Chương mười một - Giải Vô địch Trí nhớ Hoa Kỳ
giải Vô địch Trí nhớ Hoa Kỳ năm 2006 có một phần thi mới, phần thi trước đấy chưa hề xuất hiện trong lịch sử các cuộc thi trí nhớ. Nó được gán cho tên gọi vang chan chát là “Ba lần sai là rời tiệc trà” để làm hài lòng những nhà sản xuất HDNet và mạng truyền hình cáp lần đầu tiên đưa giải lên sóng truyền hình quốc gia. Năm người lạ trong vai những vị khách tại một tiệc trà, sẽ bước lên sân khấu và nói với các thí sinh mười thông tin về bản thân - địa chỉ, số điện thoại, sở thích, ngày sinh, đồ ăn ưa thích, tên con vật nuôi, mẫu xe ô tô và nhà sản xuất, v.v... Đây là phần thi sát nhất với những đòi hỏi cuộc sống từng được đưa vào trong một giải đấu trí nhớ. Tôi không biết sẽ chuẩn bị như thế nào, và mãi đến khoảng một tháng rưỡi trước giải đấu, tôi mới nghĩ tới nó; ấy là vào hai buổi tối khi Ed và tôi trao đổi qua cuộc điện thoại xuyên Đại Tây Dương nhằm sáng tạo ra một hệ thống sẽ cho phép tôi lưu giữ những thông tin cá nhân ấy một cách nhanh chóng và dễ dàng trong một cung trí nhớ được thiết kế đặc biệt dành riêng cho mỗi người lạ.
Tôi đã dựng trong trí tưởng tượng những tòa nhà, mỗi tòa dành cho một khách dự “tiệc trà.” Mỗi tòa nhà xây theo phong cách khác nhau nhưng thiết kế phòng tương tự nhau, gồm một phòng lớn ở giữa và những phòng xung quanh. Cung đầu tiên là một khối nhà kính hiện đại theo kiểu tòa Nhà Kính của Philip Johnson; căn nhà thứ hai là kiểu nhà mái tháp thời nữ hoàng Anne mà bạn có thể thấy khắp San Francisco, với nhiều nét trang trí rườm rà phô trương; ngôi nhà thứ ba xây theo phong cách Frank Gehry, với tường gợn sóng bọc titan và những cửa sổ cong; thứ tư là loại nhà gạch đỏ của Thomas Jefferson, Monticello; và ngôi nhà thứ năm không có gì đặc biệt, ngoại trừ tất cả các bức tường đều sơn màu xanh dương nhạt. Phần bếp mỗi ngôi nhà là nơi lưu địa chỉ. Phòng làm việc sẽ giữ số điện thoại. Phòng ngủ lớn là nơi để sở thích, và phòng tắm là cho ngày sinh, v.v...
Ba tuần trước giải, sau khi xem điểm số tôi gửi cho anh ta, Ed gọi điện bảo tôi cần ngưng luyện mọi phần thi khác để tập trung cho phần tiệc trà. Tôi tập hợp bạn bè và gia đình rồi bảo họ bịa ra các thông tin tiểu sử để tôi ghi nhớ trong những cung trí nhớ mới mà tôi đã cần mẫn tạo riêng ra. Thêm vài buổi ăn tối thiếu phần lãng mạn với bạn gái tôi, để cô ấy mặc sức tưởng tượng rồi kể tôi nghe những câu chuyện về cuộc đời cô ấy, là thôn nữ ở Nebraska hay một bà nội trợ vùng ngoại ô hay cô thợ may Paris, và tôi sẽ đọc lại cho cô ấy nghe lúc ăn tráng miệng.
Một tuần trước giải, ngay khi tôi muốn rèn luyện cật lực nhất, thì Ed bảo tôi phải dừng lại. Các vận động viên trí óc luôn ngưng việc rèn luyện một tuần trước khi giải đấu để dọn sạch các cung trí nhớ. Họ đi qua các cung giũ bỏ những hình ảnh còn vương vất, bởi vì giữa lúc thi đấu nước sôi lửa bỏng, bạn sẽ không bao giờ muốn tình cờ nhớ ra điều gì đó vừa ghi nhớ tuần trước. “Một số thí sinh, khi đạt đến đẳng cấp cao thực sự, còn không nói chuyện gì với ai trong ba ngày trước giải đấu,” Tony Buzan bảo tôi. “Họ cảm thấy rằng bất kỳ mối liên hệ nào đi vào đầu họ cũng có thể ảnh hưởng tới những mối liên hệ họ tạo ra trong cuộc thi.”
Đến lúc bấy giờ, theo kế hoạch Ed sẽ có mặt trên khán đài giải Vô địch Mỹ. Nhưng ngay trước khi giải đấu diễn ra, anh ta lại sang đại học Sydney, Úc nhân cơ hội có một không hai là nghiên cứu triết học về vấn đề hiện tượng học trong môn thể thao cricket. (Anh ta tin rằng so với những chuyên gia giới tính gà hay đại kiện tướng cờ vua, môn thể thao cho
anh có những ví dụ minh họa rõ ràng hơn để minh chứng cho công trình của anh ta rằng nhận thức con người về thế giới chịu ảnh hưởng rất mạnh của trí nhớ.) Thế là bỗng nhiên chuyện anh ta đến dự giải thành ra chẳng có gì chắc chắn, khi mà chuyến bay từ nửa bán cầu kia giờ trở nên dài hơn và đắt đỏ hơn.“Có cách nào làm cậu bớt bực vì chuyện có khả năng tôi vắng mặt không?” anh ta e-mail hỏi tôi vài ngày trước cuộc thi. Tôi cảm thấy lo sợ nhiều hơn là bực bội. Dù tôi có bảo mọi người rằng tôi chỉ do chợt thấy hứng thú mà tham gia cuộc thi đấy thôi - “một cách kỳ quặc để tiêu tốn thì giờ buổi sáng cuối tuần”, tôi nói đùa thế với người bạn về “cuộc chơi lập dị” này chỉ để che giấu sự thật là tôi muốn giành chiến thắng đến chết đi được.
