây. Tôi nhắm mắt, gục đầu xuống bàn, lẩm nhẩm chửi tục, và mất một giây để thấm thía rằng tôi đã làm được một điều - dù tầm thường và kỳ dị thế nào - tốt hơn bất cứ ai ở toàn nước Mỹ này.
Tôi ngước lên và liếc vội sang Maurice Stoll, anh vuốt vuốt râu có vẻ bối rối, biết là không phải phép nhưng tôi vẫn khoan khoái khi anh ta gặp khó. Rồi tôi nhìn sang Chester và lại căng thẳng lên. Anh ta đang cười tự tin. Không phải thế chứ. Anh ta đã nhấn đồng hồ ở tận hai phút mười lăm giây.
Theo tiêu chuẩn quốc tế, ba mươi giây là thành tích tốt nhất, vậy thành tích một phút bốn mươi giây của tôi chỉ tầm tầm mà thôi - tương đương một vận động viên người Âu tập luyện nghiêm túc chạy năm phút một dặm. Nhưng chúng tôi đâu phải đang ở châu Âu.
Khi thành tích thời gian của tôi lan khắp phòng, các máy quay và khán giả bắt đầu vây quanh bàn tôi. Trong tài rút ra một cỗ bài chưa xáo và đẩy về phía tôi. Nhiệm vụ của tôi bây giờ là sắp xếp cỗ bài chưa xáo đó cho trùng khớp với thứ tự với bộ bài tôi đã ghi nhớ.
Tôi rải cỗ bài chưa xáo ấy ra trên bàn, hít một hơi thật sâu rồi dạo bước trong cung trí nhớ của mình một lần nữa. Tôi có thể thấy mọi hình ảnh đậu ngay tại nơi tôi đã bỏ chúng lại, trừ hai hình ảnh. Đáng ra chúng phải ở trong phòng tắm, ướt nhoẹt, nhưng tôi chỉ có thể dò thấy những viên gạch lát trắng trơn.
Mình không nhìn thấy nó , tôi thầm thì điên dại. Mình không nhìn thấy nó. Tôi chạy một lượt thật nhanh qua từng hình ảnh. Liệu tôi đã quên hai ngón chân khổng lồ chăng? Một gã công tử bột đeo cà vạt chăng? Bộ ngực của Pamela Anderson? Con quỷ Lucky Charms? Một đoàn quân người Sikh đội khăn xếp? Không, không, không.
Tôi bắt đầu dùng ngón trỏ để rải những quân bài mình đã nhớ. Trên góc trái bàn, tôi đặt bạn Liz của tôi và con lợn chết của cô ấy. Cạnh cô ấy, gã khổng lồ Hulk ngồi trên xe đạp, và Terry Bradshaw ngồi xe lăn. Khi năm phút ghi nhớ sắp hết, tôi còn ba lá bài vẫn trên bàn.
Chúng là ba lá bài đã biến mất trong phòng tắm: K rô, bốn cơ, và bảy nhép. Bill Clinton đang “vui vẻ” với một quả bóng rổ. Sao tôi có thể bỏ qua nó được nhỉ?
Tôi nhanh chóng sắp xếp cỗ bài gọn gàng, rồi đẩy sang cho trọng tài bên kia bàn, tháo chụp tai và bịt tai. Tôi đã hoàn thành rất chính xác. Tôi không hề nghi ngờ gì hết.
Sau khi chờ một lúc cho máy quay truyền hình xoay quanh để có góc nhìn tốt hơn, trọng tài bắt đầu đếm từng lá bài một, lúc ấy, để thêm phần kịch tính, tôi cũng làm y như vậy với cỗ bài mình đã ghi nhớ.
Hai cơ. Hai cơ. Hai rô. Ba cơ Ba cơ...
Từng quân bài một, khớp từng quân. Khi chúng tôi đến cuối cỗ bài, tôi vứt quân bài cuối cùng lên bàn, ngước nhìn lên và ngoác miệng cười đần độn mà tôi không tài nào cưỡng lại được. Tôi là người giữ kỷ lúc nhớ bài mới của Mỹ. Đám đông quanh bàn tôi vỗ tay giòn giã. Ai đó huýt gió. Ben Pridmore đấm tay lên trời. Một cậu bé mười hai tuổi bước tới, đưa tôi cái bút và hỏi xin chữ ký.
Không rõ vì sao nhưng người ta đã quyết định rằng ba người đứng đầu ở ba phần thi đầu tiên buổi sáng được đặc cách vào vòng trong mà sẽ không phải thi đấu ở môn sơ loại cuối cùng của buổi sáng: nhớ thơ. Dù thành tích phần thi nhớ số của tôi thấp, thành tích kỷ lục về nhớ bài đủ để tôi xếp thứ hai trên bảng tổng, sau Maurice và trước “Người Băng” Chester. Chúng tôi sẽ vào thẳng tứ kết. Ba chúng tôi cùng Ben Pridmore rời phòng thi đấu rồi cùng đi ăn trưa trong không khí thân mật nhưng hầu như chẳng ai nói gì. Khi chúng tôi quay lại, ba chúng tôi ngồi trên sân khấu, cạnh Ram, người chạy marathon bốn bảy tuổi Paul Mellor, và cô bé mười bảy tuổi Erin Luley, người đã lập kỷ lục mới của Mỹ ở phần nhớ thơ, cô bé lập kỷ lục thứ hai trong ngày khi chúng tôi ra khỏi phòng.
Giờ chúng tôi chỉ còn sáu người, cuộc thi chuyển sang vòng hai, được thiết kế kịch tính hơn để thỏa mãn các máy quay truyền hình. Những hình đồ họa 3-D hợp mốt được chiếu lên màn hình trước phòng, ánh sáng đổ xuống sân khấu đặt sẵn sáu cái ghế cao cho chúng tôi đang ngồi, mỗi ghế để sẵn một micro gắn áo.
Phần thi đầu tiên của buổi chiều là nhớ từ ngẫu nhiên. Trong một phần thi nhớ từ ngẫu nhiên điển hình của một giải vô địch quốc gia điển hình, các thí sinh có mười lăm phút để ghi nhớ danh mục bốn trăm từ, rồi sau đó là một quãng nghỉ ngắn, và ba mươi phút để viết lại trên giấy những từ họ có thể nhớ, theo đúng thứ tự. Cách thi đấu ấy không phải dành cho khán giả theo dõi. Trong giải vô địch Mỹ, mọi chuyện đều diễn ra trên sân khấu, với hy vọng đem lại cho giải đấu những phút lo lắng căng thẳng, những tiếng gào hú inh ỏi, và cả những trò cười biến cuộc thi từ ngữ này trở thành một sân chơi hấp dẫn. Sáu chúng tôi ngồi theo vòng tròn, từng người một đọc từ tiếp theo trong danh sách chúng tôi nhớ. Hai vận động viên trí óc đầu tiên nhớ sai một từ sẽ bị loại.
Danh sách này gồm những danh từ và động từ cụ thể như “bò sát” và “chết đuối,” những
từ dễ hình dung nhất, trộn lẫn trong đó là những từ trừu tượng khó hình dung hơn như “đáng tiếc” và “ơn huệ” Dù mục tiêu ở phần thi nhớ từ ngẫu nhiên là ghi nhớ càng nhiều càng tốt, có lẽ cứ thế nhồi đầy cung trí nhớ của bạn đến tận nóc là hơi khinh suất. Tôi và Ed nhận thấy rằng, với luật thi đấu ở giải vô địch Mỹ, chiến lược khôn ngoan hơn là nên chọn ghi nhớ ít từ hơn. Tôi chỉ nhớ được 120 từ, nhưng chắc chắn đúng trăm phần trăm. Chúng tôi tính là hầu hết mọi người trên sân khấu có thể ghi nhớ nhiều từ hơn tôi, cũng có người quá mê mải mà cố ghi nhớ nhiều hơn khả năng của mình. Tôi sẽ không nằm trong số ấy.