Vào phút chót, Ed quyết định ở lại Úc, nghĩa là còn mỗi mình tôi lo nghĩ về những đấu thủ khác, phỏng đoán trong năm qua họ đã luyện tập kham khổ ra sao, và băn khoăn liệu có ai đó sẽ làm chúng tôi ngạc nhiên bằng cách công bố một kỹ thuật mới sẽ đưa môn thể thao này đến một cấp độ mà tôi chẳng thể đạt tới không. Tham gia cuộc thi lần này có Ram Kolli, đương kim vô địch lúc nào cũng hoan hỉ và vô tâm, người mà tôi biết là có tài bẩm sinh nhất trong nhóm. Nếu anh ta quyết tâm rèn luyện kham khổ như người châu Âu thì chúng tôi sẽ chẳng có cơ hội nào. Nhưng tôi đồ rằng anh ta chẳng có kỹ thuật mới nào hết. Người khiến tôi dè chừng nhất là Maurice Stoll. Nếu ai bỏ thời gian để phát triển một hệ thống PAO thiên niên kỷ như Ed, hay một hệ thống 2.704 hình ảnh như Ben, thì nhiều khả năng người đó là Maurice.
Buổi tối trước giải đấu, Ed gửi e-mail cho tôi với lời khuyên cuối cùng: “Anh chỉ cần nhấm nháp những hình ảnh, và thực sự tận hưởng chúng. Chừng nào anh còn làm chính mình bất ngờ với tính sống động của chúng thì anh sẽ thi đấu tốt. Dù ở bất kỳ giai đoạn nào cũng chớ nên lo lắng. Cứ thoải mái, mặc kệ các đối thủ mà vui vẻ đi. Tôi tự hào về anh rồi đấy. Và hãy nhớ, các cô nàng đào xới những vết thương còn vinh quang là vĩnh viễn.”
Đêm hôm đó, lúc nằm trên giường, ngược xuôi diễu qua từng cung trí nhớ của mình trong nỗi ám ảnh, nơm nớp lo về Maurice. Tôi không tài nào ngủ được, đúng y như tình trạng của Maurice tại giải năm trước, chuyện này đối với vận động viên trí óc cũng như cầu thủ “bị gãy chân trước trận bóng.”
Rồi đến chừng ba giờ, nhờ mấy viên Tylenol PM tôi cũng thiếp đi được, và gặp cơn ác mộng kinh hoàng trong đó Danny DeVito và Rhea Perlman, quân K pích và Q pích của tôi, đang cưỡi trên một con ngựa, tức quân bảy pích, đi quanh bãi đỗ xe hàng tiếng đồng hồ, vô vọng tìm nơi để đỗ con xe Lamborghini Countach, quân J cơ. Cuối cùng, họ và con ngựa tan ra thành nhựa đường, trong khi Maurice Stoll đứng nhìn cùng tiếng cười lục khục nham hiểm của bác sĩ Mengele. Bốn tiếng sau tôi thức giấc, lờ đờ và mụ mị, và vô tình gội đầu tận hai lượt - một điềm báo xấu, nếu quả có điềm báo thật.
Khi tôi ra khỏi thang máy trên tầng mười chín trụ sở Con Edison, người đầu tiên tôi đụng phải là Ben Pridmore. Anh ta đã từ Anh bay sang vào dịp cuối tuần chỉ để thám thính đấu trường Mỹ. Tại sân bay Manchester, anh ta đã vung tiền nâng lên ghế hạng nhất vào phút chót. “Tôi còn biết tiêu tiền vào việc gì khác đây?” anh ta hỏi tôi. Tôi nhìn xuống đôi giày da cóc gặm với dây giày muốn tuột ra của anh ta và đáp: “Nói hay lắm.”.
“Phần thi đầu tiên còn chưa bắt đầu, thế mà tôi đã hoang mang rồi,” tôi bảo Ben. Tôi giải thích về cơn mất ngủ và vụ gội đầu tận hai lần, và anh ta cho rằng tôi dùng thuốc ngủ là lợi bất cập hại, anh ta bảo, mấy thứ dược chất trong thuốc hẳn vẫn còn bơi lội trong huyết quản tôi.
Tôi nốc hai cốc lớn cà phê, và thật tình thấy bồn chồn hơn là mỏi mệt. Chủ yếu là tôi cảm thấy ngu ngốc vì đã hành hạ vũ khí cần có để thi đấu. Lúc này, Maurice đi vào, đội chiếc mũ phớt có logo đội bóng chày Texas A&M Aggies và mặc áo sơ mi hoa hòe hoa sói, trông vênh váo hơn nhiều so với năm ngoái. Tự tin đến phát sợ. Từ bên kia phòng, anh ta nhận ra tôi và bước thẳng đến bắt tay, rồi tự giới thiệu với huyền thoại Ben Pridmore.
“Anh đã quay lại,” Maurice bảo tôi. Đó là một lời xác nhận chứ không phải câu hỏi. Đúng ra tôi định lẳng lặng đến gần và làm Maurice ngạc nhiên, nhưng xem ra anh ta đã biết tôi sẽ tham dự từ trước. Hẳn ai đó đã cho anh ta biết rằng tôi đã tập luyện cùng Ed Cooke.
“Vâng, tôi nghĩ là tôi sẽ thử thi đấu năm nay xem sao,” tôi nói vẻ hờ hững, và chỉ vào biển tên của mình, trên đó viết “Joshua Foer, Vận động viên trí óc.”
“Như một trải nghiệm báo chí thôi.”
Tôi hỏi, “Năm nay vụ nhớ các con số của anh thế nào?” tôi đang thăm dò xem anh ta đã nâng cấp hệ thống chưa.
“Tốt lắm. Còn anh?”
“Tốt. Phần thi nhớ quân bài thế nào?” “Không tồi. Anh?”
“Tôi sẽ chắc sẽ ổn ở phần nhớ quân bài,” tôi nói. “Anh vẫn dùng hệ thống như năm ngoái
à?”
Anh ta nhún vai, không đáp, và hỏi tôi, “Hôm qua anh ngủ thế nào?” “Sao cơ?”
“Hôm qua anh ngủ thế nào?”
Sao anh ta hỏi tôi vậy? Sao anh ta biết tôi mất ngủ? Maurice định chơi trò gì đây? “Anh nhớ không, năm ngoái tôi có ngủ ngon đâu,” anh ta nói tiếp.
“Vâng, tôi nhớ rồi. Còn năm nay?” “Năm nay, tôi ngủ cũng được.”
“Josh phải dùng đến thuốc ngủ đấy,” Ben sốt sắng nói.
“Vâng, à, toàn giả dược ấy mà, đâu có tác dụng gì thật, đúng không?”
“Có lần trong lúc tập luyện tôi đã cố dùng thuốc ngủ, và sáng hôm sau trong lúc ghi nhớ những con số tôi lại thấy buồn ngủ,” Maurice nói. “Anh biết đấy, thiếu ngủ là kẻ thù của trí nhớ.”
“Ồ.”
“Dù sao thì cũng chúc anh may mắn.”
“Vâng, cũng chúc anh may mắn.”
Điểm mới ở năm nay là cả rừng máy quay truyền hình lượn lờ vo ve khắp phòng và những người bình luận trực tiếp - người dẫn chương trình kỳ cựu chương trình đấm bốc Kenny Rice, và người cùng tham gia bình luận, bốn lần vô địch Mỹ Scott Hagwood - ngồi ngay trước khán đài. Sự hiện diện của họ tạo cho cuộc thi không khí một bộ phim tài liệu không thực. Có phải tôi vừa nghe Rice mô tả các thí sinh là đã “đưa năng lực trí óc lên một tầm cao mới” không nhỉ?
Ở các giải quốc tế tôi đã đến xem, vào những giây phút trước trận đấu, các đấu thủ ngồi riêng rẽ, đeo đôi bịt tai hoặc tập tành để khởi động bộ não, còn ở đây các thí sinh ở giải Mỹ lại loanh quanh đi lại chuyện trò, như thể họ sắp đi đo mắt chứ chẳng thi thố gì cả. Tôi lui vào một góc, nhét cái bịt tai vào, và cố tẩy sạch đầu óc như một chuyên gia trí nhớ Âu châu thực sự.
Tony Dottino, một nhân viên tư vấn quản trị doanh nghiệp, năm mươi tám tuổi, người mảnh khảnh, tóc ánh bạc, để ria mép, đang đứng trước khán phòng để giới thiệu cuộc thi. Dottino đã sáng lập giải Vô địch Trí nhớ Mỹ vào năm 1997, và từ bấy đến nay đã tổ chức giải được mười ba lần. Ông là một trong những môn đệ người Mỹ của Tony Buzan. Dottino kiếm sống bằng việc tư vấn các công ty như IBM, British Airways, và Con Edison (vậy nên đây là nơi tổ chức giải chẳng ai ngờ tới) để người lao động ở đấy sử dụng các kỹ thuật ghi nhớ sao cho công việc hiệu quả hơn.
“Các bạn chính là những người cho người dân đất nước này biết rằng trí nhớ không phải dành cho kẻ lập dị,” ông tuyên bố với đám người lập dị đang tụ hội trước mặt. “Các bạn sẽ là hình mẫu mọi người sẽ noi theo. Nếu nói tới chuyện viết nên trang sử cho giải đấu này, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ con mà thôi. Chính các bạn” - ông dùng cả hai ngón tay trỏ chỉ vào chúng tôi - “mới đang viết những trang sử đó.” Tôi chẳng muốn nghe gì thêm những gì ông ta nói, tôi chụp nút tai, và dạo một lượt cuối cùng qua từng cung trí nhớ. Tôi đang kiểm tra, như Ed đã dạy tôi, để đảm bảo mọi cánh cửa sổ đã mở ra cho ánh chiều rực rỡ tràn vào, để những hình ảnh của tôi sẽ rõ nét nhất.
Những người góp phần “viết nên lịch sử” là ba mươi sáu vận động viên trí óc đến từ mười bang khác nhau, trong đó gồm một mục sư phái Luther người Wisconsin, tên là T. Michael Harty, khoảng sáu đứa trẻ thuộc nhóm Một phần mười là nhân tài của Raemon Matthew, và một huấn luyện viên trí nhớ chuyên nghiệp bốn mươi bảy tuổi người Richmond, Virginia, tên Paul Mellor, ông tham gia các cuộc marathon ở cả năm mươi bang và mới tuần trước đây đã ở New Jersey để dạy các cảnh sát ghi nhớ biển số xe.
Ở dãy bàn phía sau mới là những tay sừng sỏ. Đây là những người mà Dottino đã dự đoán sẽ chạy đua giành danh hiệu. Tôi thật hân hạnh được liệt vào trong nhóm ấy, dẫu phải ngồi ghế cuối hàng. (Ở giải năm trước Dottino và tôi đã nói chuyện vài lần, và tôi vẫn cập nhật điểm số của tôi cho ông ta, nên ông ta biết tôi có cơ hội chiến thắng). Trong nhóm này còn có một kỹ sư phần mềm, ba sáu tuổi, người San Francisco, tên Chester Santos, mang bí danh “Người Băng,” chẳng hợp gì với cách ăn nói dịu dàng và bẽn lẽn của anh ta cả. Năm ngoái anh ta đứng thứ ba. Tôi rất ngờ là Chester không ưa tôi lắm. Sau khi tôi đã viết bài báo đầu tiên cho báo Slate nói về giải vô địch Mỹ năm trước, tôi đã nhận được một e-mail mà anh ta đã gửi cho Tony Dottino. Trong thư, Chester kêu ca rằng bài báo của tôi đúng là “KINH HOÀNG” vì tôi đã khiến cho Lukas và Ed “nghe có vẻ hay ho lắm,” trong khi các vận động viên Mỹ được mô tả như “những kẻ lười biếng và nghiệp dư toàn tập.” Giờ đây, chỉ sau một năm luyện tập, tôi lại trơ tráo đi đối mặt với anh ta, thật chẳng còn gì xúc phạm hơn.
Ở ngoài biên, tôi nghe Kenny Rice nói, “Hẳn là đáng gờm, như một kẻ nghiệp dư chấp nhận đấu tay đôi với LeBron James.” Tôi nhận ra ông ấy đang nói về tôi.
Dù ở các giải vô địch trí nhớ quốc gia khác trên thế giới, các môn thi đấu được thiết kế theo gần như cùng một chuẩn, với những luật thi đấu chuẩn do Hội đồng Thể thao Trí nhớ Thế giới ban hành, thì nước Mỹ mọi thứ có hơi khác. Trong các giải quốc tế, khi kết thúc giải đấu, điểm số của từng đấu thủ được cộng lại để xác định người thắng, còn giải Mỹ lại khác một chút: vòng sơ loại buổi sáng gồm bốn phần thi cổ điển dùng giấy và bút - tên người và khuôn mặt, nhớ số nhanh, nhớ bài nhanh, và nhớ thơ - để chọn ra sáu người vào chung kết. Buổi chiều, sáu người vào chung kết sẽ tranh tài ở ba phần thi “đấu loại” độc đáo, phù hợp với việc phát lên truyền hình là “Những từ phải nhớ,”
“Ba lần sai là rời tiệc trà,” và “Bắt hai cỗ bài,” những phần thi này sẽ cắt tỉa dần các thí sinh cho tới khi chỉ còn lại duy nhất nhà vô địch.