Sau mười lăm phút ghi nhớ, chúng tôi, từng người một trên sân khấu đọc từ tiếp theo có trong danh sách: “sự châm biếm”... “biểu tượng”... “mái hiên”... “thòng lọng”... “giày vò... Khi chúng tôi đến từ thứ hai mươi bảy, Erin, người trong buổi sáng hôm đó đã ghi nhớ thơ giỏi hơn bất cứ vận động viên trí óc Mỹ nào trước đây, đã gặp lúng túng. Từ đó là “tê cóng”, năm chúng tôi còn lại đều biết - nhưng vì sao đó mà cô bé không thấy. Cô bé gục xuống ghế, lắc đầu. Chín từ sau, Paul Mellor nhầm “sự hoạt động” (danh từ) với “hoạt động” (động từ) - một lỗi kinh điển của những tay mơ. Hầu hết chúng tôi - đặc biệt là nhà sản xuất ở HDNet, hãng truyền hình đang phát đi từng diễn biến hấp dẫn - đã trông đợi một cuộc đấu gay cấn, mệt mỏi, kéo dài ít nhất là tới từ thứ một trăm. Thật khó hiểu nổi vòng thi này lại kết thúc sớm như vậy. Thậm chí đối với người vừa mới học xong nguyên tắc cung trí nhớ thường cũng có thể ghi nhớ ít nhất ba mươi hoặc bốn mươi từ trong lần thử đầu tiên. Tôi ngờ cả Erin lẫn Paul nhận định sai về các đối thủ khác và thất bại. Nghĩa là Ram, Chester, Maurice và tôi lọt vào vòng chung kết nhờ sai lầm của những người kia. Nghĩa là tôi cách trận chung kết Giải Vô địch trí nhớ Mỹ một bữa tiệc trà.
Một cô gái dáng cao, tóc nâu, mặc váy hè bước lên sân khấu và tự giới thiệu. “Xin chào, tôi là Diana Marie Anderson. Tôi sinh năm 1967, ngày 22 tháng Mười hai, ở Ithaca, New York, 14850. Đây là số điện thoại nơi làm việc, nhưng xin đừng gọi tôi theo số này, là 929-244- 6735, số lẻ 14. Tôi có một con thú cưng, tên nó là Karma, một con chó màu vàng. Tôi có vài sở thích: xem phim, đi xe đạp, và đan len. Loại xe yêu thích của tôi là xe T Ford Model 1927. Nó màu đen. Khi ăn, tôi pizza và món thạch, kem que vị bạc hà cay.”
Trong khi cô ta nói, Ram, Chester, Maurice, và tôi nhắm mắt lại, sốt sắng vẽ những hình ảnh trong cung trí nhớ. Ngày sinh của Diana 22/12/67, trở thành khối nặng một tấn (12) đang nghiền nát một bà sơ (22) khi bà đang uống sinh tố trái cây (67), tôi đặt ở trong cái bồn tắm có chân, xê dịch được, trong phòng tắm ngôi nhà kiểu Victoria. Sinh nhật cô ta, và mã vùng, tôi bước đến tủ đựng đồ trong nhà tắm và tưởng tượng một chiếc bánh xe tải khổng lồ (14) đang lăn trên mép một trong những hẻm núi nổi tiếng ở Ithaca, và rơi xuống hai người đàn ông (850). Bốn khách tiệc trà nữa xuất hiện trên sân khấu, và đọc tiểu sử với các chi tiết tương tự.
Phần thi có tên “Ba lần sai là bị loại,” nghĩa là hai thí sinh đầu tiên quên ba mẩu thông tin sẽ bị loại. Sau khi cho chúng tôi vài phút để đường cong lãng quên phát huy tác dụng của nó, năm khách tiệc trà quay lại sân khấu và bắt đầu chất vấn chúng tôi những câu hỏi về bản thân họ. Đầu tiên, chúng tôi được hỏi tên một phụ nữ trẻ có mái tóc vàng và đội mũ phớt bóng chày, người thứ tư trong năm vị khách. Chester, đang ngồi cuối hàng, biết tên cô ta. “Susan Lana Jones.” Tiếp theo, Maurice bị hỏi về ngày sinh cô ta, mà anh ta không biết, và khiến tôi tự hỏi liệu anh ta có bịp bợm chuyện ngủ ngon tối hôm trước không. Một gạch cho Maurice. May thay, tôi cũng biết sinh nhật cô ta. Tôi lôi nó ra từ cái chậu rửa mặt làm bằng đá đen trong cung trí nhớ tòa nhà hiện đại. Đó là 10 tháng Mười hai, 1975. Ram biết nơi cư trú của cô ấy: Bờ biển Bắc Miami, Florida, 33180, nhưng Chester không thể nhớ số điện thoại cô ấy. Một gạch cho Chester. Và Maurice cũng không nhớ. Hai gạch cho
Maurice. Máy quay chĩa vào tôi, chờ đợi tôi đọc lên mười chữ số, cộng với số máy lẻ. “Tôi thậm chí không cố ghi nhớ số điện toại cô ấy,” tôi nói, nhìn thẳng vào ống kính. Chiến lược của tôi là tập trung vào mọi thứ khác, và chỉ hy vọng rằng dãy số dài đó sẽ là vấn đề của ai khác. Một vạch cho Josh.