Phần thi đầu tiên của buổi sáng là tên người khuôn mặt, phần tôi luôn làm rất tốt khi luyện tập. Luật chơi là nhìn vào chín mươi chín hình chụp chân dung và ghi nhớ tên, họ tương ứng với mỗi khuôn mặt. Thí sinh ghi nhớ bằng cách tưởng tượng ra từng hình ảnh khó quên để liên hệ đến khuôn mặt với cái tên. Ví dụ, Edward Bedford là một trong chín mươi chín cái tên mà chúng tôi phải ghi nhớ. Anh ta là người da đen, có chòm râu dê, đầu bắt đầu hói, đeo kính mát và đeo khuyên bên tai trái. Để kết nối khuôn mặt đó với cái tên đó, tôi cố hình dung Edward Bedford đang nằm trên giường (bed) của một chiếc xe tải Ford, rồi nhận định như vậy chưa đủ nổi bật, tôi thấy anh ta đang lội (fording) qua một dòng sông trên một chiếc giường (bed) nổi. Để ghi nhớ tên anh ta là Edward, tôi đặt Edward Scissorhands trên giường cạnh anh ta, đang xén vụn tấm thảm khi anh ta cưỡi tấm thảm qua sông.
Tôi sử dụng một mẹo khác để ghi nhớ Sean Kirk, một gã da trắng để tóc mullet với tóc mai dài và nụ cười méo xệch như nạn nhân đột quỵ. Tôi so sánh anh ta với phóng viên Sean Hannity của hãng Fox News và Thuyền trưởng Kirk của Starship Enterprise (tàu không gian trong bộ phim Star Trek), và vẽ trong đầu tôi hình ảnh ba người họ đang tạo thành một tháp người.
Sau mười lăm phút cho các thí sinh nhìn những tên và khuôn mặt đó, một trọng tài sẽ đến và lấy đi tập ảnh vừa xem rồi đưa cho chúng tôi tập ảnh mới, với những khuôn mặt đó và sắp xếp theo trật tự khác, lần này không kèm theo tên. Chúng tôi có mười lăm phút để nhớ lại càng nhiều càng tốt.
Khi tôi đặt bút xuống và đưa bản kết quả của mình, tôi nghĩ điểm số của mình nằm đâu đó ở giữa nhóm. Những cái tên như Sean Kird và Edward Bedford xuất hiện ngay, nhưng tôi đã quên khuấy mất một cô tóc vàng dễ thương, và một đứa bé con có tên giống tiếng Pháp, và vài người khác, nên khó mà nghĩ tôi làm tốt cả. Ngạc nhiên thay, thành tích 107 họ và tên tôi nhớ được đủ để xếp ở hạng ba, chỉ sau Ram Kolli với thành tích 115, và trước Maurice Stoll, nhớ được 104. Người chiến thắng là một vận động viên bơi lội mười bảy tuổi từ Mechanicsburg, Pennylvania, tên Erin Hope Luley, đã nhớ được 124 họ và tên, một kỷ lục mới của Mỹ, và là một điểm số hẳn sẽ nhận được cái gật đầu kính trọng thậm chí của cả những người Đức giỏi nhất. Khi tên của cô được xướng lên, cô đứng dậy và vẫy tay vẻ ngượng ngùng. Tôi nhìn Ram, và bắt gặp anh ta nhìn tôi. Anh ta nhíu mày như thể muốn nói, “Con bé này ở đâu ra ấy nhỉ?”
Phần thi thứ hai của buổi sáng là nhớ số nhanh, môn thi tôi kém nhất. Đây là môn thi mà sự huấn luyện của Ed chẳng cho tôi mấy lợi thế - vì tôi lờ đi hầu hết mọi lời khuyên thị của Ed. Suốt mấy tháng anh ta thúc giục tôi phát triển một hệ thống phức tạp hơn để nhớ những con số - không hẳn giống Hệ thống PAO Thiên niên kỷ “Chiến hạm 64 khẩu” mà anh ta mất nhiều tháng trời tạo ra, song ít nhất cũng phải hơn Hệ thống Lớn hầu hết các vận động viên người Mỹ khác đang dùng. Tôi chiều theo ý anh ta và phát triển một hệ thống PAO cho năm mươi hai quân bài, nhưng chưa bao giờ bắt tay vào xây dựng hệ thống tương tự cho tất cả các số từ 00 đến 99.
Sử dụng Hệ thống Lớn như các vận động viên trí óc khác, tôi dành năm phút để tập nhớ chín mươi tư chữ số, thành tích an toàn nhưng khá xoàng, ngay cả theo chuẩn Mỹ. Vậy mà tôi vẫn bị nhầm ở cặp số thứ tám mươi tám (thay vì Bill Cosby, lẽ ra tôi nên thấy hình ảnh một gia đình đang chơi môn cờ do Milton Bradley phát minh). Tôi đổ hết lỗi cho Maurice về màn trình diễn nghèo nàn của mình, vì dù đã đeo đôi chụp tai rồi mà tôi vẫn nghe được anh ta cứ gào lên thô lỗ, “Chụp ảnh thế chưa đủ à?” với một gã thợ ảnh cứ lượn lờ quanh phòng. Song, tám mươi bảy chữ số giúp tôi ở vị trí thứ năm. Maurice đã nhớ được 148 số, một kỷ lục mới của Mỹ, và Ram kết thúc ở thứ hai với 124 số. Erin xuống thứ mười một, chỉ nhớ được năm mươi hai chữ số. Tôi đứng lên, duỗi người, và uống cốc cà phê thứ ba. “Người ta gọi họ là MAs, hay mental athletes - vận động viên trí óc,” tôi nghe Kenny Rice nghiêm nghị nói trước máy quay, “nhưng ở thời điểm nay của giải, MA có thể mang nghĩa khác: mental anguish[29].”
Tuy trong phần nhớ số tôi thể hiện kém, nhưng đến phần nhớ bài tiếp theo, tôi là thí sinh duy nhất được trang bị cái Ed gọi là “Vũ khí tối tân nhất của châu Âu.” Hầu hết các vận động viên Mỹ vẫn đặt mỗi lá bài vào một “điểm chứa”, thậm chí những người đã thi đấu nhiều năm như Ram và “Người Băng” Chester, giỏi lắm cũng chỉ hai quân bài thành một hình ảnh. Thực tế, chỉ vài năm trước ở giải vô địch Mỹ, hoàn toàn chưa thấy nhắc đến người nào có thể ghi nhớ cả một cỗ bài. Nhớ Ed mà hệ thống PAO tôi đang dùng gói ghém được ba quân bài vào một hình ảnh, nghĩa là hiệu quả hơn ít nhất năm mươi phần trăm so với hệ thống các vận động viên Mỹ khác sử dụng. Đó là lợi thế khổng lồ. Dù Maurice, Chester, và Ram sẽ hạ tôi những môn khác, tôi hy vọng mình sẽ có thể tăng điểm số ở phần nhớ bài nhanh.
Mỗi thí sinh có riêng một trọng tài cầm đồng hồ bấm giờ ngồi trước mặt. Trọng tài của tôi là một phụ nữ trung tuổi, chị ta ngồi xuống, mỉm cười và nói gì đó tôi không nghe được do đôi chụp tai và cả nút bịt lỗ tai. Tôi đã mang theo cả cặp cặp kính đã bảo hộ đã sơn đen để dùng trong phần thi nhớ bài, và cho đến lúc một cỗ bài mới xáo đặt trên bàn trước mặt tôi, tôi vẫn đang cân nhắc có nên đeo chúng không. Nhiều tuần nay, lúc nào tập luyện tôi cũng đeo nó, và khán phòng Con Edison chắc chắn có rất nhiều yếu tố gây mất tập trung. Nhưng có cả ba máy quay truyền hình lướt khắp phòng. Có một cái chĩa thẳng vào mặt tôi, tôi nghĩ đến tất cả những người quen biết tôi tình cờ ngồi xem buổi phát sóng: những bạn hồi trung học lâu rồi không gặp, những người bạn không biết gì về nỗi ám ảnh của tôi với trí nhớ, bố mẹ bạn gái tôi. Họ sẽ nghĩ sao khi bật tivi lên và thấy tôi đeo cặp kính bảo hộ to đùng, đen xì và đôi bịt tai, tay khẩy một cỗ bài? Cuối cùng, nỗi sợ bị xấu hổ trước công chúng đã lấn át bản năng cạnh tranh, và tôi bỏ cặp kính dưới sàn, ngay cạnh chân.
Ngồi ở đầu phòng, trọng tài chính, một cựu trung sĩ huấn luyện lính thủy quân lục chiến, hét lên, “Bắt đầu!”. Trọng tài của tôi bấm đồng hồ đếm giờ, và tôi bắt đầu lật những lá bài nhanh nhất có thể, mỗi lần chuyển ba lá bài sang tay phải. Tôi đang lưu giữ những hình ảnh đó trong cung trí nhớ tôi hiểu rõ hơn ai hết, ngôi nhà ở Washington, D.C., mà tôi đã sống từ khi lên bốn - cũng chính là căn nhà tôi đã dùng để ghi nhớ danh sách việc cần làm
của Ed khi ở trên tảng đá ở Central Park. Ở cửa chính, tôi thấy bạn tôi Liz đang mổ xẻ một con lợn (hai cơ, hai rô, ba cơ). Trong phòng, gã khổng lồ Hulk cưỡi máy tập xe đạp, và đôi móc khuyên tai to quá cỡ đang thõng xuống dái tai anh ta (ba nhép, bảy rô, J pích). Cạnh tấm gương ở chân cầu thang, Terry Bradshaw đang giữ thăng bằng trên xe đẩy (bảy cơ, chín rô, tám cơ), và ngay sau ông ta, một gã nài ngựa thấp lùn đội mũ rộng vành cầm ô nhảy dù từ chiếc máy bay (bảy pích, tám rô, bốn nhép). Được nửa cỗ bài, cái giọng Đức của Maurice lại réo lên và chui vào tai tôi. “Cấm đi!” Tôi nghe anh ta hét lên, chắc là nói với một thợ chụp ảnh khác. Lần này, tôi không bị mất tập trung. Trong phòng của anh tôi, tôi thấy bạn mình là Ben đang tè lên mũ của giáo hoàng Benedict (mười rô, hai nhép, sáu rô), Jerry Seinfeld nằm xoài, máu chảy trên ca-pô chiếc Lamborghini trong hành lang (năm cơ, át rô, J cơ), và ở chân cửa phòng bố mẹ tôi, tôi thấy mình đang “phiêu” với điệu moonwalk (điệu “đi lùi” nổi tiếng của Michael Jackson) cùng Einstein (bốn pích, K cơ, ba rô).
Thuật nhớ bài nhanh là làm sao đạt được sự cân bằng hoàn hảo giữa cử động mau lẹ và tạo các hình ảnh chi tiết. Bạn cần nhìn thoáng qua các hình ảnh vừa đủ lâu để có thể dựng lại chúng sau này và không để mất thời gian quý báu để tô vẽ thêm những màu sắc nhiều hơn cần thiết. Khi tôi dập hai tay lên bàn để bấm dừng đồng hồ, tôi biết mình đã đạt điểm “được” nhất của sự cân bằng đó. Nhưng tôi chưa biết nó “được” đến thế nào.
Trọng tài, người đang ngồi đối diện tôi, báo cho tôi thời gian trên đồng hồ của chị ta: một phút bốn mươi giây. Không chỉ tốt hơn thành tích tập luyện, mà tôi ngay lập tức nhận ra mình đã nghiền nát kỷ lục cũ của Mỹ, một phút năm ba giây. Tôi nhắm mắt, gục đầu xuống bàn, lẩm nhẩm chửi tục, và mất một giây để thấm thía rằng tôi đã làm được một điều - dù tầm thường và kỳ dị thế nào - tốt hơn bất cứ ai ở toàn nước Mỹ này.
Tôi ngước lên và liếc vội sang Maurice Stoll, anh vuốt vuốt râu có vẻ bối rối, biết là không phải phép nhưng tôi vẫn khoan khoái khi anh ta gặp khó. Rồi tôi nhìn sang Chester và lại căng thẳng lên. Anh ta đang cười tự tin. Không phải thế chứ. Anh ta đã nhấn đồng hồ ở tận hai phút mười lăm giây.
Theo tiêu chuẩn quốc tế, ba mươi giây là thành tích tốt nhất, vậy thành tích một phút bốn mươi giây của tôi chỉ tầm tầm mà thôi - tương đương một vận động viên người Âu tập luyện nghiêm túc chạy năm phút một dặm. Nhưng chúng tôi đâu phải đang ở châu Âu.
Khi thành tích thời gian của tôi lan khắp phòng, các máy quay và khán giả bắt đầu vây quanh bàn tôi. Trong tài rút ra một cỗ bài chưa xáo và đẩy về phía tôi. Nhiệm vụ của tôi bây giờ là sắp xếp cỗ bài chưa xáo đó cho trùng khớp với thứ tự với bộ bài tôi đã ghi nhớ.