Cuộc chơi cứ tiếp tục như vậy, cho tới khi quay lại Maurice, anh ta còn không nhớ nổi dù chỉ một trong ba sở thích của một phụ nữ. Hẳn là anh ta cũng đánh được một giấc trong khi họ đọc tiểu sử của họ. Anh ta bị ba gạch. Thế là bị loại.
Còn lại ba chúng tôi trên sân khấu chuyền qua chuyền lại chi tiết tiểu sử thêm vài vòng nữa. Cuối cùng, đến lượt Chester đọc số điện thoại của một khách tiệc trà, gồm cả mã vùng và ba chữ số máy lẻ.
Chester nhếch mép và cúi xuống. “Tại sao bao giờ tôi cũng phải nhớ số điện thoại nhỉ? Các cô đùa tôi à?”
“Cuộc chơi là như vậy đấy,” Tony Dottino nói, ông đang đứng sau dãy ghế bên trái sân khấu, trong vai trò người dẫn chương trình.
“Tiếp tục nào, không ai biết số điện thoại cả.” “Anh là bậc thầy về nhớ số mà, Chester.”
Nếu tôi ngồi trên ghế của Chester, tôi cũng sẽ không nhớ được. Đó là vận đen khi Chester lại ngồi trên ghế kia, không phải tôi, vận đen mà anh ta gặp phải khi bị ba gạch trước cả tôi, và vì cái vận đen kia mà giờ đây tôi đang tiến vào vòng chung kết Giải Vô địch Trí nhớ Mỹ.
Có thông báo nghỉ mười phút giải lao trước phần thi chung kết, “Nhớ hai cỗ bài,” trong đó Ram và tôi sẽ có năm phút ghi nhớ hai cỗ bài như nhau. Khi tôi bước ra khỏi sân khấu, Maurice nắm lấy tôi và quàng tay lên vai tôi. “Anh là người chiến thắng,” anh ta nói thứ tiếng Anh như gió. “Ram không thể nhớ hai cỗ bài đâu. Đó là điều chắc chắn.” Tôi cảm ơn cụt ngủn anh ta, và cố rẽ đám đông để ra khỏi phòng. Ben chào tôi ở chân cầu thang, đang giơ bàn tay ra chờ đập tay ăn mừng.
“Ram chơi kém nhất ở phần thi nhớ bài,” anh ta phấn khích nói. “Giờ coi như anh thắng rồi đấy.”
“Thôi nào, anh định làm gì nào, yểm quẻ chăng?” “Anh chỉ cần làm bằng một nửa sáng nay là được.” “Đừng nói thế. Anh đang mang điềm gở đến đây đấy.” Anh ta xin lỗi và rời đi tìm Ram nói lời chúc tốt đẹp.
Ở phía bên trái sân khấu, Kenny Rice tiếp tục những bình luận. “Chúng ta gần tới giây phút quyết định của Giải vô địch Trí nhớ Mỹ. Năm ngoái, Ram Kolli đã thắng ở phần thi này. Liệu anh chàng hai lăm tuổi người Virginia có lặp lại thành tích ấy không, hay sẽ là Joshua Foer kẻ mới tới, một nhà báo mạng đã đưa tin về giải đấu này năm ngoái? Giờ anh ta đang cố giành chiến thắng. Phần thi cuối này, “Nhớ hai cỗ bài” là vòng thi đối đầu.
Tôi biết, dù nói trước sẽ bước không qua, rằng Ben và Maurice nói đúng. Ram gần như không thể nhớ một cỗ bài trong năm phút, đừng nói đến hai cỗ bài. Dưới ánh đèn làm đổ mồ hôi, đối mặt với tiếng rì rì của máy quay truyền hình, tôi biết mình chỉ cần đừng có nghẹn thở, và bàn tay bạc với móng tay sơn vàng kia sẽ là của tôi.