Tôi rải cỗ bài chưa xáo ấy ra trên bàn, hít một hơi thật sâu rồi dạo bước trong cung trí nhớ của mình một lần nữa. Tôi có thể thấy mọi hình ảnh đậu ngay tại nơi tôi đã bỏ chúng lại, trừ hai hình ảnh. Đáng ra chúng phải ở trong phòng tắm, ướt nhoẹt, nhưng tôi chỉ có thể dò thấy những viên gạch lát trắng trơn.
Mình không nhìn thấy nó , tôi thầm thì điên dại. Mình không nhìn thấy nó. Tôi chạy một lượt thật nhanh qua từng hình ảnh. Liệu tôi đã quên hai ngón chân khổng lồ chăng? Một gã công tử bột đeo cà vạt chăng? Bộ ngực của Pamela Anderson? Con quỷ Lucky Charms? Một đoàn quân người Sikh đội khăn xếp? Không, không, không.
Tôi bắt đầu dùng ngón trỏ để rải những quân bài mình đã nhớ. Trên góc trái bàn, tôi đặt bạn Liz của tôi và con lợn chết của cô ấy. Cạnh cô ấy, gã khổng lồ Hulk ngồi trên xe đạp, và Terry Bradshaw ngồi xe lăn. Khi năm phút ghi nhớ sắp hết, tôi còn ba lá bài vẫn trên bàn.
Chúng là ba lá bài đã biến mất trong phòng tắm: K rô, bốn cơ, và bảy nhép. Bill Clinton đang “vui vẻ” với một quả bóng rổ. Sao tôi có thể bỏ qua nó được nhỉ?
Tôi nhanh chóng sắp xếp cỗ bài gọn gàng, rồi đẩy sang cho trọng tài bên kia bàn, tháo chụp tai và bịt tai. Tôi đã hoàn thành rất chính xác. Tôi không hề nghi ngờ gì hết.
Sau khi chờ một lúc cho máy quay truyền hình xoay quanh để có góc nhìn tốt hơn, trọng tài bắt đầu đếm từng lá bài một, lúc ấy, để thêm phần kịch tính, tôi cũng làm y như vậy với cỗ bài mình đã ghi nhớ.
Hai cơ. Hai cơ. Hai rô. Ba cơ Ba cơ...
Từng quân bài một, khớp từng quân. Khi chúng tôi đến cuối cỗ bài, tôi vứt quân bài cuối cùng lên bàn, ngước nhìn lên và ngoác miệng cười đần độn mà tôi không tài nào cưỡng lại được. Tôi là người giữ kỷ lúc nhớ bài mới của Mỹ. Đám đông quanh bàn tôi vỗ tay giòn giã. Ai đó huýt gió. Ben Pridmore đấm tay lên trời. Một cậu bé mười hai tuổi bước tới, đưa tôi cái bút và hỏi xin chữ ký.
Không rõ vì sao nhưng người ta đã quyết định rằng ba người đứng đầu ở ba phần thi đầu tiên buổi sáng được đặc cách vào vòng trong mà sẽ không phải thi đấu ở môn sơ loại cuối cùng của buổi sáng: nhớ thơ. Dù thành tích phần thi nhớ số của tôi thấp, thành tích kỷ lục về nhớ bài đủ để tôi xếp thứ hai trên bảng tổng, sau Maurice và trước “Người Băng” Chester. Chúng tôi sẽ vào thẳng tứ kết. Ba chúng tôi cùng Ben Pridmore rời phòng thi đấu rồi cùng đi ăn trưa trong không khí thân mật nhưng hầu như chẳng ai nói gì. Khi chúng tôi quay lại, ba chúng tôi ngồi trên sân khấu, cạnh Ram, người chạy marathon bốn bảy tuổi Paul Mellor, và cô bé mười bảy tuổi Erin Luley, người đã lập kỷ lục mới của Mỹ ở phần nhớ thơ, cô bé lập kỷ lục thứ hai trong ngày khi chúng tôi ra khỏi phòng.
Giờ chúng tôi chỉ còn sáu người, cuộc thi chuyển sang vòng hai, được thiết kế kịch tính hơn để thỏa mãn các máy quay truyền hình. Những hình đồ họa 3-D hợp mốt được chiếu lên màn hình trước phòng, ánh sáng đổ xuống sân khấu đặt sẵn sáu cái ghế cao cho chúng tôi đang ngồi, mỗi ghế để sẵn một micro gắn áo.
Phần thi đầu tiên của buổi chiều là nhớ từ ngẫu nhiên. Trong một phần thi nhớ từ ngẫu nhiên điển hình của một giải vô địch quốc gia điển hình, các thí sinh có mười lăm phút để ghi nhớ danh mục bốn trăm từ, rồi sau đó là một quãng nghỉ ngắn, và ba mươi phút để viết lại trên giấy những từ họ có thể nhớ, theo đúng thứ tự. Cách thi đấu ấy không phải dành cho khán giả theo dõi. Trong giải vô địch Mỹ, mọi chuyện đều diễn ra trên sân khấu, với hy vọng đem lại cho giải đấu những phút lo lắng căng thẳng, những tiếng gào hú inh ỏi, và cả những trò cười biến cuộc thi từ ngữ này trở thành một sân chơi hấp dẫn. Sáu chúng tôi ngồi theo vòng tròn, từng người một đọc từ tiếp theo trong danh sách chúng tôi nhớ. Hai vận động viên trí óc đầu tiên nhớ sai một từ sẽ bị loại.
Danh sách này gồm những danh từ và động từ cụ thể như “bò sát” và “chết đuối,” những
từ dễ hình dung nhất, trộn lẫn trong đó là những từ trừu tượng khó hình dung hơn như “đáng tiếc” và “ơn huệ” Dù mục tiêu ở phần thi nhớ từ ngẫu nhiên là ghi nhớ càng nhiều càng tốt, có lẽ cứ thế nhồi đầy cung trí nhớ của bạn đến tận nóc là hơi khinh suất. Tôi và Ed nhận thấy rằng, với luật thi đấu ở giải vô địch Mỹ, chiến lược khôn ngoan hơn là nên chọn ghi nhớ ít từ hơn. Tôi chỉ nhớ được 120 từ, nhưng chắc chắn đúng trăm phần trăm. Chúng tôi tính là hầu hết mọi người trên sân khấu có thể ghi nhớ nhiều từ hơn tôi, cũng có người quá mê mải mà cố ghi nhớ nhiều hơn khả năng của mình. Tôi sẽ không nằm trong số ấy.
Sau mười lăm phút ghi nhớ, chúng tôi, từng người một trên sân khấu đọc từ tiếp theo có trong danh sách: “sự châm biếm”... “biểu tượng”... “mái hiên”... “thòng lọng”... “giày vò... Khi chúng tôi đến từ thứ hai mươi bảy, Erin, người trong buổi sáng hôm đó đã ghi nhớ thơ giỏi hơn bất cứ vận động viên trí óc Mỹ nào trước đây, đã gặp lúng túng. Từ đó là “tê cóng”, năm chúng tôi còn lại đều biết - nhưng vì sao đó mà cô bé không thấy. Cô bé gục xuống ghế, lắc đầu. Chín từ sau, Paul Mellor nhầm “sự hoạt động” (danh từ) với “hoạt động” (động từ) - một lỗi kinh điển của những tay mơ. Hầu hết chúng tôi - đặc biệt là nhà sản xuất ở HDNet, hãng truyền hình đang phát đi từng diễn biến hấp dẫn - đã trông đợi một cuộc đấu gay cấn, mệt mỏi, kéo dài ít nhất là tới từ thứ một trăm. Thật khó hiểu nổi vòng thi này lại kết thúc sớm như vậy. Thậm chí đối với người vừa mới học xong nguyên tắc cung trí nhớ thường cũng có thể ghi nhớ ít nhất ba mươi hoặc bốn mươi từ trong lần thử đầu tiên. Tôi ngờ cả Erin lẫn Paul nhận định sai về các đối thủ khác và thất bại. Nghĩa là Ram, Chester, Maurice và tôi lọt vào vòng chung kết nhờ sai lầm của những người kia. Nghĩa là tôi cách trận chung kết Giải Vô địch trí nhớ Mỹ một bữa tiệc trà.
Một cô gái dáng cao, tóc nâu, mặc váy hè bước lên sân khấu và tự giới thiệu. “Xin chào, tôi là Diana Marie Anderson. Tôi sinh năm 1967, ngày 22 tháng Mười hai, ở Ithaca, New York, 14850. Đây là số điện thoại nơi làm việc, nhưng xin đừng gọi tôi theo số này, là 929-244- 6735, số lẻ 14. Tôi có một con thú cưng, tên nó là Karma, một con chó màu vàng. Tôi có vài sở thích: xem phim, đi xe đạp, và đan len. Loại xe yêu thích của tôi là xe T Ford Model 1927. Nó màu đen. Khi ăn, tôi pizza và món thạch, kem que vị bạc hà cay.”
Trong khi cô ta nói, Ram, Chester, Maurice, và tôi nhắm mắt lại, sốt sắng vẽ những hình ảnh trong cung trí nhớ. Ngày sinh của Diana 22/12/67, trở thành khối nặng một tấn (12) đang nghiền nát một bà sơ (22) khi bà đang uống sinh tố trái cây (67), tôi đặt ở trong cái bồn tắm có chân, xê dịch được, trong phòng tắm ngôi nhà kiểu Victoria. Sinh nhật cô ta, và mã vùng, tôi bước đến tủ đựng đồ trong nhà tắm và tưởng tượng một chiếc bánh xe tải khổng lồ (14) đang lăn trên mép một trong những hẻm núi nổi tiếng ở Ithaca, và rơi xuống hai người đàn ông (850). Bốn khách tiệc trà nữa xuất hiện trên sân khấu, và đọc tiểu sử với các chi tiết tương tự.
Phần thi có tên “Ba lần sai là bị loại,” nghĩa là hai thí sinh đầu tiên quên ba mẩu thông tin sẽ bị loại. Sau khi cho chúng tôi vài phút để đường cong lãng quên phát huy tác dụng của nó, năm khách tiệc trà quay lại sân khấu và bắt đầu chất vấn chúng tôi những câu hỏi về bản thân họ. Đầu tiên, chúng tôi được hỏi tên một phụ nữ trẻ có mái tóc vàng và đội mũ phớt bóng chày, người thứ tư trong năm vị khách. Chester, đang ngồi cuối hàng, biết tên cô ta. “Susan Lana Jones.” Tiếp theo, Maurice bị hỏi về ngày sinh cô ta, mà anh ta không biết, và khiến tôi tự hỏi liệu anh ta có bịp bợm chuyện ngủ ngon tối hôm trước không. Một gạch cho Maurice. May thay, tôi cũng biết sinh nhật cô ta. Tôi lôi nó ra từ cái chậu rửa mặt làm bằng đá đen trong cung trí nhớ tòa nhà hiện đại. Đó là 10 tháng Mười hai, 1975. Ram biết nơi cư trú của cô ấy: Bờ biển Bắc Miami, Florida, 33180, nhưng Chester không thể nhớ số điện thoại cô ấy. Một gạch cho Chester. Và Maurice cũng không nhớ. Hai gạch cho
Maurice. Máy quay chĩa vào tôi, chờ đợi tôi đọc lên mười chữ số, cộng với số máy lẻ. “Tôi thậm chí không cố ghi nhớ số điện toại cô ấy,” tôi nói, nhìn thẳng vào ống kính. Chiến lược của tôi là tập trung vào mọi thứ khác, và chỉ hy vọng rằng dãy số dài đó sẽ là vấn đề của ai khác. Một vạch cho Josh.
Cuộc chơi cứ tiếp tục như vậy, cho tới khi quay lại Maurice, anh ta còn không nhớ nổi dù chỉ một trong ba sở thích của một phụ nữ. Hẳn là anh ta cũng đánh được một giấc trong khi họ đọc tiểu sử của họ. Anh ta bị ba gạch. Thế là bị loại.
Còn lại ba chúng tôi trên sân khấu chuyền qua chuyền lại chi tiết tiểu sử thêm vài vòng nữa. Cuối cùng, đến lượt Chester đọc số điện thoại của một khách tiệc trà, gồm cả mã vùng và ba chữ số máy lẻ.
Chester nhếch mép và cúi xuống. “Tại sao bao giờ tôi cũng phải nhớ số điện thoại nhỉ? Các cô đùa tôi à?”
“Cuộc chơi là như vậy đấy,” Tony Dottino nói, ông đang đứng sau dãy ghế bên trái sân khấu, trong vai trò người dẫn chương trình.
“Tiếp tục nào, không ai biết số điện thoại cả.” “Anh là bậc thầy về nhớ số mà, Chester.”
Nếu tôi ngồi trên ghế của Chester, tôi cũng sẽ không nhớ được. Đó là vận đen khi Chester lại ngồi trên ghế kia, không phải tôi, vận đen mà anh ta gặp phải khi bị ba gạch trước cả tôi, và vì cái vận đen kia mà giờ đây tôi đang tiến vào vòng chung kết Giải Vô địch Trí nhớ Mỹ.