Điều đầu tiên tôi làm, sau khi ngồi xuống và đeo nút bịt tai, là đẩy cỗ bài thứ hai sang một bên. Tôi chỉ cần ghi nhớ hơn Ram một lá bài, nên tôi quyết định sẽ biết rõ cỗ bài đầu tiên đến tường tận. Tôi dành năm phút nhìn đi nhìn lại 52 quân lá bài đó, chỉ ngừng một thoáng chốc để liếc nhanh sang Ram, anh ta đang ngồi ở bàn cạnh tôi. Anh ta đang cầm một lá bài và ngâm cứu như thể đó là một loài côn trùng hiếm. Ô chúa ơi, gã này chẳng có cơ hội đâu, tôi nghĩ.
Sáu năm phút ghi nhớ, có màn tung đồng xu để quyết định ai là người đọc trước. Ram chọn mặt sấp. Đồng xu lại ngửa. Thế là tôi có quyền chọn mình bắt đầu trước, hay để Ram bắt đầu.
“Điều này quan trọng lắm,” tôi thầm thì, đủ lớn để micro bắt được tiếng. Tôi nhắm mắt và bước đi thật nhanh qua cỗ bài, xem liệu có khoảng trống nào trong cung trí nhớ không, những nơi mà vì lý do nào đó hình ảnh không dính lại, như đã xảy ra vào buổi sáng. Nếu có, tôi muốn Ram phải chịu trách nhiệm cho những lá bài ấy, không phải tôi. Cuối cùng, sau một hồi lâu, tôi mở mắt. “Tôi sẽ bắt đầu.”
Tôi lại suy nghĩ chừng hơn một giây. “Không, không, không. Đợi đã. Ram có thể bắt đầu.” Điều đó nghe như thể một đòn tâm lý trong thi đấu, nhưng thực sự tôi nhận ra mình không thể nhớ lá bài thứ bốn ba trong cỗ bài. Tôi muốn chắc rằng lá bài đó sẽ thuộc trách nhiệm của Ram.
Dottino. “Được rồi, Ram, anh là người đọc bài trước.” Ram vân vê ngón tay một lát. “Hai rô.”
Rồi đến tôi: “Q cơ.” “Chín nhép.”
“K cơ.”
Ram ngước lên trần nhà và dựa vào ghế.
Tôi có thể thấy anh ta lắc đầu. Không đời nào, tôi nghĩ. Anh ta nhìn xuống. “K rô ư?”
Giờ đây tôi lắc đầu. Tôi biết anh ta bị loại. Ở lá bài thứ năm! Tôi nhìn sang Ram, đang sốc. Anh ta đã hớ. Anh ta đã thất bại. Maurice, đang ngồi hàng ghế trước, đưa tay bóp trán.
“Nước Mỹ có nhà vô địch trí nhớ mới.”
Tôi không đứng lên. Tôi thậm chí còn không chắc mình có hé miệng cười không. Một phút trước đó, tôi chỉ muốn chiến thắng. Nhưng giờ đây cảm xúc đầu tiên của tôi không phải hạnh phúc hay nhẹ nhõm hay tự chúc mừng. Tôi ngạc nhiên khi phát hiện ra, cảm giác ấy đơn giản là mệt mỏi. Tôi cảm thấy cơn mất ngủ đêm hôm trước chợt ùa đến, và vùi đầu vào tay một lát. Mọi người đang xem ở nhà hẳn nghĩ rằng tôi mất tự chủ vì xúc động. Thực tế, tôi vẫn bị mắc kẹt trong cung trí nhớ của mình, bồng bềnh trong một thể giới những
hình ảnh không có trong hiện thực, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi chúng dường như còn hiện thực hơn là cái sân khấu tôi đang ngồi. Tôi ngước lên và thấy, chiếc cúp hai tầng hào nhoáng lấp lánh ở rìa sân khấu. Ram đưa tay ra bắt tay tôi, thầm vào tai tôi, “Lá bài thứ năm là quân gì vậy?”
Tôi buông tay, quay sang anh ta, thì thầm lại. “Năm nhép.” Dom Deluise. Đang lắc mông. Tất nhiên.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)