Có thông báo nghỉ mười phút giải lao trước phần thi chung kết, “Nhớ hai cỗ bài,” trong đó Ram và tôi sẽ có năm phút ghi nhớ hai cỗ bài như nhau. Khi tôi bước ra khỏi sân khấu, Maurice nắm lấy tôi và quàng tay lên vai tôi. “Anh là người chiến thắng,” anh ta nói thứ tiếng Anh như gió. “Ram không thể nhớ hai cỗ bài đâu. Đó là điều chắc chắn.” Tôi cảm ơn cụt ngủn anh ta, và cố rẽ đám đông để ra khỏi phòng. Ben chào tôi ở chân cầu thang, đang giơ bàn tay ra chờ đập tay ăn mừng.
“Ram chơi kém nhất ở phần thi nhớ bài,” anh ta phấn khích nói. “Giờ coi như anh thắng rồi đấy.”
“Thôi nào, anh định làm gì nào, yểm quẻ chăng?” “Anh chỉ cần làm bằng một nửa sáng nay là được.” “Đừng nói thế. Anh đang mang điềm gở đến đây đấy.” Anh ta xin lỗi và rời đi tìm Ram nói lời chúc tốt đẹp.
Ở phía bên trái sân khấu, Kenny Rice tiếp tục những bình luận. “Chúng ta gần tới giây phút quyết định của Giải vô địch Trí nhớ Mỹ. Năm ngoái, Ram Kolli đã thắng ở phần thi này. Liệu anh chàng hai lăm tuổi người Virginia có lặp lại thành tích ấy không, hay sẽ là Joshua Foer kẻ mới tới, một nhà báo mạng đã đưa tin về giải đấu này năm ngoái? Giờ anh ta đang cố giành chiến thắng. Phần thi cuối này, “Nhớ hai cỗ bài” là vòng thi đối đầu.
Tôi biết, dù nói trước sẽ bước không qua, rằng Ben và Maurice nói đúng. Ram gần như không thể nhớ một cỗ bài trong năm phút, đừng nói đến hai cỗ bài. Dưới ánh đèn làm đổ mồ hôi, đối mặt với tiếng rì rì của máy quay truyền hình, tôi biết mình chỉ cần đừng có nghẹn thở, và bàn tay bạc với móng tay sơn vàng kia sẽ là của tôi.
Điều đầu tiên tôi làm, sau khi ngồi xuống và đeo nút bịt tai, là đẩy cỗ bài thứ hai sang một bên. Tôi chỉ cần ghi nhớ hơn Ram một lá bài, nên tôi quyết định sẽ biết rõ cỗ bài đầu tiên đến tường tận. Tôi dành năm phút nhìn đi nhìn lại 52 quân lá bài đó, chỉ ngừng một thoáng chốc để liếc nhanh sang Ram, anh ta đang ngồi ở bàn cạnh tôi. Anh ta đang cầm một lá bài và ngâm cứu như thể đó là một loài côn trùng hiếm. Ô chúa ơi, gã này chẳng có cơ hội đâu, tôi nghĩ.
Sáu năm phút ghi nhớ, có màn tung đồng xu để quyết định ai là người đọc trước. Ram chọn mặt sấp. Đồng xu lại ngửa. Thế là tôi có quyền chọn mình bắt đầu trước, hay để Ram bắt đầu.
“Điều này quan trọng lắm,” tôi thầm thì, đủ lớn để micro bắt được tiếng. Tôi nhắm mắt và bước đi thật nhanh qua cỗ bài, xem liệu có khoảng trống nào trong cung trí nhớ không, những nơi mà vì lý do nào đó hình ảnh không dính lại, như đã xảy ra vào buổi sáng. Nếu có, tôi muốn Ram phải chịu trách nhiệm cho những lá bài ấy, không phải tôi. Cuối cùng, sau một hồi lâu, tôi mở mắt. “Tôi sẽ bắt đầu.”
Tôi lại suy nghĩ chừng hơn một giây. “Không, không, không. Đợi đã. Ram có thể bắt đầu.” Điều đó nghe như thể một đòn tâm lý trong thi đấu, nhưng thực sự tôi nhận ra mình không thể nhớ lá bài thứ bốn ba trong cỗ bài. Tôi muốn chắc rằng lá bài đó sẽ thuộc trách nhiệm của Ram.
Dottino. “Được rồi, Ram, anh là người đọc bài trước.” Ram vân vê ngón tay một lát. “Hai rô.”
Rồi đến tôi: “Q cơ.” “Chín nhép.”
“K cơ.”
Ram ngước lên trần nhà và dựa vào ghế.
Tôi có thể thấy anh ta lắc đầu. Không đời nào, tôi nghĩ. Anh ta nhìn xuống. “K rô ư?”
Giờ đây tôi lắc đầu. Tôi biết anh ta bị loại. Ở lá bài thứ năm! Tôi nhìn sang Ram, đang sốc. Anh ta đã hớ. Anh ta đã thất bại. Maurice, đang ngồi hàng ghế trước, đưa tay bóp trán.
“Nước Mỹ có nhà vô địch trí nhớ mới.”
Tôi không đứng lên. Tôi thậm chí còn không chắc mình có hé miệng cười không. Một phút trước đó, tôi chỉ muốn chiến thắng. Nhưng giờ đây cảm xúc đầu tiên của tôi không phải hạnh phúc hay nhẹ nhõm hay tự chúc mừng. Tôi ngạc nhiên khi phát hiện ra, cảm giác ấy đơn giản là mệt mỏi. Tôi cảm thấy cơn mất ngủ đêm hôm trước chợt ùa đến, và vùi đầu vào tay một lát. Mọi người đang xem ở nhà hẳn nghĩ rằng tôi mất tự chủ vì xúc động. Thực tế, tôi vẫn bị mắc kẹt trong cung trí nhớ của mình, bồng bềnh trong một thể giới những
hình ảnh không có trong hiện thực, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi chúng dường như còn hiện thực hơn là cái sân khấu tôi đang ngồi. Tôi ngước lên và thấy, chiếc cúp hai tầng hào nhoáng lấp lánh ở rìa sân khấu. Ram đưa tay ra bắt tay tôi, thầm vào tai tôi, “Lá bài thứ năm là quân gì vậy?”
Tôi buông tay, quay sang anh ta, thì thầm lại. “Năm nhép.” Dom Deluise. Đang lắc mông. Tất nhiên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét