Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

Chương IX - Một phần mười là nhân tài



Chương chín - Một phần mười là nhân tài

ào một hôm, không lâu sau khi từ Anh trở về, tôi đang ngồi trên chiếc ghế xếp dưới tầng hầm nhà bố mẹ tôi lúc 6:45 sáng, mặc quần đùi, đeo chụp tai, và mắt kính dùng khi ghi nhớ, một tờ giấy in tám trăm chữ số ngẫu nhiên để trong lòng và trong đầu tôi là hình ảnh ông thần lùn trông vườn mặc đồ lót phụ nữ (52632) bị treo lơ lửng phía trên bàn ăn nhà bà tôi. Đột nhiên tôi ngước lên, và tự hỏi - rõ ràng lần đầu tiên - là mình đang làm quái gì thế này. Sau khi đã vượt qua ngưỡng thực hành, tôi lại húc phải ngưỡng cảm xúc.

Tôi nhận ra mình đã trở nên gắn bó với những thí sinh khác. Từ những số liệu chi tiết lưu trên trang chủ cuộc thi trí nhớ, tôi đã làm quen với những điểm mạnh và điểm yếu của họ, và tự ép mình thường xuyên so sánh điểm số của bản thân với họ. Đối thủ mà tôi quan ngại nhất không phải là đương kim vô địch Ram Kolli, một cố vấn kinh doanh hai mươi lăm tuổi người Richmond, Virginia, mà là Maurice Stoll, ba mươi tuổi, chuyên nhập khẩu sản phẩm làm đẹp và là ngôi sao nhớ số nhanh, ở ngoại ô Ft. Worth, Texas, nhưng anh này lớn lên ở Đức. Tôi đã gặp anh ta ở cuộc thi năm ngoái. Anh ta đã cạo trọc đầu và để chòm râu, giọng nói mang khẩu âm Đức đáng sợ (ở một cuộc thi trí nhớ bất cứ thứ gì có chất Đức đều đáng sợ hết), và là một trong những người Mỹ hiếm hoi vượt Đại Tây Dương đến tranh tài tại một cuộc thi trí nhớ ở châu Âu (anh ta kết thúc ở vị trí thứ mười lăm ở Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới năm 2004 và vị trí thứ bảy tại Cúp Thế giới Trí nhớ năm đó).

Anh ta giữ kỷ lục Mỹ trong cả nhớ số nhanh (144 chữ số trong năm phút) và nhớ bài nhanh (một cỗ bài trong một phút năm mươi sáu giây). Điểm yếu duy nhất của anh ta là phần nhớ thơ (ở phần này anh ta xếp hạng chín mươi chín trên thế giới) và bệnh mất ngủ. Mọi người đồng ý rằng đáng ra anh ta phải giành chiến thắng ở giải năm ngoái, thế mà lại bị loại, và kết thúc ở vị trí thứ tư, vì đêm trước đó anh ta chỉ ngủ được ba tiếng đồng hồ. Năm nay, nếu anh ta có thể đi ngủ đúng giờ, thì tôi nghĩ anh ta là đấu thủ được kỳ vọng thắng cao. Và giờ đây, tôi đang dành ra đều đặn nửa tiếng mỗi ngày để đảm bảo rằng anh ta không thắng được.

Tôi nhìn sâu hơn vào việc rèn luyện trí nhớ của mình, tôi đang bắt đầu tự hỏi liệu việc ghi nhớ như các vận động viên trí nhớ thực hành có phải như chiếc đuôi công không: gây ấn tượng không phải vì tính hữu dụng của nó, mà vì nó thiếu hữu dụng sâu sắc. Liệu có phải những kỹ thuật cổ xưa này chẳng gì khác hơn là những “hóa thạch tri thức” không, như lời nhà sử học Paulo Rossi, nó cuốn hút vì cho chúng ta biết về những trí tuệ một thời quá vãng, nhưng chẳng còn phù hợp trong thế giới hiện đại này, cũng như chiếc bút lông chim hay cuộn giấy thủy trúc?

Các kỹ thuật ghi nhớ luôn bị chỉ trích: chúng rất ấn tượng nhưng xét cho cùng chẳng để làm gì. Triết gia thế kỷ mười bảy Francis Bacon đã tuyên bố, “Tôi chẳng coi trọng cái việc lặp lại được rất nhiều những cái tên và từ ngữ chỉ sau một lần nghe đến... hơn gì những trò nhào lộn, funabluloes (đi trên dây) hay baladines (giữ thăng bằng): cái này là trò nhào lộn trong đầu, cũng chẳng khác gì trò nhào lộn với cơ thể kia, chỉ kỳ lạ chứ không có giá trị.” Ông nghĩ thuật ghi nhớ về cơ bản là chả ích gì.
Khi nhà truyền giáo dòng Tên thế kỷ mười sáu Matteo Ricci cố giới thiệu các kỹ thuật ghi nhớ cho các quan lại Trung Quốc học để thi cử trong triều đình, ông gặp phải sự phản đối rất cương quyết. Ông dự định trước hết “nhử” cho họ gắn bó với kỹ năng học tập của người

châu Âu, rồi sau đó mới trói buộc họ với Chúa trời của người Âu. Người Trung Quốc phản bác rằng phương pháp cung trí nhớ đòi hỏi phải nỗ lực nhiều hơn so với sự học vẹt. Họ bảo cách của họ đơn giản hơn và nhanh hơn. Tôi có thể hiểu được vì sao họ nói thế.

Cơ cấu thành phần tham gia cuộc thi trí nhớ cũng không khác gì mấy so với những người tham gia chương trình ca nhạc của “Al lập dị” Yankovic (năm pích). Các thí sinh đa số là những cậu trai trẻ, da trắng, và ham mê những trò lạ. Vậy nên không thể nào không chú ý đến một nhóm chừng mười học sinh hàng năm xuất hiện tại giải vô địch Mỹ hàng năm với lễ phục rất đầy đủ. Họ đến từ Trường Trung học Dạy nghề Samuel Gompers ở South Bronx, và giáo viên lịch sử Mỹ của họ, Raemon Matthews, là môn đệ của Tony Buzan.

Nếu tôi từng nghĩ rằng thuật ghi nhớ chỉ là một dạng loè bịp trí óc, thì Matthews lại muốn chứng minh không phải vậy. Ông đặt tên cho nhóm học sinh mà ông huấn luyện để tham dự Giải Vô địch trí nhớ Mỹ là “Một phần mười là nhân tài,” theo quan niệm của W. E. B. Du Bois rằng một nhóm tinh hoa những người Mỹ gốc Phi sẽ đưa chủng tộc của họ thoát khỏi nghèo đói. Khi tôi lần đầu gặp Matthews tại Giải vô địch Mỹ năm 2005, ông đang lo lắng đi đi lại lại ở cuối phòng trong khi chờ kết quả của các học sinh của ông ở phần thi nhớ từ ngẫu nhiên. Vài học sinh của ông đang tranh đua để lọt vào tốp mười, nhưng mối quan tâm chính của ông, phần thử thách thực sự đối với trí nhớ của họ là hai tháng rưỡi sau đó, khi họ tham dự kỳ thi tốt nghiệp bang New York. Ông hy vọng đến cuối năm, các học sinh của ông, nhờ sử dụng các kỹ thuật đã dùng trong Giải Vô địch trí nhớ Mỹ, sẽ ghi nhớ được mọi sự kiện, ngày tháng và khái niệm quan trọng trong sách giáo khoa lịch sử Mỹ. Ông mời tôi đến thăm lớp học của ông để chứng kiến những kỹ thuật ghi nhớ được dùng trong “thế giới thực.”
Khi nhận lời mời của ông, tôi phải qua một máy dò kim loại và một cảnh sát khám xét túi của tôi trước khi vào tòa nhà trường Gompers. Matthews tin rằng thuật ghi nhớ sẽ là tấm vé cho các học sinh ông thoát ly được khu vực mà cứ mười học sinh thì chín em bị điểm dưới trung bình môn đọc và môn toán, năm học sinh thì bốn em nhà nghèo, và gần nửa là không tốt nghiệp trường trung học. “Ghi nhớ những câu trích dẫn làm cho người ta dễ được chấp nhận hơn,” ông bảo các em, trong khi tôi ngồi ở cuối lớp. “Các em sẽ ấn tượng với ai hơn, một người cứ nhắc đi nhắc lại ý kiến của mình, hay một sử gia biết rút tỉa ý kiến từ các nhà tư tưởng vĩ đại tiền bối?”

Tôi lắng nghe một sinh viên đọc thuộc từng lời cả một đoạn trong cuốn Tâm Bóng tối để trả lời câu hỏi về thương mại toàn cầu thế kỷ mười chín. “Khi làm bài thi tốt nghiệp, học sinh sẽ trích ra một đoạn như vậy,” Matthews nói, ông ta ăn mặc bảnh bao, râu để chỏm, tóc cắt cua, và chất giọng trầm đặc Bronx. Trong mỗi bài luận viết ở lớp, học sinh của ông phải đưa vào tối thiểu hai đoạn trích đã ghi nhớ, và đó chỉ là một trong nhiều yêu cầu nho nhỏ về trí nhớ mà ông đòi hỏi nơi các em. Ngoài giờ học, học sinh của ông tham gia lớp ngoại khóa về những kỹ thuật ghi nhớ.
“Đó là sự khác biệt giữa dạy học sinh phép tính nhân với đưa cho các em chiếc máy tính,” Matthews nói về kỹ năng trí nhớ mà ông truyền thụ cho các em. Không có gì ngạc nhiên, khi trong bốn năm qua, các học sinh trong nhóm Một phần mười là nhân tài đều vượt qua kỳ thi tốt nghiệp, và 85 phần trăm đã đạt điểm từ 90 điểm trở lên. Matthews đã hai năm giành được giải thưởng Giáo viên toàn thành phố.

Học sinh trong nhóm Một phần mười là nhân tài phải mặc áo sơ mi và đeo cà vạt, thỉnh thoảng còn đeo găng tay trắng ở những cuộc hội họp của trường. Phòng học của các em dán đầy ảnh Marcus Garvey và Malcolm X. Khi tốt nghiệp, các em nhận được một tấm vải

kente[22] có dòng chữ “Một phần mười là nhân tài” mạ vàng. Vào đầu mỗi buổi học, nhóm Một phần mười là nhân tài đứng theo từng cặp đối diện với nhau dọc lối đi giữa các dãy bàn và đồng thanh đọc bản tuyên ngôn bắt đầu bằng: “Chúng tôi là những người xuất sắc nhất mà cộng đồng sinh ra. Chúng tôi sẽ không bị điểm dưới chín mươi lăm trong bất kỳ bài thi lịch sử nào. Chúng tôi là đội quân tiên phong của cộng đồng. Cùng bước trong vinh quang của chúng tôi và vươn tới đỉnh cao, hay tránh sang bên lề. Vì khi chúng tôi vươn lên đỉnh cao, chúng tôi sẽ trở lại và nâng các bạn lên cùng chúng tôi.”

Bốn mươi ba đứa trẻ trong lớp của Matthews đều là những học sinh danh dự, phải vượt qua một mức nhất định mới được lựa chọn vào nhóm Một phần mười là nhân tài. Và Matthews dạy chúng rất nghiêm khắc. “Chúng em không có kỳ nghỉ,” một em than phiền với tôi, trong khi Matthews đang đứng gần có thể nghe thấy. “Giờ em phải học đi, rồi có thể nghỉ ngơi sau,” ông bảo học sinh kia. “Giờ em phải ôm lấy sách để sau này đến lượt hậu bối đọc sách em viết.”

Thành công của các học sinh Matthews làm dấy lên những câu hỏi xưa cũ về mục đích của giáo dục cũng như cách dạy dỗ ở nhà trường dường như không bao giờ cũ. Thông minh nghĩa là gì, và chính xác thì trường học phải dạy điều gì? Khi vai trò của trí nhớ, hiểu theo nghĩa truyền thống, ngày càng nhỏ dần, thì vị trí của nó trong nền giáo dục hiện đại ra sao? Tại sao phải bận tâm đến việc nhồi nhét vào bộ nhớ bọn trẻ những sự kiện, khi mà rốt cuộc bạn chuẩn bị đưa chúng vào một thế giới đầy những trí nhớ ngoài?
Hồi học tiểu học và trung học cơ sở, cả trường công và trường tư, tôi là bị buộc phải thuộc ba bài: Diễn văn Gettysburg ở lớp ba, bài diễn văn “Tôi có một ước mơ” của Martin Luther King Jr ở lớp bốn, và bài độc thoại Macbeth “Ngày mai và ngày mai và ngày mai” ở lớp mười. Thế thôi. Hoạt động duy nhất có tính chất đối nghịch với lý tưởng giáo dục hiện đại hơn cả ghi nhớ ấy là sự trừng phạt thể xác.

Nguồn gốc triết lý dẫn đến sự biến mất dần việc những ghi nhớ ở trong lớp học bắt đầu từ cuốn tiểu thuyết năm 1762 của Jean-Jaques Rousseau, Émile: Hay là về giáo dục (Émile: Or, On Education), trong đó triết gia người Thụy Sĩ đã tưởng tượng ra một đứa trẻ hư cấu được nuôi dạy bằng phương pháp “giáo dục tự nhiên,” chỉ tự học qua kinh nghiệm bản thân. Rousseau ghê tởm sự ghi nhớ, cũng như các quy định hà khắc của giáo dục trường lớp. “Đọc là tai họa lớn cho tuổi thơ,” ông viết. Ông tin rằng các môn học truyền thống không hơn gì mấy thứ đần độn như là “ngành nghiên cứu huy hiệu, địa lý, khoa nghiên cứu niên đại và ngôn ngữ.”
Quan điểm giáo dục mà Rousseau chống lại rất tẻ nhạt và cần được sửa đổi. Hơn một trăm năm sau khi xuất bản cuốn Émile, khi chuyên gia “vạch trần sự thật”, tiến sĩ Joseph Mayer Rice, tham quan các trường công ở ba mươi sáu thành phố và kinh hãi trước những gì được chứng kiến. Ông gọi một trường học ở thành phố New York là “cơ sở phi nhân tính nhất mà tôi từng thấy, mỗi một đứa trẻ bị đối xử như cá nhân sở hữu một trí nhớ và có khả năng diễn thuyết, nhưng không có tính cá nhân, không cảm xúc, không linh hồn.” Vào thời kỳ chuyển giao sang thế kỷ hai mươi, lối học vẹt vẫn là cách được ưa chọn để nhồi thông tin vào đầu lũ trẻ, đặc biệt là trong môn lịch sử và địa lý. Những học sinh phải ghi nhớ thơ ca, những bài diễn văn vĩ đại, những ngày tháng lịch sử, thời khóa biểu, từ vựng tiếng Latin, thủ phủ các bang, thứ tự các đời tổng thống Mỹ, và nhiều thứ khác.
Những việc rèn luyện trí nhớ không chỉ để truyền thông tin từ giáo viên sang học sinh; người ta thực sự cho rằng chúng có tác dụng tích cực với não trẻ em, và sẽ có lợi ích cho chúng suốt đời. Người ta nghĩ những việc luyện học vẹt tạo nên năng lực ghi nhớ. Điều

được ghi nhớ quan trọng và bản thân việc rèn luyện trí nhớ cũng quan trọng không kém. Suy nghĩ đó cũng áp dụng với môn tiếng Latin, vào đầu thế kỷ hai mươi môn học này vẫn được dạy cho gần nửa số học sinh trung học Mỹ. Các nhà giáo dục tin rằng việc học thứ ngôn ngữ chết này, với vô số điểm ngữ pháp tinh diệu và lối chia động từ rất khó, sẽ rèn luyện cho bộ não tư duy logic và giúp xây dựng “năng lực trí óc.” Sự nhạt nhẽo thực sự được xem là một giá trị. Và các giáo viên dựa vào một lý thuyết khoa học phổ biến gọi là “tâm lý học năng lực,” cho rằng trí óc bao gồm một số “năng lực” cụ thể có thể rèn luyện riêng rẽ được giống như cơ bắp, thông qua việc tập luyện hà khắc.

Đến cuối thế kỷ mười chín, một nhóm nhà tâm lý học hàng đầu đặt câu hỏi về cơ sở thực nghiệm của “tâm lý học năng lực.” Trong cuốn sách năm 1890 nhan đề Những nguyên tắc tâm lý học (Principles of Psychology), William James muốn tìm hiểu xem “liệu việc học thuộc thơ với thời lượng nhất định hàng ngày thì có rút ngắn thời gian để học thuộc một dạng thơ hoàn toàn khác hay không.” Ông dành hơn hai tiếng đồng hồ trong tám ngày liên tục để ghi nhớ 158 câu thơ đầu tiên trong bài “Satyr,” của Victo Hugo, bình quân một câu thơ mất năm mươi giây. Trên cơ sở đó, James định ghi nhớ toàn bộ tập đầu tiên của bộ Thiên đường đánh mất (Paradise Lost). Khi ông quay lại học thơ Hugo, ông thấy rằng thời gian ghi nhớ thực sự lên đến năm mươi bảy giây mỗi câu thơ. Việc thực hành ghi nhớ đã làm ông ghi nhớ kém hơn, chứ không phải tốt lên. Đó chỉ là nhận định dựa trên một số liệu duy nhất, nhưng những nghiên cứu sau này của nhà tâm lý học Edward Thorndike và đồng nghiệp của ông là Robert S. Woodworth cũng đặt vấn đề liệu “khả năng ghi nhớ nói chung” có bị ảnh hưởng bởi việc thực hành ghi nhớ không, các ông này rốt cuộc chỉ chỉ tìm ra vài ảnh hưởng có lợi nho nhỏ. Họ kết luận rằng lợi ích từ việc “rèn luyện trí óc” chỉ là “tưởng tượng” mà thôi, và những kỹ năng tổng quát - cũng như sự ghi nhớ - không dễ chuyển đổi được như người ta từng nghĩ. “Các nhà sư phạm nhanh chóng nhận ra rằng những thí nghiệm của Thorndike đã ảnh hưởng đến nền tảng hợp lý của chương trình học truyền thống,” sử gia giáo dục Diane Ravitch viết.

Lao vào miền đất mới này là một nhóm các nhà giáo dục cấp tiến, dẫn đầu là triết gia người Mỹ John Dewey, người bắt đầu vận động cho hình thức giáo dục mới sẽ triệt để chấm dứt chương trình giảng dạy và những phương pháp thiển cận trong quá khứ. Họ bắt chước những lý tưởng lãng mạn của Rousseau về thời thơ ấu của con người, và nhấn mạnh việc giáo dục “lấy học sinh làm trung tâm”. Họ xóa bỏ lối học vẹt và thay thế bằng một dạng “học thực nghiệm” mới mẻ. Khi học môn sinh vật, các học sinh sẽ không ghi nhớ thành phần cấu tạo của cây như trong sách giáo khoa, mà các em sẽ gieo hạt giống và chăm sóc vườn cây. Các em sẽ học môn số học không phải qua các bảng cửu chương, mà qua công thức làm bánh. Dewey tuyên bố, “Tôi sẽ không để cho đứa trẻ nói, “Tôi biết,” mà nói “Tôi đã trải nghiệm.’”
Thế kỷ vừa qua là một quãng thời gian đặc biệt hẩm hiu đối với trí nhớ. Hàng trăm năm cải cách giáo dục theo hướng cấp tiến đã gán cho ghi nhớ cái tai tiếng buồn tẻ và ngột ngạt
- một kỹ thuật không chỉ tốn thời gian mà còn gây hại cho sự phát triển bộ não. Trường học không còn chú tâm vào tri thức thô sơ (dù sao thì hầu hết sẽ bị lãng quên), và thay vào đó nhấn mạnh vai trò giáo dục trong việc thúc đẩy khả năng lý luận, sự sáng tạo và tư duy độc lập.

Những phải chăng chúng ta đã mắc một sai lầm lớn? Nhà phê bình có uy tín E.D. Hirsch Jr. Vào năm 1987 đã than phiền rằng: “Chúng ta không thể cho rằng ngày nay những người trẻ tuổi biết nhiều điều mà hầu hết những người biết đọc trong xã hội quá khứ đã biết.” Hirsch lập luận rằng các học sinh đang bị đưa vào cuộc đời mà không có những hiểu biết văn hóa căn bản cần thiết để làm một công dân tốt (sẽ nói sao đây nếu hai phần ba người

Mỹ ở độ tuổi mười bảy không biết trong nước Mỹ xảy ra chuyện gì trong vòng nửa thập kỷ sau cuộc Nội chiến?), và cần thiết phải có một cuộc cải cách giáo dục ngược chiều lần nữa để nhấn mạnh những sự việc cụ thể. Trong cuốn sách đầu tiên của mình, Hiểu biết văn hóa: Điều mỗi người Mỹ cần biết (Cultural Literacy: What Every American Needs to Know), đã khơi lên một cuộc tranh luận rộng khắp. Những người phê bình ông đã chỉ ra rằng chương trình giảng dạy mà ông chủ trương là một khóa học nhập môn về Các quý ông da trắng đã chết (Dead White Males: thuật ngữ chỉ sự thiên lệch trong nghiên cứu hàn lâm về những đóng góp của học giả châu Âu trong nền văn minh châu Âu trong quá khứ và đương đại). Nhưng nếu có ai đó đủ tư cách để phản bác lập luận đó, thì đấy chính là Matthews, ông cho rằng trong cái chương trình giảng dạy theo lối dĩ Âu vi trung đó những sự kiện vẫn rất được coi trọng. Nếu một trong các mục tiêu của giáo dục là tạo ra những con người có tri thức, ham hiểu biết, thì bạn cần trao cho học sinh những chỉ dẫn cơ bản có thể dẫn dắt họ suốt quãng đời học tập. Và nếu, như nhà giáo dục thế kỷ mười hai, Hugh of St. Victor đã nói, “sự hữu ích của giáo dục chỉ bao hàm những gì ghi nhớ được từ sự giáo dục đó,” thì bạn cũng phải trao cho học sinh những công cụ tốt nhất sẵn có thể đưa điều được giáo dục vào trí nhớ.
“Trong lớp của mình, tôi không dùng từ ‘ghi nhớ’ vì trong giáo dục, đó là một từ mang nghĩa tiêu cực,” Matthews nói. “Bạn bắt những con khỉ ghi nhớ, trong khi giáo dục là khả năng tìm kiếm[23] thông tin tùy ý và phân tích thông tin. Nhưng bạn không thể tiến lên mức học tập cao hơn - bạn không thể phân tích nếu không tìm kiếm được thông tin.” Và bạn không thể tìm kiếm thông tin nếu trước đó không đưa thông tin vào bộ nhớ. Việc phân định rạch ròi giữa “học” và “ghi nhớ” là sai, Matthews tranh luận. Bạn không thể học mà không ghi nhớ, và nếu ghi nhớ đúng cách, ta cũng không thể ghi nhớ mà không học.

“Cần luyện trí nhớ như là luyện một kỹ năng, y như cách chúng ta rèn luyện sức mạnh, sự dẻo dai và sức chịu đựng để tạo nên con người khỏe mạnh về thể chất và tinh thần,” đấy là lập luận của Buzan, ông thường tỏ ra là người cổ xúy cho quan điểm tâm lý học năng lực truyền thống. “Học sinh cần học cách học. Trước hết bạn dạy chúng cách học thế nào, rồi mới dạy chúng học cái gì.”

“Hệ thống giáo dục chính thức từng xuất phát từ môi trường quân sự, ngày xưa ở đó những kẻ ít học thức nhất, thiếu giáo dục nhất bị đưa vào quân đội,” ông nói. “Để bọn họ không suy nghĩ, đấy là điều bạn muốn ở họ, họ phải tuân thủ mệnh lệnh. Đào tạo quân sự có kỷ luật rất cao và có tính một chiều. Bạn nhét thông tin vào não họ và bắt họ phản ứng theo điều kiện mà không cần tư duy. Như vậy có hiệu quả không? Có. Họ có thích trải nghiệm như vậy không? Không. Khi xảy ra cách mạng công nghiệp, người ta cần những người lính để vận hành máy móc, thế là phương pháp giáo dục quân sự chuyển sang trường học. Nó hiệu quả. Nhưng về lâu dài lại không hiệu quả.”

Cũng như nhiều ý kiến quả quyết khác của Buzan, ý kiến này che giấu một cốt lõi chân lý ẩn dưới vỏ bọc tuyên truyền. Học vẹt - cái phương pháp “lặp nhiều nhớ sâu” cũ kỹ mà một thế kỷ qua những nhà cải cách giáo dục đã chống lại - chắc chắn cũng lâu đời như bản thân việc học tập vậy, nhưng Buzan đúng khi cho rằng thuật ghi nhớ, một thời là trung tâm của phương pháp giáo dục cổ điển, đã biến mất cùng với sự trỗi dậy của phương pháp giáo dục cấp tiến hiện đại.
Luận điểm của Buzan rằng trường học đang dạy ghi nhớ theo cách hoàn toàn sai lầm đã thách thức sâu sắc những quan điểm đang thống trị hiện nay trong nền giáo dục châu Âu, và thường được che đậy dưới cái vỏ ngôn ngữ “cải cách”. Thực tế, dù Buzan có vẻ không nhìn nhận theo hướng này, nhưng những ý tưởng của ông bảo thủ hơn là mang tính cách

mạng. Mục tiêu của ông là xoay ngược chiều kim đồng hồ về thời đại khi trí nhớ tốt vẫn được xem là điều đáng trọng.

Ép được Tony Buzan trả lời phỏng vấn không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Ông chu du thuyết giảng khắp nơi gần chín tháng một năm, và ông khoe rằng tổng số quãng đường đi máy bay của ông dài gấp tám lần khoảng cách khứ hồi từ trái đất lên mặt trăng. Hơn nữa, dường như ông cố tạo ra không khí xa lánh và khó tiếp cận, vốn là điều tiên quyết đối với bất cứ bậc thầy có tự trọng nào. Rồi cuối cùng, tại Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới, tôi cũng dồn được ông ngồi vào bàn để xếp lịch cho cuộc trò chuyện độ vài tiếng đồng hồ. Ông mở cái cặp bìa lò xo lớn, và trưng ra một biểu đồ đầy màu sắc, có lẽ dài tận một mét. Đó là lịch trình công việc của ông năm trước, và nó đầy những ô dài đánh dấu các chuyến đi - Tây Ban Nha, Trung Quốc, ba lần đến Mexico, Úc và Mỹ. Có một khoảng thời gian độ ba tháng ông không hề đặt chân lên Vương quốc Anh. Ông bảo tôi rằng ông tuyệt đối không có thời gian nói chuyện với tôi trong ít nhất ba hoặc bốn tuần tới (mà đến lúc đó tôi đã về Mỹ rồi), nhưng ông gợi ý tôi trên đường về Oxford, tôi nên ghé thăm nhà ông bên bờ sông Thames và chụp vài tấm hình, trong khi ông vắng nhà.

Tôi bảo ông tôi không biết sẽ học được gì nhiều ở một ngôi nhà trống. “Ồ, cậu sẽ học được nhiều điều đấy,” ông nói.
Cuối cùng, thông qua trợ lý của ông, tôi có thể chốt được một tiếng cùng Buzan trong chiếc limosine của ông khi ông trên đường từ phòng thu của BBC tại London về nhà, sau một cuộc phỏng vấn truyền hình. Tôi phải đến góc phố ở Whitehall và đợi. “Chắc chắn anh sẽ không lỡ chuyến xe của ông Buzan.”

Quả là không lỡ thật. Chiếc xe, đến muộn chừng nửa tiếng, đó là loại taxi những năm 1930 màu ngà sáng, trông như thể nó vừa bị tống khỏi đài BBC. Cánh cửa bật mở. “Vào đi,” Buzan ra hiệu. “Chào mừng đến với căn phòng di động nhỏ xinh của tôi.”

Chủ đề trước tiên chúng tôi bàn là kiểu trang phục độc đáo của ông, tôi không kiềm được phải hỏi.

“Tôi tự thiết kế đấy,” ông bảo tôi. Ông đang mặc chính bộ vét khác lạ, màu xanh hải quân, với những chiếc cúc lớn màu vàng mà tôi đã thấy ở Giải vô địch Mỹ mấy tháng trước. “Tôi từng mặc đồ may sẵn khi diễn thuyết, nhưng khi hoa tay múa chân, nó khá vướng víu,” ông bảo tôi. “Nên tôi đã nghiên cứu trang phục của kiếm thủ thế kỷ mười lăm, mười sáu, mười bảy, mười tám, mười chín, và tìm hiểu tại sao cánh tay của họ không hề bị áo gây cản trở. Những nếp gợn và ống tay rộng không chỉ mang tính trang điểm. Chúng thích hợp với những cú vung, khoát tay. Tôi thiết kế áo sơ mi cho mình để cử động thoải mái.”
Mọi thứ ở Buzan đều tạo ra ấn tượng mạnh về một người luôn muốn gây ấn tượng mạnh. Ông không bao giờ nói nuốt một âm tiết hay rũ vai xuống. Móng tay ông được chăm sóc cẩn thận, và cả đôi giày da Ý của ông cũng vậy. Trong túi áo ngực của ông luôn có khăn tay được gấp gọn gàng. Chữ ký tin nhắn của ông là “Floreant Dendritae!” - Mong cho trí tuệ của bạn thăng hoa - và kết thúc là dòng “Tony Buzan, hết!”

Khi tôi hỏi do đâu ông có được lòng tự tin lớn lao như vậy, ông bảo tôi rằng ấy là nhờ phần nhiều vào việc luyện tập các môn võ thuật. Ông có đai đen môn aikido và đã đi ba phần tư chặng đường vươn tới đai đen karate. Ngồi ở ghế sau chiếc limo, ông phô diễn một loạt các động tác lia lịa, một nhát chém trong không khí, một cú đấm gió. “Cách tôi sử dụng những

kỹ thuật này là không sử dụng chúng,” ông nói. “Mục đích của việc đánh nhau là gì nếu anh biết anh có thể giết người khác, hay anh có thể móc mắt hoặc lôi họng hắn?”

Buzan - ông thường tìm cơ hội nhắc tôi nhớ - là một người Phục hưng hiện đại: một người học khiêu vũ (“cổ điển, hiện đại, ngẫu hứng, jazz”), một nhà soạn nhạc (những người có ảnh hưởng với ông: “Philip Glass, Beethoven, Elgar”), tác giả của những truyện ngắn về các con vật (lấy bút danh Mowgli, theo tên của cậu bé trong cuốn Cậu bé rừng xanh (The Jungle Book), một nhà thơ (tập thơ gần đây của ông, Concordea, gồm những bài thơ được viết về trải nghiệm trong ba mươi tám chuyến bay xuyên Đại Tây Dương trên chiếc máy bay siêu âm Concorde), và một nhà thiết kế (không chỉ cho trang phục của ông, mà kiêm cả thiết kế nhà cửa và phần lớn đồ đạc trong nhà).

Sau chừng bốn lăm phút ra khỏi London, con chiến mã màu ngà đỗ trước dinh thự nhà Buzan bên bờ sông Thames. Ông bảo tôi đừng đăng địa chỉ khu đất cụ thể lên báo nó lên trang giấy. “Hãy gọi nó là Gió vùng Willow.”

Trong căn nhà tên Cánh cổng Rạng Đông của ông, chúng tôi bỏ giày, và nhón chân đi quanh bộ sưu tập những bức vẽ trải trên sàn, một phần cuốn truyện trẻ em có tranh minh họa mà ông đang viết, “về một cậu bé không học giỏi ở trường, nhưng rất giàu trí tưởng tượng.” Trong sảnh lớn ngôi nhà, có một bộ đầu máy và màn hình tivi lớn, với ít nhất hàng trăm cuốn băng VHS cạnh đó, và một giá sách chứa trọn bộ Bách khoa Toàn thư Britannica Những cuốn sách vĩ đại của Thế giới phương Tây, vài bản cuốn truyện khoa học viễn tưởng như Xứ cát, ba bản kinh Coran, và một lượng lớn sách mà Buzan là tác giả, ngoài ra không còn gì đáng kể mấy.

“Thư viện của ông đây sao?” tôi hỏi.

“Một năm tôi chỉ ở đây ba tháng. Tôi có các thư viện ở nhiều nơi khác trên thế giới,” ông nói.

Buzan ham mê chu du, ông đi khắp đó đây. Có lần, khi tôi hỏi ông lấy đâu ra sự tập trung để viết hai hoặc ba cuốn sách một năm, ông bảo tôi rằng ở bất cứ lục địa nào ông cũng tìm được nơi làm việc thực sự. “Ở Úc tôi viết ở rặng đá ngầm Great Barrier. Ở châu Âu, nơi nào có biển là tôi viết. Ở Mexico, tôi viết. Ở Tây Hồ - Trung Quốc, tôi viết.” Từ lúc còn bé, ông đã đi khắp rồi. Ông sinh năm 1942 ở London, năm mười một tuổi đã cùng bố mẹ và người anh chuyển đến Vancouver - mẹ ông là người viết tốc ký tại tòa, cha ông là kỹ sư điện. Ông bảo ông “về cơ bản là một đứa trẻ bình thường, gặp những rắc rối bình thường, trong những trường học bình thường.”

“Bạn thân nhất của tôi hồi còn bé tên là Barry,” Buzan nhớ lại, khi đang ngồi ngoài sân, áo sơ mi hồng không cài cúc, đeo cặp kính chống nắng rất lớn dùng cho người già để bảo vệ mắt ông. “Cậu ấy luôn ở hạng Một-D, còn tôi ở Một-A. Một-A là dành cho học sinh sáng dạ, còn D là cho những người chậm tiến. Nhưng khi ra ngoài thiên nhiên, Barry có thể xác định được nhiều con vật qua cách chúng bay. Con bướm giáp đỏ, con chim hét vệt nâu, và chim hét đen trông rất giống nhau, nhưng chỉ nhìn cách chúng bay, cậu ấy có thể phân biệt được. Tôi biết rằng cậu ấy là thiên tài. Còn tôi có điểm số cao nhất trong môn thi tự nhiên, điểm số hoàn hảo, tịu trả lời làu làu các câu hỏi như “Nêu tên hai loại cá sống trong sông suối ở Anh”. Có một trăm lẻ ba loài. Nhưng khi tôi nhận điểm số hoàn hảo bài kiểm tra của mình, bỗng nhiên tôi nhận ra rằng người bạn đang ngồi trong lớp chậm tiến ở cuối hành lang, bạn thân của tôi, Barry, biết nhiều hơn tôi - hơn rất nhiều - trong môn mà tôi được cho là số một. Và vì vậy cậu ấy mới là số một chứ không phải tôi.

“Và bỗng nhiên, tôi nhận ra cái hệ thống mà tôi đang theo không biết đánh giá thế nào là hiểu biết, không biết làm thế nào để xác định một cá nhân có thông minh hay không. Họ gọi tôi là giỏi nhất, khi mà tôi biết là không phải vậy, và họ gọi cậu ấy là kém nhất, trong khi tôi biết cậu ấy là giỏi nhất. Ý tôi là, không có môi trường nào đối cực hơn như thế. Nên tôi bắt đầu đặt câu hỏi: Trí thông minh là gì? Ai nói? Ai bảo bạn thông minh? Ai bảo bạn không thông minh? Ý họ là sao khi nói vậy?” Những câu hỏi đó, ít nhất theo lời kể rất rành mạch của Buzan, ám ảnh ông cho đến khi tận ông vào đại học.
Buzan giải thích, ông tiếp xúc thuật ghi nhớ, cái khoảnh khắc đã định cả cuộc đời ông theo con đường hiện nay, xảy đến trong phút đầu tiên, ở buổi học đầu tiên, của ngày đầu tiên trong năm học đầu tiên tại Đại học British Columbia. Giáo viên tiếng Anh của ông, một người khắc khổ “thân hình như một đô vật thấp vóc, có chỏm tóc đỏ trên cái đầu gần như hói toàn bộ” bước vào lớp học, hai tay chắp sau lưng, và bắt đầu điểm danh vanh vách các sinh viên. “Mỗi khi có ai vắng mặt, ông nêu tên họ, tên bố của họ, tên mẹ của họ, ngày sinh của họ kèm theo cả số điện thoại, địa chỉ,” Buzan nhớ lại. “Và ngay khi ông ấy điểm danh xong, ông nhìn chúng tôi với vẻ khinh bỉ trên nét mặt. Đó là khởi đầu chuyện tình của tôi với trí nhớ.”

Sau giờ học, Buzan dọc hành lang bám theo giáo sư. “Tôi hỏi, ‘Thưa thầy, sao thầy làm thế được?’ ông quay sang tôi và nói, ‘Chàng trai ạ, ta là thiên tài.’ Nên tôi nói, ‘Thưa thầy, điều đó thì rõ rồi. Nhưng em vẫn muốn biết tại sao thầy làm được như vậy.’ Ông chỉ nói. ‘Không.’ Trong ba tháng tiếp đó, những hôm chúng tôi có giờ tiếng Anh, tôi đều thử ông. Tôi cảm giác ông ấy có bí mật, và ông không muốn chia sẻ. Ông ấy khinh thường các sinh viên. Ông ấy nghĩ họ chỉ là một lũ vô dụng thôi. Rồi một ngày, ông nói, ‘Ngay từ buổi đầu mối quan hệ khổ nạn giữa tôi và các bạn, tôi đã phô diễn cho các bạn thấy sức mạnh tuyệt vời của trí nhớ con người, vậy mà không một ai thèm để ý đến, nên giờ tôi sẽ viết lên bảng một mật mã mà nhờ đó tôi đã làm được thành tích phi thường như vậy, và tôi tin chắc rằng không một ai nhận ra kho báu trước mặt mình - những viên ngọc quý trước mặt kẻ phàm tục.’ Ông nheo mắt với tôi và viết lên mật mã. Đó là Hệ thống lớn. Đột nhiên, tôi nhận ra mình có thể ghi nhớ mọi thứ.”
Hôm ấy, Buzan rời lớp học trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Lần đầu tiên ông nhận ra rằng ông không hề biết gì, thậm chí là những điều cơ bản nhất, về cái cơ chế hoạt động phức tạp của trí óc ông. Và điều đó dường như thật lạ kỳ. Nếu mẹo trí nhớ đơn giản nhất có thể tăng một cách kinh khủng lượng thông tin mỗi người có thể ghi nhớ, và không ai thèm dạy ông cái mẹo đó mãi cho đến khi ông hai mươi tuổi, vậy thì còn gì khác mà ông chưa bao giờ biết đến?

“Tôi vào thư viện và nói, ‘Tôi muốn một cuốn sách về cách sử dụng bộ não.’ Người thủ thư đưa tôi vào quầy sách y khoa, tôi quay ra và nói, ‘Tôi không muốn sách về phẫu thuật não. Tôi muốn cuốn sách về cách sử dụng bộ não.’ Bà ấy nói, ‘Ồ, không có sách nào như vậy đâu.’ Tôi nghĩ, chúng ta có hướng dẫn sử dụng ô tô, máy thu thanh, tivi, nhưng không có hướng dẫn sử dụng bộ não sao?” Trong cuộc tìm kiếm điều ngõ hầu sáng tỏ tài ghi nhớ của người thầy giáo, Buzan tìm đến gian sách cổ sử của thư viện, nơi thầy giáo của ông gợi ý rằng ông có thể tìm được vài ý tưởng ban đầu về việc cải thiện trí nhớ. Ông bắt đầu đọc các chuyên gia trí nhớ Hy Lạp và La Mã, và thực hành những kỹ thuật đó lúc rảnh rỗi. Không lâu sau, ông áp dụng những lời khuyên của Ad Herennium về các “điểm chứa” và hình ảnh để học thi - thậm chí để ghi nhớ mọi bài giảng trong cả khóa học.
Sau khi tốt nghiệp, Buzan tiếp tục làm việc những công việc linh tinh ở Canada, đầu tiên là làm nông dân (“Tôi nghĩ mình làm công việc đó chỉ để đưa “việc dọn phân” lên đầu bản sơ

yếu lý lịch”), rồi làm xây dựng. Năm 1966, đúng vào năm Frances Yates xuất bản Thuật ghi nhớ, tác phẩm học thuật quan trọng đầu tiên thời hiện đại bàn vệ về lịch sử rực rỡ của trí nhớ, Buzan quay về London để trở thành biên tập cho Intelligence, tạp chí quốc tế của Mensa, một cộng đồng với chỉ số IQ cao mà ông đã tham gia từ hồi đại học. Cùng khoảng thời gian đó, một số trường học ở nội thành khu Đông London thuê ông làm giáo viên dạy tạm thời. “Tôi là một giáo viên đặc biệt, có đầu óc, có ý chí và thích đi lại,” ông nói. “Nếu một giáo viên buông bỏ lớp nào, tôi là người tiếp theo bước vào lớp đó.”
Thường Buzan chỉ dạy thay trong mỗi lớp một thời gian ngắn, nhiều lắm thì vài ngày, và ngay cả giáo viên thiện chí nhất cũng tin rằng thời gian như vậy là không đủ để ông có thể làm nên sự khác biệt. Khi tìm cách giúp đỡ những học sinh cá biệt, và có lẽ để truyền sự tự tin vốn thừa thãi ở ông sang cho chúng, Buzan đã dụng đến những kỹ thuật ghi nhớ cổ xưa mà ông học ở đại học. “Tôi đi vào lớp và hỏi học sinh rằng chúng có ngốc hay không, bởi vì mọi người ai cũng bảo chúng ngốc, và đáng buồn thay chúng tin là mình ngốc,” Buzan nói. “Trong đầu chúng hằn in cái ý nghĩ rằng mình kém khả năng. Tôi nói, “OK, hãy thử xem,’ rồi tôi cho chúng một bài kiểm tra trí nhớ, chúng không qua được. Tôi nói, ‘Dường như đúng là các em ngốc thật.’ Rồi tôi dạy chúng một kỹ thuật ghi nhớ, và tôi kiểm tra lại, chúng trả lời đúng hai mươi trên hai mươi. Rồi tôi chỉ nói, ‘Các em bảo tôi là các em ngốc, các em đã chứng minh là các em ngốc, và rồi các em vừa có điểm số hoàn hảo ở một bài kiểm tra.’ Rồi tôi đặt câu hỏi cho chúng: Điều gì diễn ra ở đây? Với một vài sinh viên chưa bao giờ đạt điểm tuyệt đối trong bài thi, đây đúng là một sự mặc khải.”

Không những có cơ hội thực hành thuật ghi nhớ, mà giờ đây còn dạy những kỹ thuật đó, điều này cho phép Buzan bắt đầu phát triển những kỹ thuật theo hướng mới, đặc biệt là kỹ thuật liên quan đến việc ghi chép. Sau vài năm, ông tạo ra một hệ thống ghi chép mà ông cho là hoàn toàn mới nhờ vào trí tuệ cổ xưa trong sách Ad Herennium.

“Tôi đang cố tìm ra cái cốt lõi, cái bí quyết của việc ghi chú là gì,” ông nói. “Điều đó dẫn tôi đến những mật mã và biểu tượng, những hình ảnh và mũi tên, gạch chân và màu sắc.” Buzan gọi hệ thống mới của ông là Bản đồ Tư duy (Mind Mapping), một thuật ngữ sau này trở thành thương hiệu. Người ta tạo ra Bản đồ Tư duy bằng cách vẽ các đường nối những ý chính với ý phụ, rồi đến các ý nhỏ hơn, và cứ như thế. Những ý tưởng diễn đạt các ít lời càng tốt, và mỗi khi có thể thì được minh họa bằng hình ảnh. Một dạng sơ đồ, được trải ra trên toàn trang giấy theo những dải màu sắc, một mạng lưới những mối liên hệ trông như một búi gai, hay các nhánh thần kinh. Và vì nó đầy hình ảnh sặc sỡ được sắp xếp có trật tự trên trang giấy, nó đóng vai trò như một dạng cung trí nhớ phác họa lên trang giấy.

“Theo cách hiểu thô thiển về chức năng của trí nhớ, chúng ta cho rằng trí nhớ hình thành chủ yếu qua lối học vẹt. Nói cách khác, bạn cứ cố nhồi nhét vào cho đến khi đầu bạn đầy ứ những sự kiện. Điều ta không nhận ra là: ghi nhớ trước hết là một quá trình tưởng tượng. Thực tế, học tập, trí nhớ, và sáng tạo về cơ bản đều là một quá trình, nhưng có mục tiêu khác nhau,” Buzan nói. “Thuật ghi nhớ và khoa học trí nhớ nói về phát triển khả năng tạo ra hình ảnh các một cách nhanh chóng để liên kết các ý tưởng rời rạc. Sự sáng tạo là khả năng tạo thành những mối liên hệ tương tự giữa các hình ảnh rời rạc để tạo ra một điều gì mới và phóng điều mới đó vào tương lai để nó trở thành một bài thơ, hay một tòa nhà, một điệu múa, hay một tiểu thuyết. Sự sáng tạo, hiểu theo khía cạnh nhất định, là trí nhớ trong tương lai.” Nếu bản chất của sự sáng tạo là liên hệ những sự việc và ý tưởng rời rạc, thì bạn càng giỏi tạo ra những mối liên hệ, và đầu bạn càng sẵn có nhiều sự kiện và ý tưởng, thì bạn càng dễ nghĩ ra các ý tưởng mới. Buzan muốn chỉ ra Thần trí nhớ chính là mẹ của nàng thơ.

Quan niệm rằng ghi nhớ và sự sáng tạo là hai mặt của một đồng xu nghe có vẻ không thuận tai vì đó dường như là những quá trình đối lập nhau chứ không bổ trợ cho nhau. Nhưng khi xưa, đã có thời người ta cho rằng hai quá trình đó là một. Từ Latin inventio là gốc của hai từ tiếng Anh hiện đại: inventory (lưu trữ) và invention (sáng tạo, phát minh). Và với một đầu óc được rèn luyện thuật ghi nhớ, hai ý tưởng này liên hệ chặt chẽ với nhau. Sáng tạo là sản phẩm của lưu trữ. Ý tưởng mới từ đâu mà ra nếu không phải sự pha chế những ý tưởng cũ? Để phát minh, trước hết người ta phải có sự lưu trữ phù hợp, một kho những ý tưởng đã có sẵn để sử dụng. Không chỉ là một kho lưu trữ, mà một kho lưu trữ đã được tạo mục lục. Người ta cần có cách để tìm ra mẩu thông tin phù hợp vào thời điểm phù hợp.
Đây là ứng dụng lớn nhất của thuật ghi nhớ. Nó không chỉ là một công cụ để ghi lại, mà còn là công cụ phát minh và sáng tác. “Vào thời xưa, việc nhận ra rằng sự sáng tạo phụ thuộc vào một trí nhớ phong phú sẵn có đã tạo cơ sở cho sự giáo dục về hùng biện,” Mary Carruthers viết. Bộ não được tổ chức giống như cái tủ chứa hồ sơ hiện đại, với những sự kiện, câu trích dẫn, ý tưởng quan trọng vào những ngăn trí nhớ gọn gàng, nơi chúng không bao giờ bị thất lạc, và sẵn sàng được kết hợp và xâu chuỗi lại. Mục tiêu của rèn luyện trí nhớ là phát triển khả năng nhảy từ chủ đề này đến chủ đề khác, và tạo những mối liên hệ mới từ các ý tưởng cũ. “Ứng dụng quan trọng nhất của thuật ghi nhớ là vào thời Trung cổ, ở đó nó gắn với sáng tạo, không chỉ đơn thuần sự lưu trữ,” Carruthers lập luận. “Người ta sử dụng thuật ghi nhớ - như sử dụng mọi thủ thuật khác - là để làm ra những thứ mới: những lời cầu nguyện, những suy tư, những bài giảng đạo, những bức tranh, bài thánh ca, những câu chuyện, những bài thơ.”

Năm 1973, BBC nghe nói đến công trình Bản đồ Tư duy và thuật ghi trí nhớ của Buzan, họ đã mời ông đến gặp người đứng đầu ban giáo dục của đài. Sau cuộc gặp đó là sự ra đời loạt chương trình mười kỳ của BBC và cuốn sách kèm theo, cả hai đều có tên là Sử dụng cái đầu của bạn (Use Your Head), cuốn này đã giúp biến Buzan thành một người Anh nổi tiếng và làm ông nhận ra tiềm lực thương mại khổng lồ của những kỹ thuật trí nhớ ông đang quảng bá. Ông bắt đầu lấy những ý tưởng, mà phần nhiều là vay mượn trực tiếp từ những tài liệu khảo cứu cổ đại và trung cổ, và gói ghém lại để chuyển thành một loạt sách phát triển kỹ năng bản thân. Ngày nay, ông đã xuất bản gần 120 đầu sách, gồm Sử dụng trí nhớ hoàn hảo, Sử dụng tối đa trí óc, Sử dụng cả hai bán cầu não, Sử dụng trí nhớ, Làm chủ trí nhớ (Use Your Perfect Memory, Make the Most of Your Mind, Use Both Sides of Your Brain, Use Your Memory, Master Your Memory). (Một lần có dịp tôi ngồi riêng cùng lái xe của Buzan khá lâu, tôi hỏi ý kiến anh ta về tác phẩm của ông chủ anh. “Cũng miếng thịt đó, chỉ nước sốt là khác” là đánh giá cá nhân của anh ta về tác phẩm của Buzan.)
Cũng phải công nhận rằng, Buzan chắc chắn là thiên tài tiếp thị. Ông ta đã ký hợp đồng nhượng quyền thương mại với nhiều giáo viên trên toàn thế giới, họ được đào tạo để dạy những khóa học về cải thiện trí nhớ, đọc nhanh, và Bản đồ Tư duy. Ngày nay, có hơn ba trăm giáo viên được Buzan cấp quyền tổ chức tập huấn ở hơn sáu mươi quốc gia. Hàng ngàn giáo viên trên thế giới chính thức dạy hệ thống trí nhớ được Buzan bảo chứng. Ông ước tính rằng cả sự nghiệp của ông, tổng doanh thu từ các sản phẩm của Buzan, gồm sách, băng đĩa, chương trình truyền hình, các khóa đào tạo, trò chơi trí não, và những bài thuyết trình là hơn 300 triệu USD.

Cộng đồng thể thao trí nhớ chia rõ thành hai nhóm:những người nghĩ Tony Buzan là Chúa Jesus tái thế và những người nghĩ ông làm giàu nhờ buôn bán những ý tưởng thái quá, đôi khi là phi khoa học, về bộ não. Họ chỉ ra (mà quả có thế), rằng Buzan luôn thuyết giảng về “cách mạng giáo dục toàn cầu”,nhưng thành công trong việc tạo ra một đế chế thương mại

toàn cầu của ông ta lớn hơn nhiều so với việc thực sự đưa phương pháp của ông vào lớp học.

Đối với những người như Ed, tức những người xem thuật ghi nhớ là nghiêm túc và tin vào thông điệp của Tony Buzan rằng thuật nghi nhớ vẫn có chỗ đứng trong lớp học hiện đại, thì điều đặc biệt gây thất vọng cho họ ấy là người truyền tải thông điệp đôi khi trở thành lố bịch.

Buzan có một thói quen khó chịu đó là sa đà vào việc mạo danh khoa học và cường điệu hóa khi mô tả về sự tuyệt vời của phương pháp rèn luyện trí nhớ có tính cách mạng, hoặc ông ta đã “thay đổi cuộc sống của hàng triệu người” ra sao. Ông ta nổi tiếng vì phát biểu những điều phi lý kiểu như “Trẻ nhỏ sử dụng đến 98% công cụ tư duy. Lúc 12 tuổi, chúng sử dụng chừng 75 phần trăm. Đến tuổi thiếu niên, chúng giảm xuống 50 phần trăm, và khi vào đến đại học chỉ còn chưa đến 25 phần trăm, và đến khi đi làm thì còn chưa đầy 15 phần trăm”.
Buzan đi khắp đó đây đưa ra những tuyên bố mạnh bạo về bộ não, ông không những được tin tưởng rộng rãi, mà thực sự được tung hô, điều đó hẳn là bằng chứng cho sự hoang sơ của ngành khoa học về não bộ, và chứng tỏ mức độ mọi người muốn tin rằng trí nhớ của họ có thể cải thiện được. Sự thật là, cái tài liệu hướng dẫn sử dụng bộ não mà Buzan hy vọng đưa vào trường đại học đến nay vẫn chưa được viết ra.

Dù có mạo danh khoa học và tỏ ra cường điệu khi quảng bá cho Bản đồ Tư duy, thực sự vẫn có chứng cứ khoa học cho thấy hệ thống của ông có tác dụng. Các nhà nghiên cứu ở Đại học London gần đây cho một nhóm sinh viên đọc một đoạn văn bản sáu trăm từ, một nửa trong số sinh viên này được dạy cách theo Bản đồ Tư duy. Một nửa khác ghi chú theo cách bình thường. Một tuần sau họ được kiểm tra, những sinh viên dùng Bản đồ Tư duy giữ lại được nhiều hơn 10% kiến thức từ đoạn văn, so với những sinh viên dùng các kỹ thuật ghi chú truyền thống. Đó có lẽ là một lợi ích khiêm nhường, nhưng không phải không có ý nghĩa.
Sau khi đã thử dùng kỹ thuật bản đồ tư duy để vạch ý tưởng cho vài phần cuốn sách này, thì ấn tượng của tôi là phần lớn sự hữu ích của nó xuất phát từ sự tập trung cần thiết để tạo lập sơ đồ. Không giống như kiểu ghi chú thông thường, bạn không thể lập Bản đồ Tư duy một cách tự động. Tôi cảm nhận rằng đó là một cách hiệu quả để vận động bộ não và tổ chức thông tin, nhưng thật khó nói rằng đó là “công cụ trí óc siêu phàm” hay “một hệ thống mang tính cách mạng” như Buzan rêu rao.
Raemon Matthews lại không hề nghi ngờ gì về hiệu quả của Bản đồ Tư duy hay việc rèn luyện trí nhớ. Vào cuối năm, mỗi học sinh của ông lập một bản đồ tư duy chi tiết và phức tạp cho cả cuốn sách giáo khoa lịch sử Hoa Kỳ. Hầu hết bản đồ của học sinh tận dụng hết cả tờ giấy lớn gập ba, trên đó là những mũi tên liên hệ với mỗi từ và hình ảnh, từ Plymouth Rock trong góc bên này đến Monica Lewinsky ở góc kia. “Nếu trong kỳ thi tốt nghiệp, các em được hỏi về nguyên nhân Chiến tranh Thế giới I, thì trong đầu các em sẽ xuất hiện phần sơ đồ đó, và đáp án ngay ở đó,” Matthews nói. Hẳn sẽ có hình ảnh một bàn tay đen đại diện cho tổ chức những người theo chủ nghĩa dân tộc Serbi mà kẻ sát hại Archduke Franz Ferdinand là thành viên, cạnh khẩu súng máy mang đôi giày chạy, đại diện cho cuộc chạy đua vũ trang đã tàn phá châu Âu những năm đầu thế kỷ hai mươi, và bên cạnh đó là hai hình tam giác đại diện cho khối Đồng minh và khối Hiệp ước.

Matthews tận dụng mọi cơ hội để chuyển các sự kiện thành hình ảnh. “Học sinh của tôi

không nhớ được sự khác nhau giữa những hệ thống kinh tế của Stalin và Lenin,” ông bảo tôi. “Tôi bảo chúng, ‘Này, Lenin đang ngồi trong nhà vệ sinh, và ông ấy táo bón là vì hệ thống kinh tế hỗn hợp. Stalin lao vào phòng vệ sinh và bảo, “Ông đang làm gì ở đây?” Và Lenin nói, “Đất đai, hòa bình, và bánh mì.” Thế là các em không bao giờ quên hình ảnh đó.”

Dạng ghi nhớ này đáng chỉ trích ở chỗ nó là dạng tri thức không gắn với bối cảnh. Chúng hời hợt, là ví dụ điển hình cho việc học mà không hiểu. Đây là cách giáo dục theo kiểu trình chiếu PowerPoint, hay tệ hơn, CliffsNotes[24]. Hình ảnh Lenin và Stalin trong phòng tắm có thể thực sự cho bạn biết gì về nền kinh tế cộng sản? Nhưng quan điểm của Matthew là bạn phải bắt đầu đâu đó, và bạn phải khởi đầu bằng cách đặt vào đầu sinh viên những điều ít có khả năng bị quên nhất.

Khi thông tin “vào tai này rồi qua tai nọ,” thường là bởi nó không có gì để dính lại. Điều này cách đây không lâu bản thân tôi cũng gặp phải, khi tôi có cơ hội tới thăm Thượng Hải trong ba ngày để viết bài. Thế nào đó mà tôi, qua hai mươi năm đi học mà không hề biết thậm chí những sự kiện cơ bản nhất về lịch sử Trung Hoa. Tôi chưa bao giờ biết sự khác nhau giữa triều Minh và triều Thanh, hay thậm chí không biết rằng Hốt Tất Liệt là một nhân vật có thực. Tôi bỏ thời gian đi khắp thành phố Thượng Hải như một khách du lịch mẫu mực, tham quan các bảo tàng, cố nắm được vài ba hiểu biết hời hợt về lịch sử và văn hóa Trung Hoa. Nhưng trải nghiệm của tôi về nơi đó thật nghèo nàn khủng khiếp. Có rất nhiều thứ tôi không tiếp thu được, nhiều điều tôi không thể thưởng thức, vì tôi không có những hiểu biết căn bản để kết nối những sự kiện với nhau. Không phải tôi không biết, mà là vì tôi không có khả năng học.

Nan đề cần có kiến thức để lĩnh hội kiến thức thể hiện trong một nghiên cứu, trong đó các nhà nghiên cứu viết bản mô tả chi tiết một nửa hiệp bóng chày rồi đưa một nhóm người đam mê môn bóng chày (“những chuyên gia” là thuật ngữ Ericsson sử dụng) và một nhóm người ít đam mê hơn để họ đọc. Sau đó họ các nhà nghiên cứu kiểm tra xem đối tượng của họ có thể nhớ gì về nửa hiệp đấu đó. Những người đam mê bóng chày cấu trúc những hồi tưởng của họ theo những sự kiện quan trọng liên quan đến trận đấu, như người ghi điểm và lượt ghi điểm. Họ có thể tái hiện lại nửa hiệp đấu theo chi tiết rõ nét. Tưởng như họ đang đọc bảng ghi chép trận đấu. Những người ít đam mê hơn chỉ ghi nhớ vài chi tiết quan trọng của trận đấu, và chỉ có thể kể lại những chi tiết hời hợt như thời tiết hôm thi đấu. Bởi vì ngay chính bản thân họ không hình dung được chi tiết trận đấu nên họ không thể xử lý thông tin họ đang tiếp nhận. Họ không biết điều gì quan trọng, điều gì tầm thường. Họ không thể nhớ những điểm cốt yếu. Không có cái khung nhận thức để chứa những điều họ đang tiếp thu thì họ sẽ quên ngay.

Có thể nói gì nữa về hai phần ba thiếu niên Mỹ không biết cuộc Nội chiến xảy ra lúc nào? Hay 20% số người được hỏi không biết nước Mỹ chống lại bên nào trong Chiến tranh thế giới thứ II? Hay con số 44% cho rằng chủ đề của tiểu thuyết Chữ A màu đỏ (The Scarlet Letter) là sự xét xử một người đàn bà xấu xa hay là một bức thư? Cải cách giáo dục cấp tiến đã đạt được nhiều thành tựu. Nó làm cho trường học dễ chịu hơn, và thú vị hơn. Nhưng nó cũng mang lại cái giá đắt cho chúng ta, những cá nhân và công dân. Trí nhớ là cách chúng ta chuyển tải các tinh thần và giá trị, và tham dự vào nền văn hóa chung.
Tất nhiên, mục tiêu của giáo dục không đơn thuần là nhồi nhét các sự kiện vào đầu học sinh; nó hướng học sinh hiểu những sự kiện đó. Không ai đồng tình với điều đó hơn Raemon Matthews. “Tôi muốn những học sinh biết suy nghĩ, không phải những người chỉ biết lặp lại điều tôi nói với chúng,” ông nói. Nhưng dù bản thân những sự kiện không dẫn đến hiểu biết nhưng bạn không thể hiểu biết nếu không nắm vững sự kiện. Và quan trọng

là, biết càng nhiều thì càng dễ biết nhiều hơn nữa. Trí nhớ giống như một mạng nhện bắt lại những thông tin mới. Bắt được càng nhiều, thì cái mạng lưới càng lớn lên. Và mạng lưới càng lớn, thì nó lại bắt được càng nhiều thêm.

Những người mà tôi hằng ngưỡng mộ về sự hiểu biết luôn có sẵn những câu chuyện phù hợp hoặc những sự việc phù hợp sẵn sàng trong đầu. Họ có thể vươn khắp bề rộng vốn hiểu biết của bản thân và lôi ra những mẩu tri thức ở những ngóc ngách xa xôi. Chẳng cần phải nói cũng biết rằng trí tuệ ở cấp độ cao hơn rất rất nhiều so với trí nhớ thuần túy (có những kỳ nhân ghi nhớ rất nhiều nhưng hiểu rất ít, và chắc chắn rằng có những vị giáo sư già đãng trí nhớ ít nhưng hiểu nhiều), nhưng trí nhớ và trí tuệ song hành cùng nhau, như một cơ thể khỏe mạnh đi kèm với khuynh hướng thích thể thao. Giữa hai điều đó có một cái móc nối tác động qua lại. Thông tin mới càng được gắn chặt vào mạng lưới thông tin chúng ta đã biết, thì thông tin đó càng dễ nhớ hơn. Những người càng có nhiều mối liên kết để lưu giữ ký ức thì càng có khả năng dễ ghi nhớ những gì mới mẻ, họ sẽ biết nhiều hơn, và có thể học nhiều hơn. Nhớ càng nhiều, chúng ta càng ”chế biến” thế giới này tốt hơn. Và càng “chế biến” thế giới tốt hơn thì chúng ta càng có thể nhớ nhiều hơn.

Chương mười
Khả năng đặc biệt tiềm ẩn trong chúng ta
ến tháng Hai, cách giải Vô địch Trí nhớ Mỹ một tháng, hy vọng làm nên chuyện ở giải này bắt đầu được củng cố qua điểm số luyện tập. Chỉ trừ môn nhớ thơ và nhớ số nhanh, điểm số luyện tập của tôi trong các môn đang dần tiến đến điểm số cao nhất của các nhà vô địch Mỹ những năm trước. Ed bảo tôi chớ để tâm quá nhiều vào việc này. “Lúc ngồi dưới ánh đèn, bao giờ anh cũng giảm đi hai mươi phần trăm phong độ,” anh nhắc lại lời khuyên đã nhiều lần bảo tôi. Song, tôi vẫn khá kinh ngạc vì tiến bộ của mình. Lúc tập luyện, có khi tôi còn ghi nhớ được một cỗ bài trong một phút năm mươi lăm giây, nhanh hơn một giây so với kỷ lục Mỹ. Nhật ký rèn luyện ngày hôm đó ghi thế này: “Lẽ não mình thực sự có thể chiến thắng sao?!” (còn có dòng ghi chú bí hiểm này nữa: “Tập trung vào
phần tóc còn lại của DeVito!!”)

Hoạt động tập luyện này ban đầu chỉ là sự tham gia trải nghiệm của người làm báo, giờ đã trở thành một nỗi ám ảnh. Lúc khởi điểm, tôi chỉ muốn tìm hiểu về thế giới kỳ lạ của những người luyện trí nhớ xem như thế nào, và muốn biết liệu trí nhớ của mình có thực sự cải thiện được không. Việc tôi ở vào vị thế thực sự chiến thắng tại giải vô địch Mỹ dường như là bất khả thi, chẳng khác nào George Plimpton bước vào sàn đấu cùng Archie Moore và thực sự hạ nốc ao ông ta.
Tất cả những gì tôi được nghe - từ Ed, từ Tony Buzan, và cả Anders Ericsson - đều cho thấy rằng quá trình rèn luyện chán ngắt này là cách duy nhất để đạt được trí nhớ hoàn hảo hơn. Chẳng ai bước vào thế giới này với khả năng bẩm sinh chỉ nhìn thoáng qua là ghi nhớ được cả loạt chữ số ngẫu nhiên hay những bài thơ, hoặc chụp các hình ảnh vào trong tâm trí.

Tất nhiên, khi đào bới trong những tư liệu, người ta cũng bắt gặp đây đó một vài hiện tượng hiếm hoi - có lẽ chưa đầy một trăm trường hợp trong thế kỷ qua - những kỳ nhân (savant) có trí nhớ phi thường, họ dường như phá vỡ mọi quy tắc. Điều nổi bật nhất ở những cá nhân này là trí nhớ đặc biệt của họ - “ghi nhớ không cần nghĩ ngợi,” người ta gọi như vậy - gần như luôn song hành với khuyết tật sâu sắc. Một số là thiên tài âm nhạc, như Leslie Lemke, ông bị mù và tổn thương não, mãi đến mười lăm tuổi mới biết đi, tuy nhiên ông có thể chơi những bản nhạc phức tạp trên đàn dương cầm sau khi nghe chúng chỉ một lần. Một số thiên tài nghệ thuật như Alonzo Clemons, người có IQ chỉ 40 nhưng có thể điêu khắc các con vật sống động như thật dù mới chỉ nhìn thoáng qua. Một số có kỹ năng cơ khí kinh hồn, như James Henry Pullen, “Thiên tài ở Bệnh viện Earlswood,” vào thế kỷ mười chín, ông bị điếc và gần như câm, nhưng có thể làm những mô hình tàu rất vi diệu.
Một ngày nọ, sau khi đã ghi nhớ 138 chữ số trong năm phút luyện tập, tôi ngồi trước tivi, tay phẩy những quân bài, như vẫn thường làm để giết thời gian. Lúc đang nhìn quân Q nhép, nghĩ về Roseanne Barr (nữ nghệ sĩ nổi tiếng người Mỹ) và định tạo ra một ký ức thật “sốc”, thì xem thấy đoạn giới thiệu phim tài liệu mới có tên Đầu óc phi thường (Brainman), nói về những thiên tài hiếm hoi đó. Nhân vật chính của bộ phim được phát sóng trên kênh Khoa học đó là một kỳ nhân người Anh, hai mươi sáu tuổi, tên Daniel Tammet, bộ não bị biến đổi sau một cơn động kinh lúc còn tập đi. Daniel có thể thực hiện phép tính nhẩm nhân chia phức tạp nhẹ nhàng như không cần phải cố gắng. Anh ta có thể khẳng định một số bất kỳ dưới mười ngàn có phải số nguyên tố không. Hầu hết các kỳ nhân đều chỉ có duy nhất một khả năng phi thường, một “đảo thiên tài” độc nhất, nhưng Daniel có một “quần

đảo” thực sự. Ngoài khả năng tính toán nhanh như chớp, anh ta còn là một nhà siêu ngôn ngữ - một thuật ngữ dùng để chỉ một số ít người có thể nói hơn sáu thứ tiếng. Daniel nói được mười thứ tiếng, anh kể mình học tiếng Tây Ban Nha chỉ trong một tuần. Anh ta còn sáng tạo ra một ngôn ngữ riêng gọi là Mänti. Để thử khả năng ngôn ngữ của anh ta, nhà sản xuất phim Brainman đã đưa Daniel đến Iceland và cho anh ta một tuần để đạt trình độ giao tiếp thoải mái bằng tiếng Iceland, một trong những ngôn ngữ khét tiếng là khó nhất thế giới. Vào cuối tuần đó, người dẫn trên truyền hình quốc gia đã thử kiểm tra anh ta và hoàn toàn “kinh ngạc.” Gia sư của Daniel trong tuần đó đã gọi anh ta là “thiên tài” và “không phải người thường.”

Nhà sản xuất phim Brainman cũng mời hai nhà khoa học hàng đầu thế giới nghiên cứu não bộ, V.S. Ramachandran ở Đại học California, San Diego, và Simon Baron-Cohen ở Cambridge, để dành họ dành thời gian kiểm tra Daniel. Cả hai đều kết luận rằng anh ta quả thật là hiện tượng có một không hai. Không giống như đại đa số những kỳ nhân khác họ từng nghiên cứu, anh ta có thể giải thích điều diễn ra trong đầu mình, hơn nữa thường tả rất chi tiết rõ ràng. Shai Azoulai, một sinh viên sau đại học ở phòng nghiên cứu của Ramachandran, tiết lộ rằng Daniel “có thể là mấu chốt khai sinh ra một lĩnh vực nghiên cứu mới.” Tiến sĩ Darold Treffert, một chuyên gia về hội chứng kỳ nhân, tuyên bố anh ta là một trong năm mươi người duy nhất trên thế giới có thể được xếp loại là “kỳ nhân vĩ đại.”

Dù gọi là một hội chứng, nhưng hội chứng kỳ nhân không thực sự được coi là một tình trạng bệnh lý, và không có những tiêu chuẩn để chẩn đoán. Treffert chia các kỳ nhân thành ba nhóm một cách không chính thức. Những kỳ nhân với “kỹ năng chuyên biệt” ghi nhớ được một chi tiết tầm thường của đối tượng toàn thể nào đó, ví dụ như một bệnh nhân trẻ của Treffert chỉ cần nghe tiếng kêu rì rì của máy hút bụi là nói chính xác được mẫu máy và năm sản xuất. Nhóm thứ hai, ông gọi là “kỳ nhân tài năng,” họ phát triển một lĩnh vực chuyên môn tổng quát hơn, như hội họa hoặc âm nhạc, khía cạnh tài năng này rất nổi bật vì nói đối lập rõ ràng với khuyết tật của họ. Nhóm thứ ba là kỳ nhân vĩ đại, họ có những khả năng rất cao siêu, xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào dù không bị khuyết tật ở các mặt khác. Treffert tin rằng đó là cách phân loại mang tính chủ quan nhưng quan trọng, vì những kỳ nhân vĩ đại thuộc một trong những nhóm người hiếm hoi nhất trên hành tinh. Việc phát hiện được một kỳ nhân vĩ đại mới như Daniel là một sự kiện rất quan trọng.
Truyền thông ngấu nghiến câu chuyện của Daniel. Báo chí ở Anh và Mỹ đăng những câu chuyện nức lời khen ngợi “Anh chàng có Bộ não Phi thường” hết sức thú vị này. Anh ta xuất hiện trên chương trình The Late Show with David Letterman và tính được anh chàng dẫn chương trình sinh vào thứ mấy (thứ Bảy), và trên chương trình trò chuyện với nhân vật Richard & Judy của Anh. Hồi ký của anh ta - Sinh vào một ngày xanh (Born in a Blue Day), được tờ New York Times xếp hạng sách bán chạy ở Mỹ, và nhanh chóng vươn lên vị trí số 1 trong bảng xếp hạng của trang web Amazon Anh. Daniel có lẽ là kỳ nhân còn sống nổi tiếng nhất trên thế giới.

Điều khiến tôi quan tâm nhất ở Daniel trí nhớ phi thường của anh ta. Năm 2003, anh ta lập kỷ lục châu Âu mới, nhớ được 22.514 chữ số đầu tiên của số pi. Anh ta đọc dãy số đó trong hết năm tiếng và chín phút dưới tầng hầm của Bảo tàng Khoa học tại Đại học Oxford, và anh ta bảo không dùng kỹ thuật ghi nhớ nào hết ngoài khả năng trí nhớ ghê gớm của mình. Anh có các khả năng đáng kinh ngạc như những vận động viên trí nhớ, chỉ khác là anh ta có được những khả năng đó mà hoàn toàn không phải tốn công sức. Gần như không thể tin nổi. Trong khi đó, tôi phải khốn khổ hàng bao nhiêu tiếng đồng hồ để tản bộ trong tâm trí qua mỗi căn nhà tôi từng ghé thăm, mỗi ngôi trường tôi đã theo học,

và mỗi thư viện tôi từng đến để chúng có thể chuyển thành những cung trí nhớ. Tôi tự hỏi tại sao một kỳ nhân như Daniel không bao giờ tham dự các cuộc thi trí nhớ. Tôi tưởng tượng chắc hẳn anh ta sẽ thắng áp đảo những chuyên gia trí nhớ qua rèn luyện.

Càng tìm hiểu về câu chuyện Daniel, tôi càng phấn khích về những khác biệt giữa anh ta và các vận động viên trí nhớ mà tôi biết và chính bản thân con người vận động viên trí óc mà tôi sắp sửa trở thành. Tôi biết các chuyên gia trí nhớ làm như thế nào: họ cải thiện trí nhớ qua rèn luyện khắc khổ, dùng những kỹ thuật xa xưa. Chính tôi cũng đã và đang làm như vậy. Nhưng tôi không hiểu sức mạnh của Daniel do đâu mà có. Như nhà báo S mà tôi đã nhắc đến ở phần trước, Daniel dường như có khả năng ghi nhớ bẩm sinh. Bộ não anh ta khác não tôi thế nào? Và anh ta có mẹo riêng nào để giúp tôi giành lợi thế ở giải vô địch Mỹ không?

Tôi quyết định thử tìm gặp Daniel. Anh ta mời tôi đến căn nhà anh ta sống cùng người bạn tên Neil, ở cuối một ngõ cụt nhiều cây cối tại thị trấn Kent xinh đẹp bên bờ biển, nước Anh. Chúng tôi dành trọn cả hai buổi chiều trong phòng khách nhà anh ta, chuyện trò, uống trà ăn món cá chiên và khoai rán. Daniel gầy gò, tóc vàng cắt ngắn, đeo kính, trông anh có nét gì đó như chú chim. Anh ta dịu dàng, giọng nói nhỏ nhẹ, phong thái duyên dáng, và nói năng cực kỳ lưu loát - anh giải thích trí nhớ kỳ lạ của mình một cách thoải mái như khi đang lý giải tại sao The West Wing là một chương trình truyền hình sâu sắc nhất nước Mỹ. Tôi chuẩn bị tinh thần gặp một kẻ lập dị nên đã rất sửng sốt khi thấy Daniel có cái vẻ bình thường đến đáng ngạc nhiên như vậy - thậm chí còn bình thường hơn cả những vận động viên trí óc mà tôi quen biết. Sự thực, nếu anh ta không bảo tôi, thì tôi không chắc mình có nhận ra được vẻ gì bất thường ở anh ta không. Tuy nhiên, Daniel đảm bảo với tôi rằng, dù vẻ bề ngoài như vậy, anh ta vẫn không hề là một người bình thường. “Anh mà gặp tôi cách đây mười lăm năm. Hẳn anh sẽ nói, “Trời, gã kia bị tự kỷ!”
Daniel là con cả trong một gia đình chín anh chị em. Anh ta lớn lên trong ngôi nhà chính phủ hỗ trợ cho gia đình thu nhập thấp ở Đông London và trải qua một “tuổi thơ khốn khó”, anh ta bảo vậy, “như trong truyện của Dickens.” Trong cuốn Sinh vào một ngày xanh, anh ta mô tả cơn động kinh dữ dội xảy ra năm bốn tuổi: Đó là một trải nghiệm “không giống bất cứ điều gì khác, tưởng như bốn bức tường phòng tôi lùi ra xa, và ánh sáng trong phòng thoát ra, thời gian như đông kết lại rồi giãn ra thành một khoảnh khắc duy nhất kéo dài. Nếu bố Daniel không vội vã đưa anh lên taxi vào bệnh viện cấp cứu, thì cơn động kinh đó hẳn đã giết anh. Anh tin rằng đó là giây phút anh trở thành kỳ nhân.

Theo Baron-Cohen, có hai điều kiện hiếm hoi có thể là nguyên nhân tạo ra khả năng kỳ nhân của Daniel. Đầu tiên là chứng giác quan liên đới, một dạng rối loạn nhận thức đã gây khốn khổ cho nhà báo S khi giác quan của anh ta bện xoắn vào nhau. Có ước tính cho biết có hơn một trăm dạng rối loạn khác nhau. Với S, âm thanh gợi ra nhiều hình ảnh. Với trường hợp Daniel, những con số mang những hình dạng riêng biệt, màu sắc, đường nét và “tông” cảm xúc riêng biệt. Ví dụ, số 9 cao, màu xanh thẫm và báo điềm xấu, trong khi số 37 lại “lủng bủng như cháo yến mạch” và số 89 giống như tuyết đang rơi. Daniel bảo anh ta có cảm giác tổng hợp như vậy cho từng số từ 1 đến 10.000, và việc cảm nhận những chữ số theo cách này cho phép anh ta tính nhẩm rất nhanh, không cần đến giấy bút. Để nhân hai con số, anh ta hình dung hình dạng của mỗi số trôi bồng bềnh trong đầu. Rồi anh ta dễ dàng cho biết ngay câu trả lời chính là cái hình thứ ba tạo thành ngay khoảng giữa hai hình kia. “Nó như một sự kết tinh. Như rửa một bức ảnh,” Daniel bảo tôi. “Chia chỉ là nghịch đảo phép nhân. Tôi thấy một số, và trong đầu mình, tôi bứt nó ra. Như lá trên cây rụng xuống.” Daniel tin rằng những hình dạng do chứng giác quan liên đới tạo ra bằng cách nào đó đã mã hóa hoàn toàn những thông tin quan trọng về thuộc tính những con số.

Ví dụ số nguyên tố có “đặc điểm như đá cuội.” Chúng tròn và mịn, không có gồ ghề sắc cạnh như những hợp số.

Daniel mắc bị một chứng bệnh hiếm gặp khác là Asperger, một dạng tự kỷ có khả năng cao. Tự kỷ được Leo Kanner, một bác sỹ chuyên về thần kinh trẻ em, nhận diện lần đầu tiên vào năm 1543. Ông mô tả nó là một dạng suy giảm giao tiếp xã hội, một rối loạn mà theo Kanner, bệnh nhân “coi mọi người như đồ vật.” Kèm với việc thiếu khả năng đồng cảm, cá nhân bị tự kỷ mắc nhiều vấn đề khác, gồm khiếm khuyết ngôn ngữ, tập trung cao độ vào một số điều ưa thích, và “một khao khát đến hoang mang ám ảnh muốn giữ mọi thứ bất biến.” Một năm sau khi Kanner viết về chứng tự kỷ, một bác sĩ khoa nhi người Áo, tên Hans Asperger ghi nhận một dạng rối loạn khác gần giống hệt chứng trên, trừ việc các bệnh nhân của Asperger có khả năng ngôn ngữ rất tốt và rất hiếm bị khuyết tật trí tuệ. Ông gọi các bệnh nhân trẻ với những khả năng sớm phát triển của mình và với những hiểu biết vô hạn về những điều bình thường không mấy ai biết tới, là “những tiểu giáo sư.” Mãi cho đến năm 1981, phát hiện của Asperger mới được công nhận là một hội chứng riêng.

Chứng tự kỷ của Daniel là do Baron-Cohen chẩn đoán, ông là người điều hành Trung tâm Nghiên cứu Tự kỷ Cambridge và cũng trùng hợp là giáo sư đầu ngành về chứng giác quan liên đới. “Nếu gặp anh ta lúc này, không chắc anh nhận ra anh ấy bị một dạng tự kỷ đâu”, BaronCohen vừa nhấp trà, vừa nói với tôi vào một buổi chiều trong phòng làm việc của ông ở Đại học Trinity. “Chỉ biết được khi nghe những diễn tiến trong bệnh sử của anh ta thôi. Tôi bảo anh ấy, “Những diễn biến của anh cho thấy rằng khi còn trẻ, anh bị tự kỷ, nhưng nhìn anh bây giờ, tôi thấy anh đã thích nghi rất tốt, anh đang rất bình thường nên không nhất thiết phải khám. Tùy anh có muốn khám hay không. Anh ta nói, ‘Vâng, tôi muốn.’ Nó giúp anh ta có cách nhìn mới về bản thân. Điều đó tốt thôi. Nó hợp với hồ sơ của anh ta.”
Trong cuốn hồi ký của mình, Daniel viết rất nhiều những hệ luỵ của việc trẻ em lớn lên mà không được phát hiện là mắc chứng tự kỷ. “Những đứa trẻ khác nghĩ về tôi như thế nào? Tôi không biết, bởi vì tôi không có ký ức gì về chúng cả. Với tôi, chúng là ”phông nền” cho những trải nghiệm hình ảnh và cảm xúc của tôi.” Suốt tuổi thơ ấu, Daniel vật vã vì niềm đam mê những thứ vặt vãnh. Anh ta thu thập tờ rơi và đếm mọi thứ, biết mọi điều đến mức ám ảnh về nhóm nhạc Carpenters năm 1970. Anh ta hay gặp rắc rối vì hiểu mọi việc quá sát nghĩa đen. Sau khi làm động tác dứ ngón tay giữa vào một bạn học, anh ta ngạc nhiên khi nhận được lời khiển trách. “Tại sao một ngón tay có thể chửi thề được?” anh ta tự hỏi. Sự đồng cảm không dễ dàng mà có. “Tôi không có khái niệm lừa dối,” anh ta nói. “Tôi đã cố gắng rất nhiều để đạt đến trạng thái thực sự bình thường như bây giờ, tôi có thể trò chuyện và biết lúc nào nên nói và lúc nào thôi, và luôn nhớ giao tiếp bằng mắt.” Dù dường như đã khắc phục được điểm yếu về giao tiếp xã hội, cho đến ngày nay, Daniel bảo anh ta vẫn không thể tự cạo râu hay lái xe. Tiếng bàn chải cọ lên răng khiến anh ta phát điên. Anh tránh những nơi công cộng, và ám ảnh với những điều nhỏ nhặt. Khi ăn sáng, anh ta đong chính xác bốn mươi lăm gram yến mạch trên cân điện tử.

Tôi nhắc tới bộ phim Brainman với Ben Pridmore. Tôi tò mò muốn biết liệu anh ta đã xem chưa, và liệu anh ta có sợ rằng Daniel - người có tài năng thiên bẩm ngang bằng, thậm chí là giỏi hơn Ben - ngày nào đó sẽ xuất hiện tại cuộc thi trí nhớ không.

“Tôi chắc gã này có tham gia vào các giải vô địch vài năm trước,” Ben thản nhiên bảo tôi. “Nhưng tôi nghĩ hắn dùng tên khác. Lúc ấy hắn lấy tên Daniel Corney. Có năm hắn thi đấu rất tốt, tôi nhớ vậy.”

Tôi hỏi vài vận động viên trí óc khác xem họ nghĩ gì về Daniel. Hầu như mọi người đã xem Brainman, và mỗi người một ý. Rất nhiều người nghi ngờ về việc anh ta là kỳ nhân, và tin rằng anh ta hẳn sử dụng kỹ thuật ghi nhớ cơ bản để ghi nhớ thông tin. “Bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể làm điều anh ta làm,” nhà vô địch thế giới tám lần Dominic O’Brien bảo tôi. “Nếu anh muốn nghe ý kiến của tôi, đơn giản là anh ta nhận ra mình chưa bao giờ là vận động viên trí óc số một.” O’Brien cũng phát biểu không ít hơn Daniel trước máy quay khi được tham gia ghi hình cho phim Brainman, nhưng cuối cùng các nhà sản xuất không đưa vào phim phần phỏng vấn anh ta.
Rõ ràng các vận động viên trí óc có nhiều lý do để ghen tị với Daniel. Kỹ năng ghi nhớ của anh ta xấp xỉ với họ, nhưng vị trí của anh ta trong lĩnh vực văn hóa là một trời một vực so với họ. Trong khi những chuyên gia ghi nhớ rèn luyện cực nhọc và được xem là những kẻ lập dị chẳng mấy người biết, thì tình trạng bệnh lý của Daniel làm dấy lên mối quan tâm to lớn từ công chúng.

Sau đó tôi truy cập vào trang web lưu thông tin về các giải đấu trí nhớ. Như dự tính, tôi tìm thấy Daniel Corney, người đã tham dự hai lần ở Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới, thành tích cao nhất là đứng ở vị trí thứ tư vào năm 2000. Cũng chính là Daniel đó, với họ khác: Anh ta đã làm thủ tục đổi họ một cách hợp pháp, vào năm 2001. Tôi thấy thật lạ rằng trong cuốn hồi ký về trí nhớ ấn tượng của mình, Daniel không hề nhắc đến vị trí thứ tư ở Giải vô địch Thế giới.
Tôi tìm kiếm tên Daniel trong Câu lạc bộ Trí óc (WWBC), một diễn đàn trực tuyến nơi các vận động viên trí óc tụ họp. Không chỉ Daniel tranh tài ở Giải Vô địch thế giới, anh còn là người công khai phê bình giải này, thậm chí đã đề ra một chương trình gồm tám điểm giúp môn thể thao trí nhớ có thể trở nên chính thống hơn, phổ biến hơn, và thu hút truyền thông hơn. Tôi đặc biệt ngạc nhiên trước một bài viết của Daniel trên WWBC. Đó là một quảng cáo từ năm 2001, trong đó anh ta chào bán “bí quyết công thức Sức-mạnh-trí- óc’ trong “khóa học qua e-mail về Kỹ năng Sức mạnh trí óc và Trí nhớ cao cấp.” đặc biệt của anh ta. Bí quyết đó là gì? Tôi tự hỏi. Và tại sao khi chúng tôi gặp nhau, anh ta không chia sẻ với tôi?

Điều làm chúng ta phát cuồng trước các kỳ nhân, cái lý do Daniel nhận được quá nhiều sự chú ý của cả các nhà khoa học lẫn công chúng, ấy là sự khác biệt của họ, khả năng của họ làm được một cách dễ dàng những điều tưởng như không thể. Thực sự, họ là những kẻ lạc loài giữa chúng ta, họ là những ngoại lệ của trật tự tự nhiên của vũ trụ. Các mẹo ghi nhớ mà những vận động viên trí óc khiến người ta há hốc mồm kinh ngạc dù sao vẫn chỉ là những thủ thuật mà thôi. Và giống bất cự mẹo ảo thuật nào khác, một khi bạn đã biết cách thực hiện - và có thể làm được - thì nó sẽ mất đi sự quyến rũ. Song những kỳ nhân là chuyện khác: với họ, trí nhớ không phải là một mẹo, mà là tài năng.
Song, giờ tôi bắt đầu tự hỏi nếu khoảng cách giữa mình và Daniel, hay nói cách khác là giữa bất cứ ai trong chúng ta với Daniel, không lớn như ta tưởng thì sao. Sẽ ra sao, như Dominic O’Brien nói, hầu hết các kỳ nhân nổi tiếng trên thế giới không phải là một cá nhân hiếm hoi với những khả năng thiên bẩm bí ẩn, mà chỉ là một người thành công nhờ những mẹo giống như tài năng của kỳ nhân nhờ rèn luyện có phương pháp? Vậy thì, sự khác biệt giữa anh ta và tôi là gì?
Khi nói về trí nhớ của kỳ nhân, hẳn chỉ còn một người khác được xếp ngang hàng với Brainman: Kim Peek, còn gọi là Rain Man (Người đàn ông mưa), một kỳ nhân tài năng sinh năm 1951, nguồn cảm hứng cho nhân vật do Dustin Hoffman thủ vai trong bộ phim của

Hollywood. Ông được coi là người có trí nhớ tốt nhất thế giới. Sau khi đã gặp Daniel, giờ tôi quyết định tới thăm Kim ở thành phố quê nhà ông tại Utah để so sánh, để tìm ra hai thần đồng nổi tiếng này có gì chung, và họ có thể kể gì cho tôi về bản chất của hội chứng kỳ nhân.

Tôi gặp Kim trong một chặng chuyến thuyết trình đây đó không ngừng nghỉ của ông cùng với Fran, cha của ông và đồng thời là người đi theo chăm sóc ông, Kim không bao giờ đòi trả tiền cho những buổi nói chuyện như vậy. Lần này ông nói chuyện trước một nhóm gần bốn mươi bà cụ, trong phòng sinh hoạt chung tại một nhà dưỡng lão ở thành phố Salt Lake quê hương ông. Các thính giả được mời thử “xoay” ông những thông tin bình thường (bất cứ điều gì ngoại trừ “những câu hỏi logic và lý luận,” Fran nhắc nhở). Một phụ nữ đang thở ôxy hỏi ông về đỉnh núi cao nhất Nam Mỹ. Ông trả lời chính xác - Núi Aconcagua, một người bình thường quan tâm đến các thông tin vặt vãnh như vậy cũng có thể biết - và cho biết nó có độ cao 6,8km (sau này tôi phát hiện ra độ cao đó chênh lệch so với thực tế chừng 150m). Một người cụt chân, ngồi xe đẩy, chất vấn Kim có bao nhiêu ngày lễ Phục sinh rơi vào tháng Ba trong thập niên 30. Với một chút ngập ngừng, ông trả lời. “27 tháng Ba, 1932. 28 tháng Ba, 1937.” Ở cuối câu trả lời, giọng ông líu tíu sôi nổi nghe như sắp phá ra cười khàn khàn. Giám đốc chương trình của nhà dưỡng lão hỏi ông về những cuốn sách được tóm tắt trong tập 4 của Reader’s Digest Condensed Book từ năm 1964. Ông nêu tên cả năm cuốn. Tên con gái của Harry Truman? Margaret. Số lần Steelers giành cúp Super Bowl? Bốn. Câu cuối của vở kịch Coriolanus? Ông đọc đúng từng chữ.

“Người này không bao giờ quên bất cứ điều gì,” Fran bảo tôi, thế nghĩa là bao gồm mọi thông tin trong hơn chín ngàn cuốn sách ông ấy đã đọc với tốc độ mười giây một trang. (Mỗi con mắt đọc một trang riêng). Ông ghi nhớ toàn bộ các phẩm của Shakespeare và tổng phổ của các bản nhạc cổ điển quan trọng. Trong vở kịch Đêm thứ Mười hai ( Twelfth Night) công diễn gần đây, một diễn viên nhầm vị trí hai câu thơ khiến Kim gây ra một vụ om sòm đến mức nhà hát đã bật đèn lên và dừng vở kịch lại. Từ đó ông không được phép xem kịch trực tiếp nữa.

Không như Daniel, thoạt nhìn ta cũng nhận ra ngay Kim là người hoàn toàn đặc biệt. Ông có mái tóc xám, thân hình vạm vỡ, cặp mắt lác sau cặp kính nhựa dày màu nâu. Đầu ông gần như lúc nào cũng nghiêng một góc bốn lăm độ. Ông luôn đút tay này lồng vào bàn tay kia, và cứ hễ phấn khích thì tay cứ thò ra thụt vào. Có lẽ ông là người hay nói bóng gió nọ kia có duyên nhất trên hành tinh, đầu óc ông đầy ắp những sự kiện và con số chúng thường tuôn ra như thác lũ không theo logic nào cả. Khi một phụ nữ Argentina ở nhà dưỡng lão bảo Kim rằng bà sinh ở Cordoba, Kim ngay lập tức kể bà nghe về những con đường cửa ngõ chính của thành phố quê hương bà, rồi gào lên đoạn điệp khúc bài “Don’t Cry for Me, Argentina,” làm tôi một phen nhấp nhổm khó chịu. Và rồi bỗng dưng ông hét lên, “Anh bị đuổi!” Fran giúp ông giải thích mối liên hệ: ngôi sao bóng rổ Dennis Rodman đã bị đội Los Angeles Lakers sa thải năm 1999, anh ta từng hẹn hò với Madonna, người đã đóng vai đệ nhất phu nhân Eva Peron (đệ nhất phu nhân rất được lòng dân của Argentina) trong bộ phim Evita.

Kim có vẻ đã phát hiện ra cứ mỗi khi ông nói chuyện theo nghĩa đen thuần túy là khán giả bật cười. Trong một cuộc trò chuyện gần đây, ông trả lời một câu hỏi về nội dung bài diễn văn Gettysburg như sau, “số 277 phố Northwest Front. Nhưng Lincoln ở đó chỉ một đêm. Hôm sau ông ấy mới đọc diễn văn.”[25] Giờ đây ông thường nhắc lại câu chuyện hài hước đó.

Kim thích được gọi là “Kimputer,” còn tên đầy đủ của ông là Laurence Kim Peek. “Chúng

tôi đặt tên nó theo Laurence Olivier và nhân vật Kim trong tiểu thuyết trùng tên của Rudyard Kipling[26]” Fran nói. Khi Kim mới ra đời sau một thai kỳ khó khăn, người ta đã thấy ngay là có gì đó bất thường. Đầu ông lớn hơn một phần ba đầu trẻ bình thường, sau đầu nổi lên một khối u bằng nắm tay mà các bác sĩ e là sẽ phải cắt bỏ. Trong ba năm đầu đời, Kim cứ phải kéo lê cái đầu như thể nó rất nặng. Mãi đến năm bốn tuổi ông mới biết đi. Người ta thuyết phục bố mẹ ông tính đến việc phẫu thuật thùy não. Nhưng thay vì vậy, Kim phải dùng thuốc an thần liều cao cho đến năm mười bốn tuổi. Fran nhớ chuyện này vì chỉ khi Kim thôi dùng thuốc, ông mới bắt đầu tỏ ra quan tâm đến sách vở. Và kể từ đó, ông bắt đầu ghi nhớ chúng.
Nhưng dù Kim tiếp cận với kho tri thức có lẽ lớn hơn bất kỳ ai khác trên trái đất, ông dường như biết chỉ để mà biết chứ không thể dùng nó vào mục đích gì. Chỉ số IQ của ông là
87. Dù ông có ghi nhớ được bao nhiêu cuốn sách về phép xã giao thì cảm nhận của ông về việc nên ứng xử thế nào cho phù hợp, nói một cách bao dung, khá là hạn hẹp. Giữa đám đông trong hành lang thư viện Salt Lake City, Kim quàng đôi tay thô tháp qua vai tôi, siết chặt vào cái bụng béo mập rồi sôi sục xoay quanh tôi. “Joshua Foer, anh là người rất, rất vĩ đại,” ông nói to đến mức người qua lại phải giật mình. “Anh là một gã đẹp trai. Anh là con người tiêu biểu cho thế hệ anh.” Rồi ông rống lên một tiếng trầm trầm.

Cách thức Kim ghi nhớ là một bí ẩn đối với khoa học. Không như nhân vật của Dustin Hoffman trong Rain Man, Kim nhìn bề ngoài không bị tự kỷ. Ông hòa đồng hơn bệnh nhân tự kỷ điển hình rất nhiều. Ông thuộc một kiểu hoàn toàn khác. Tháng Giêng năm 1989, vào tuần bộ phim Rain Man công chiếu, hình chụp cắt lớp bộ não của Kim cho thấy tiểu não của ông, bộ phận quyết định đến nhận thức cảm giác và chức năng vận động, bị sưng phồng nghiêm trọng. Một hình chụp trước đó phát hiện ra Kim thiếu thể chai - bó thần kinh dày nối bán cầu não trái với bán cầu não phải cho phép chúng giao tiếp với nhau. Đây là một tình trạng hiếm gặp, nhưng làm thế nào nó ảnh hưởng đến hiện tượng dị thường nơi ông thì không sao hiểu được.

Gần trọn buổi chiều, tôi cùng Kim ngồi tại một bàn ở góc khuất trên tầng bốn thư viện cộng đồng Salt Lake City, nơi mười năm qua, hầu như ngày nào trong tuần ông cũng ở đây để đọc và ghi nhớ những cuốn danh bạ điện thoại. Ông tháo kính ra đặt xuống bàn. “Tôi chỉ “quét” một lúc là đủ,” ông tuyên bố. Tôi nhìn qua vai ông khi ông lật một trang danh bạ vùng Bellingham, Washington. Tôi định thử chạy đua với trí nhớ của ông. Tôi làm điều hẳn Ed sẽ dạy tôi nếu anh ta ở đó: tôi lập một cung trí nhớ và chuyển mỗi số điện thoại thành hình ảnh, cũng làm y như vậy với tên và họ, rồi nhanh chóng nối những hình ảnh đó với nhau theo cách dễ nhớ. Việc này thật vất vả, và khi tôi cố giải thích cho Kim, ông dường như không hiểu tôi đang nói gì. Tôi cứ nhớ được đến tên thứ tư hoặc thứ năm trong cột đầu tiên là ông đã sẵn sàng chuyển sang trang kế tiếp. Tôi hỏi ông sao có thể nhớ nhanh đến vậy. Ông ngước mắt lên và liếc nhìn qua mắt kính, tỏ vẻ khó chịu vì bị quấy rầy. “Tôi cứ thế nhớ thôi mà!” ông gào lên. Và rồi ông lại vùi đầu vào cột số điện thoại, bỏ lơ tôi suốt nửa tiếng đồng hồ tiếp theo.

Một trong những khó khăn khi xây dựng lý thuyết nhằm giải thích hội chứng kỳ nhân ấy là biểu hiện của hội chứng này ở mỗi cá nhân lại khác nhau. Tuy nhiên, cấu trúc hệ thần kinh của họ luôn xuất hiện một điểm bất thường, gồm cả trường hợp của Kim: tổn thương bán cầu não trái. Thú vị thay, những khả năng siêu phàm của các kỳ nhân gần như luôn là hoạt động chịu sự điều khiển của não phải như các kỹ năng hình ảnh và không gian, và các kỳ nhân có vẻ luôn gặp khó khăn với những nhiệm vụ chủ yếu thuộc não trái, như ngôn ngữ. Khiếm khuyết về ngôn ngữ là điều rất phổ biến ở những kỳ nhân, cũng một phần vì vậy mà trường hợp nói nhiều và lưu loát Daniel trở thành ngoại lệ đặc biệt.

Một số nhà nghiên cứu lập luận rằng việc ngưng một số hoạt động bên não trái bằng cách nào đó đã giải phóng những kỹ năng tiềm ẩn bên não phải. Thực sự, đã có trường hợp những người đột nhiên có khả năng như kỳ nhân sau khi bị tổn thương nặng ở phần não trái. Năm 1979, một cậu bé mười tuổi tên Orlando Serrel bị quả bóng chày đập vào bên trái đầu, sau đó có khả năng đặc biệt là tính toán ngày lịch và ghi nhớ thời tiết mọi ngày trong đời cậu. Bruce Miller, một nhà thần kinh học ở Đại học California, San Francisco, nghiên cứu những bệnh nhân già bị một dạng bệnh lý về não khá phổ biến, gọi là FTD (suy giảm trí tuệ do thoái hóa thùy trán). Ông phát hiện ra rằng ở một số trường hợp FTD xảy ra ở phần não trái, những người chưa bao giờ cầm cọ vẽ hay bất cứ nhạc cụ nào có thể phát triển khả năng đặc biệt về hội họa và âm nhạc vào cuối đời họ. Khi kỹ năng nhận thức của họ mờ dần, họ trở thành những kỳ nhân “phạm vi hẹp”[27].

Việc người ta có thể trở thành kỳ nhân hiển nhiên cho thấy rằng những khả năng phi thường đó ít nhiều tồn tại im lìm đâu đó trong mọi chúng ta. Như Treffert đã nói, hẳn là có “một Người Mưa bé nhỏ” đang lẩn trốn trong mỗi bộ não. Anh ta bị giam hãm bởi “sự áp chế của bán cầu não trái ưu thế.”

Treffert còn phỏng đoán rằng những kỳ nhân có trí nhớ đặc biệt bằng cách nào đó đã chuyển những nhiệm vụ duy trì ký ức hữu thức, như những sự việc và con số, sang hệ thống ghi nhớ vô thức sơ khai hơn, như hệ thống giúp chúng ta nhớ cách lái xe hay bắt quả bóng đang bay mà không cần suy nghĩ hữu thức về nó (hệ thống cho phép HM mắc chứng quên vẫn có thể vẽ theo hình trong gương và EP định vị được đường đi quanh chỗ ông ở dù không biết địa chỉ nhà mình). Cứ thử xét đến khối lượng công việc mà trí óc phải xử lý sao cho có thể đưa tay bắt quả bóng đang bay - những tính toán tức thời về khoảng cách, quỹ đạo, và tốc độ - hay để nhận ra sự khác biệt giữa mèo và chó. Rõ ràng, trong tiềm thức bộ não của chúng ta có khả năng tính toán rất nhanh chóng và phức tạp. Chúng ta không thể giải thích bởi vì thường ta còn không nhận thấy là chúng xảy ra.
Nhưng nếu chịu bỏ nỗ lực, đôi khi chúng ta vẫn có thể tiếp cận tới mức độ nhận thức thấp hơn đó. Ví dụ, khi học sinh học vẽ, thường những bài tập đầu tiên là tô bóng nền (negative space) và đường viền. Mục đích của những bài tập này là để ngắt quá trình nhận thức cấp cao nhận thức vốn nhìn cái ghế chỉ là cái ghế và kích hoạt quá trình nhận thức cấp thấp tiềm tàng vốn chỉ xem cái ghế là một tập hợp những hình khối và đường nét trừu tượng. Phải mất nhiều công phu luyện tập họa sỹ mới học được cách ngắt quá trình nhận thức cấp cao; Treffert tin rằng những kỳ nhân làm điều này một cách tự nhiên.

Nếu chúng ta cũng có thể tắt quá trình nhận thức cấp cao đó, liệu chúng ta sẽ thành kỳ nhân không? Thực ra có một công nghệ có thể tắt tạm thời từng phần bộ não theo lựa chọn, gọi là kích thích từ trường xuyên hộp sọ (TMS - transcranial magnetic stimulation)”. Phương pháp này dùng máy phát xung điện tạo ra từ trường tập trung để tác động lên những nhóm tế bào thần kinh nhất định. Tác dụng “tạm ngắt” này có thể kéo dài một tiếng. Dù TMS còn tương đối mới nhưng là một phương pháp khá thành công mà không phải mổ xẻ để trị liệu nhiều bệnh như trầm cảm, rối loạn sau chấn thương và đau nửa đầu. Nhưng trên nhiều khía cạnh, tiềm năng thực nghiệm của TMS còn hấp dẫn hơn nhiều so với ứng dụng chữa bệnh của nó. Hiển nhiên sẽ nảy sinh những vấn đề đạo đức nan giải liên quan đến thí nghiệm trên người, vì ta không thể tùy ý thử nghiệm trên một bộ não người sống (như bài học HM dạy chúng ta), nên phần lớn những gì các nhà khoa học thần kinh có thể biết về bộ não là kết quả của một vài “thí nghiệm của tự nhiên” với những dạng tổn thương bộ não hết sức bất ngờ (như EP). Do TMS cho phép các nhà khoa học thần kinh chủ động kích hoạt hoặc ngắt những vùng của bộ não, họ có thể dùng nó để thực hiện các thí nghiệm lặp đi lặp lại mà không phải chờ có người bước vào văn phòng của họ

với một tổn thương hiếm gặp ảnh hưởng đến phần cụ thể của bộ não mà họ muốn nghiên cứu. Allan Snyder, một nhà thần kinh học người Úc đã truyền bá TMS như là một công cụ thí nghiệm, sử dụng kỹ thuật tạm thời gây ra ở người bình thường những kỹ năng nghệ thuật như của kỳ nhân bằng cách tác động vào vùng thái dương bên trái (vùng mà các kỳ nhân thường bị tổn thương). Sau khi bị tác động, đối tượng có thể vẽ chính xác những bức tranh theo trí nhớ hay nhanh chóng ước tính số dấu chấm nhấp nháy trên màn hình. Snyder gọi thiết bị này là “máy khuếch đại sáng tạo.” Ông gọi nó là mũ kích hoạt kỳ nhân cũng chẳng sai.

Trong phim tài liệu Brainman, tôi đã xem Daniel chia 13 cho 97 và đưa ra kết quả với nhiều số thập phân vượt quá số lượng số thập phân hiển thị trên màn hình máy tính cầm tay. Người ta phải dùng đến máy vi tính để kiểm chứng. Anh ta nhân nhẩm các số ba chữ số chỉ trong vài giây, và nhanh chóng tính được 37 mũ bốn bằng 1.874.161. Với tôi, khả năng nhẩm toán của Daniel còn ấn tượng hơn trí nhớ của anh ta.

Khi tôi bắt đầu tìm hiểu thuật tính nhẩm phức tạp này, tôi biết được rằng giống như trí nhớ, lĩnh vực này có vô vàn tài liệu, và thậm chí có giải vô địch thế giới riêng. Quả thật, chỉ tra Google một chút và thực hành cho nhiều, bất cứ ai cũng có thể tự học được cách nhân nhẩm số có ba chữ số. Chuyện này không hề dễ - bạn hãy tin là vậy, tôi đã thử rồi - nhưng đó là một kỹ năng có thể học.

Dù tôi đã nhiều lần đề nghị, Daniel vẫn từ chối biểu diễn làm phép tính nhẩm cho tôi xem, dù chỉ một lần. “Một trong những nỗi sợ lớn của cha mẹ tôi là tôi sẽ trở thành kẻ diễn trò,” anh ta nói khi tôi nài ép. “Tôi đã hứa với họ là tôi sẽ không tính toán khi người ta hỏi tôi. Tôi chỉ làm vì các nhà khoa học.” Nhưng anh ta thực sự đã tính nhẩm trước máy quay trong phim Brainman.

Khi anh ta thực hiện những tính toán đó, tôi sửng sốt nhận thấy hình như Daniel đang dùng đến các ngón tay. Thay vì nhìn thấy câu trả lời hiện rõ trong đầu, máy quay bắt được cảnh ngón trỏ anh ta di chuyển trên mặt bàn trước mặt. Vì anh ta đã mô tả rằng trong đầu anh ta, những hình khối tan ra và hòa lẫn vào nhau, nên cử chỉ ấy khiến tôi thấy lạ.

Khi nói với một số chuyên gia, tôi biết được rằng bất cứ ai từng làm tính nhẩm hẳn cũng sẽ nghi ngờ về ngón tay di chuyển đó. Để tính toán kết quả của hai số lớn, có một kỹ thuật rất phổ thông gọi là phép nhân chéo. Kỹ thuật này thực hiện một chuỗi các phép nhân đơn lẻ với từng chữ số, rồi kết hợp chúng với nhau để ra kết quả. Trong mắt tôi, xem ra đây chính là điều Daniel đã làm trên bàn. Daniel chối bỏ điều này. Anh ta chỉ nói rằng đó chỉ là cử động giúp anh ta tập trung.
“Trên thế giới nhiều người có thể làm những phép tính kiểu như vậy, song mấy màn này vẫn rất ấn tượng,” Ben Pridmore bảo tôi. Ngoài việc tham gia các giải đấu trí nhớ, Ben còn tranh tài ở Giải Vô địch Thế giới môn Tính nhẩm, cuộc thi tổ chức hai năm một lần, trong đó các thí sinh thực hiện các bài tính nhẩm khó hơn Daniel gấp nhiều lần, gồm cả phép nhân số có tám chữ số không dùng giấy bút. Không ai trong những người tính toán hàng đầu này nói họ thấy trong đầu mình những hình ảnh đại diện cho các chữ số hòa lẫn vào hay chia tách nhau ra. Họ thừa nhận đã dùng những kỹ thuật được mô tả chi tiết trong vô số cuốn sách và những trang mạng. Tôi đề nghị Ronald Doerfler - tác giả một trong những cuốn sách như vậy (Dead Reckoning: Calculating Without Instruments - Nhẩm tính: Tính toán không dùng đến công cụ) - xem Brainman và cho tôi biết ông nghĩ gì. “Tôi không thấy có gì ấn tượng cả,” ông nhận xét về tài năng tính toán của Daniel như vậy và thêm, “Những điều truyền tụng về dân làm tính nhẩm cũng đầy chi tiết lệch lạc.”

Còn về việc Daniel thuộc tất cả các số nguyên tố dưới 10.000 thì sao? Thậm chí điều này cũng không gây ấn tượng cho Ben Pridmore. “Chỉ là việc ghi nhớ bình thường thôi,” anh ta nói. Chỉ có 1.229 số nguyên tố nhỏ hơn 10.000. Kể ra nhớ hết số ấy thì cũng nhiều, nhưng chẳng bõ bèn gì với số pi với 22.000 chữ số.

Việc tính toán ngày lịch, kỹ năng kỳ nhân duy nhất mà Daniel sẵn sàng thực hiện trước mặt tôi, hóa ra đơn giản đến mức đúng ra chẳng ai nên lấy làm lạ. Những kỳ nhân như Kim, người có thể kể đúng ngày tháng từng lễ Phục sinh trong suốt một ngàn năm qua, dường như đã vô thức thấm nhuần mọi nhịp điệu và quy tắc của lịch pháp mà không cần hiểu rõ chúng. Nhưng bất cứ ai cũng có thể học được các quy tắc đó. Có nhiều công thức tính lịch đơn giản, được phổ biến rộng rãi trên Internet. Chỉ mất khoảng một tiếng thực hành để trở nên thuần thục.

Tôi càng trò chuyện nhiều với Daniel thì những lời nói của anh ta càng làm dấy lên mối nghi ngờ về câu chuyện của anh ta. Tôi đề nghị anh ta mô tả số 9.412 trông thế nào, rồi sau hai tuần hỏi lại lần nữa, anh ta đưa cho tôi hai câu trả lời khác nhau. Lần đầu anh ta bảo, “Có màu xanh dương, vì nó bắt đầu bằng số chín, và cả cảm xúc trôi nổi nữa, một thứ như dốc nghiêng.” Hai tuần sau, anh ta trả lời sau một khoảng lặng hồi lâu, “Đó là một số không đồng đều. Có những điểm và các đường cong. Nó thực sự là một số rất phức tạp.” Rồi anh ta nói thêm, “Chữ số càng lớn, càng khó diễn tả thành lời. Đó là lý do trong khi phỏng vấn, tôi thường tập trung vào những số nhỏ.” Quả thật, những người bị chứng giác quan liên đới không bao giờ mô tả hoàn toàn nhất quán, và cũng phải thừa nhận rằng, trong suốt những lần chúng tôi gặp nhau, Daniel mô tả nhiều chữ số nhỏ khá là thống nhất.

Nhưng còn những khóa học “Kỹ năng Trí nhớ cao cấp và Sức mạnh trí óc” mà Daniel từng quảng cáo trên WWBC thì sao? Lúc ở nhà anh ta tại Kent, tôi đưa ra một bản in mẩu quảng cáo năm 2001 và hỏi anh ta làm sao tôi học được. Nếu trí nhớ đặc biệt của anh ta có được hoàn toàn không nhờ nỗ lực nào cả, và anh ta không cần dùng đến các kỹ thuật ghi nhớ thì tại sao anh ta lại mở khóa học về đúng cái chủ đề đó? Nghe hỏi, anh duỗi chân ra sàn nhà.

“Nào, lúc đó tôi mới 22 tuổi,” anh ta nói. “Tôi không có tiền. Kinh nghiệm duy nhất của tôi là đã tranh tài ở Giải Vô địch thế giới trí nhớ. Nên tôi soạn một bài giảng về cải thiện trí nhớ. Khi tôi đến giải vô địch thế giới, tôi phát hiện ra rằng mọi người tự học cách ghi nhớ. Không ai có trí nhớ tốt cả. Lúc đó tôi nghĩ rằng họ nói dối, nhưng chuyện đó khiến tôi nghĩ rằng, đây là thứ mình có thể dạy được. Tôi đã ở trong tình thế phải đem bán cả bản thân. Thứ duy nhất tôi nghĩ có thể bán được là trí óc. Nên tôi dùng những lời lẽ của Tony Buzan. Tôi nói đại loại “Mở rộng trí não của bạn”, nhưng tôi không thích làm điều đó.”
“Anh không dùng kỹ thuật ghi nhớ sao?” tôi hỏi anh ta. “Không,” anh ta khẳng định.

Nếu Daniel bịa ra câu chuyện về bản thân là một kỳ nhân tự nhiên, thì anh ta hẳn phải đạt trình độ “nói điêu” mà tôi không tin là anh ta có. Nếu anh ta chỉ là một chuyên gia trí nhớ qua rèn luyện đang cố khoác lên mình cái áo kỳ nhân, tại sao anh ta lại sẵn sàng làm đối tượng nghiên cứu khoa học?

Làm sao ta có thể biết được Daniel có như anh ta nói không? Từ lâu, các nhà khoa học nghi ngờ liệu chứng giác quan liên đới có thật sự tồn tại không. Họ bác bỏ hiện tượng này, coi đó là giả tạo, hay không gì hơn là những mối liên hệ giữa chữ số và màu sắc tạo thành lúc thơ bé giờ còn rơi sót lại. Bất chấp mọi trường hợp ghi chép trong các tư liệu, chẳng cách nào chứng minh rằng những chuyện khó tin như vậy có thực sự diễn ra trong bộ não ai đó

hay không. Năm 1987, Baron-Cohen phát triển một Bài kiểm tra tính xác thực của chứng giác quan liên đới, phương pháp đánh giá chính xác đầu tiên về tình trạng này. Bài kiểm tra đo sự nhất quán mà những người được cho là bị chứng giác quan liên đới nói về mối liên hệ giữa chữ số và màu sắc. Khi Baron-Cohen tiến hành kiểm tra Daniel, anh ta vượt qua dễ dàng. Song, tôi vẫn không khỏi thắc mắc, phải chăng bất kỳ một chuyên gia trí nhớ qua rèn luyện nào cũng có thể làm được như vậy. Những kết quả khác từ các thí nghiệm khoa học đối với Daniel khiến tôi bối rối. Khi Baron-Cohen kiểm tra trí nhớ của Daniel đối với khuôn mặt, anh ta nhớ rất kém, dẫn đến kết luận của Baron-Cohen rằng “có dấu hiệu tổn thương khả năng ghi nhớ đối với những khuôn mặt.” Nghe có vẻ như đấy là một điểm yếu của kỳ nhân. Tuy nhiên khi Daniel Corney tranh tài ở Giải Vô địch Trí nhớ thế giới, anh ta giành huy chương vàng ở phần thi tên-người-khuôn-mặt. Chuyện này thật vô lý.
Một thí nghiệm có lẽ giúp chứng minh chứng giác quan liên đới của Daniel một cách chắc chắn hơn là chụp fMRI. Đối với nhiều người có cảm giác liên đới về chữ số và màu sắc, vùng não liên quan đến xử lý màu sắc sáng lên khi đối tượng được yêu cầu đọc một chữ số. Khi Baron-Cohen cùng một nhóm chuyên gia fMRI quan sát bộ não Daniel, họ không thấy điều này. Đối tượng thí nghiệm của họ “không kích hoạt vùng kết hợp thị giác (extra- striate) thường liên quan đến chứng giác quan liên đới, như vậy có thể anh ta bị một dạng giác quan liên đới bất thường và trừu tượng hơn” các nhà nghiên cứu kết luận. Nếu không phải anh ta vượt qua Phép kiểm tra độ xác thực về chứng giác quan liên đới, hẳn người đã đi đến thì một kết luận hợp lý khác rằng Daniel không hề mắc chứng này.

“Đôi khi người ta hỏi tôi liệu tôi có phải là con chuột bạch cho các nhà khoa học không. Tôi chẳng thấy phiền hà gì chuyện đó, vì tôi biết mình đang giúp họ hiểu hơn về não người, điều này sẽ mang lợi ích cho mọi người,” Daniel viết trong hồi ký. “Nó cũng giúp tôi hiểu bản thân hơn, và cách bộ não tôi hoạt động.” Khi Anders Ericsson mời Daniel đến FSU để kiểm tra theo những tiêu chuẩn khắt khe của ông, Daniel bảo anh ta bận không đi được.

Vấn đề là mọi thí nghiệm mà Daniel đã trải qua đều dựa trên Giả thiết Không - nghĩa là giả thiết đặt ra là đúng nếu giả thiết đối lập bị chứng minh là sai: cụ thể, nếu Daniel không phải là kỳ nhân, thì anh ta chỉ là người thường. Nhưng điều cần phải kiểm tra, nhất là xét theo tiểu sử bất thường của anh ta, đó là liệu có khả năng kỳ nhân nổi tiếng nhất thế giới thật ra là một chuyên gia trí nhớ qua rèn luyện hay không.

Sau khoảng chừng một năm kể từ lần đầu tiên tôi gặp Daniel, nhà xuất bản của anh ta gửi e-mail cho tôi hỏi xem tôi có muốn gặp lại anh ta không, lần này tại khách sạn khá đẹp, gần trung tâm. Anh ta đang ở New York chuẩn bị xuất hiện trên chương trình Good Morning America và quảng bá cho cuốn sách Sinh vào ngày xanh, phát hành lần đầu ở Mỹ và đứng thứ ba trên danh sách sách phi hư cấu bán chạy nhất của New York Times.

Sau một ly cà phê và vài câu chuyện vãn về đời sống của anh ta khi làm người nổi tiếng, tôi lại hỏi anh ta - lần thứ ba - rằng con số 9.412 trông thế nào. Lần này, trong ánh mắt anh ta lóe lên tia cảnh tỉnh trước khi nhắm lại. Anh ta biết tôi không ngẫu nhiên đưa ra con số đó. Anh ta nhét ngón tay vào tai và cứ giữ yên như vậy trong hai phút dài im lặng khó chịu. “Tôi có thể thấy nó trong đầu. Nhưng tôi không thể phân tích ra được,” cuối cùng anh ta nói.
“Lần trước tôi hỏi, anh có thể mô tả gần như ngay lập tức.” Anh ta nghĩ một lúc lâu. “Có thể là màu xanh thẫm, có điểm chấm, vẻ sáng bóng, một cảm xúc trôi nổi. Hay tôi có thể hình dung chúng thành chín tư và mười hai, trong trường hợp này nó trông như một tam giác, và một hình giống thế này.” Anh ta đưa hai tay ra tạo hình tứ giác. Khuôn mặt anh ta

đỏ như trái sơ-ri. “Nó còn tùy vào nhiều thứ, như tôi có nghe rõ con số không, và làm thế nào phân tích nó ra. Nó còn tùy liệu tôi có mệt mỏi không. Tôi đôi khi vẫn nhầm lẫn. Tôi thấy những chữ số sai. Tôi nhầm nó với một số trông tương tự. Đó là lý do tôi thích làm thí nghiệm với những nhà khoa học thực sự hơn. Không có những áp lực tương tự.”

Tôi đọc lại những gì anh ta mô tả về số 9412 ở hai lần gặp trước. Chúng không thể nào khác biệt hơn. Tôi bảo với anh ta giả thiết của tôi, mà tôi nhận ra rất khó chứng minh: rằng anh ta dùng kỹ thuật cơ bản như những vận động viên trí óc khác, và rằng anh ta bịa ra những cảm giác liên đới kỳ quặc liên quan đến những con số để che giấu sự thật là anh ta đã ghi nhớ những hình ảnh đơn giản để liên hệ từng hình ảnh với mỗi cặp hai chữ số từ 00 đến 99 - một trong những kỹ thuật cơ bản nhất mà các chuyên gia trí nhớ sử dụng. Đó là những câu khó nghe nhất mà tôi từng nói với người khác.

Nhiều lúc, tôi đã dằn vặt liệu có nên đưa Daniel vào cuốn sách này không. Nhưng vào một đêm muộn, không lâu trước khi tôi phải chuyển bản thảo chương này, tôi quyết định lên mạng Internet tìm hiểu anh ta một lần cuối cùng - để xem tôi có bỏ qua gì không, hay ít nhất để làm mới ký ức của tôi về một câu chuyện đã xếp vào tủ tài liệu của tôi hơn một năm. Bằng cách nào đó - và tôi không biết tại sao trước đây mình đã không thấy - tôi tìm thấy một phiên bản lưu trữ của trang danieltammet.com, một trang web lập năm 2000 mà ba hay bốn năm qua không còn trên mạng. Ở trang giới thiệu bản thân của Daniel, cách đây bảy năm, có một đoạn mô tả bản thân thẳng thắn đến ngạc nhiên, mà không được đưa vào cuốn Sinh vào ngày xanh:

Sở thích của tôi về việc ghi nhớ và mặt khác là môn thể thao trí nhớ xuất phát từ việc tình cờ đọc được cuốn sách dành cho trẻ em. Cuốn ấy dạy những khái niệm ghi nhớ để thi cử tốt hơn, lúc ấy tôi mười lăm tuổi. Năm sau đó, tôi đã lấy được chứng chỉ GCSEs[28] và thuộc nhóm những người có điểm số tốt nhất năm ấy, và sau đó tôi luôn đạt hạng A, thành thạo tiếng Pháp và tiếng Đức với sự giúp đỡ của những kỹ thuật đã thử và kiểm nghiệm này... Tôi ngày càng bị ám ảnh môn thể thao này và sau nhiều tháng tích cực rèn luyện và lao động cực nhọc, tôi đã leo lên tốp 5 thế giới.

Trước đó, tôi cũng đã phát hiện ra một loạt thư được gửi từ mấy năm trước, từ cũng từ một địa chỉ e-mail Daniel Corney dùng nhưng do một người tên Daniel Andersson gửi đến, người tự nhận là “một siêu nhân tài năng và đáng kính, với hơn 20 năm kinh nghiệm giúp người khác phát huy sức mạnh.” Những thư này giải thích rằng Daniel Andersson có sức mạnh trí óc do hồi còn bé bị những cơn động kinh. Có một đường link dẫn tới một trang web hướng dẫn cách đặt hẹn qua điện thoại với Daniel “để nghe tư vấn về mọi chủ đề, gồm cả các vấn đề quan hệ tình cảm, sức khỏe và tài chính, thất tình hay liên lạc lại với quá cố.”
Tôi hỏi Daniel nên nghĩ thế nào về những email đó. Sáu năm trước anh ta bảo bị những cơn động kinh giúp anh ta có sức mạnh tâm linh. Giờ anh ta bảo rằng chúng làm anh ta trở thành kỳ nhân. “Anh có hiểu tại sao mình bị nghi ngờ không?” tôi hỏi.

Anh ta lặng im một lúc để trấn tĩnh. “Chúa ơi, chuyện này thật xấu hổ,” anh ta nói. “Sau khi chào mời công việc gia sư mà không thành công, tôi đọc một quảng cáo về một người có thể tư vấn tâm linh. Anh có thể làm việc ở nhà và dùng điện thoại. Chuyện đó thật lý tưởng cho tôi. Tôi không phải là một nhà ngoại cảm. Tôi đã làm việc đó khoảng một năm vì tôi không có nguồn thu nhập khác. Tôi thường bị mắng mỏ vì không đưa ra lời khuyên. Tôi chỉ lắng nghe là chính. Từ đầu đến cuối, tôi coi nó như một cơ hội để lắng nghe mọi người. Dù muộn màng, nhưng tôi vẫn ước gì mình đã không làm việc đó. Nhưng hồi đó tôi quẫn bách. Cuộc sống phức tạp lắm. Tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ xuất hiện trước công chúng.

Tôi đảm bảo với anh rằng tôi đã làm những thí nghiệm về sự nhất quán với các nhà khoa học, họ mới là người có địa vị để xác định xem tôi bịa hay không, và ý kiến của các nhà khoa học, chứ không phải một người, xác nhận rằng tôi nói thật.”
Vào cuối buổi gặp, tôi bảo với Daniel toàn bộ những lý do khiến mình không tin anh ta - kỳ nhân nổi tiếng nhất thế giới - thực sự là một kỳ nhân. “Tôi muốn tin lắm,” tôi bảo anh ta. “Nhưng không tin được.”

“Nếu tôi muốn lừa anh, nếu tôi muốn giở trò bịp anh, tôi sẽ làm nhiều hơn thế,” anh ta nói thẳng. “Tôi sẽ chạy ra và làm um lên. Tôi sẽ làm đủ mọi chuyện. Nhưng tôi thực sự không quan tâm anh nghĩ gì về tôi. Ý tôi không phải riêng cá nhân anh. Tôi không quan tâm ai đó nghĩ gì về mình. Tôi biết mình. Tôi biết chuyện gì xảy ra trong đầu mình khi tôi nhắm mắt lại. Tôi biết những chữ số có nghĩa gì với tôi. Những chuyện này rất khó giải thích, và rất khó diễn đạt thành lời để anh có thể dễ dàng phân tích. Nếu tôi là một người giỏi khả năng biện hộ, thì tôi sẽ suy nghĩ rất cẩn trọng và gây ấn tượng tốt đẹp với anh và mọi người khác.”
“Anh đã gây ấn tượng tốt đẹp với mọi người khác.”

“Mọi người tin các nhà khoa học, và các nhà khoa học đã nghiên cứu tôi - và tôi tin các nhà khoa học. Họ là người trung lập. Họ không phải giới truyền thông. Họ không quan tâm đến bài viết phiến diện. Họ quan tâm đến sự thật. Với báo giới, tôi chỉ là tôi thôi. Đôi khi tôi thể hiện rất tốt, những khi khác tôi căng thẳng hơn và không gây được ấn tượng tốt đến vậy. Tôi là người. Tôi mâu thuẫn bởi tôi là người. Trong số những người đã phỏng vấn tôi, anh là người cư xử với tôi giống con người bình thường nhất. Anh không thần tượng tôi. Anh coi tôi ngang bằng với anh. Tôi tôn trọng điều đó. Tôi cảm thấy làm một người thường dễ chịu hơn làm thiên thần.”
“Có thể đó là bởi tôi ngờ anh chỉ là người thường,” tôi nói. Khi những lời đó thoát ra khỏi miệng, tôi nhận ra rằng mình không thực sự có ý như vậy. Tôi bực Daniel ở chỗ tôi biết anh ta không bình thường. Thực tế, tôi biết chắc anh ta cực kỳ thông minh. Tôi biết rèn luyện trí nhớ thì gian khổ thế nào. Bất cứ ai cũng có thể làm điều đó, nhưng không phải ai cũng có thể làm như mức độ của Daniel. Tôi tin Daniel là người đặc biệt. Tôi chỉ không chắc anh ta đặc biệt theo như anh ta tự nhận.
Tôi hỏi Daniel liệu, khi anh ta nhìn mình trong gương một cách trung thực, anh ta thực sự coi mình là kỳ nhân không.

“Tôi có phải kỳ nhân không à?” Anh ta đặt ly cà phê xuống và ngả người về phía tôi. “Còn tùy vào cách anh định nghĩa từ này, đúng không nào? Anh có thể định nghĩa “kỳ nhân” theo cách gạt bỏ tôi khỏi khái niệm này. Anh có thể định nghĩa nó theo cách gạt bỏ Kim Peek khỏi khái niệm này. Và anh có thể định nghĩa từ đó theo cách không hề có ai trên thế giới này là kỳ nhân cả.”

Tất cả là do định nghĩa. Trong cuốn sách Những người phi thường (Extraordinary People), Treffert định nghĩa hội chứng kỳ nhân là “một tình trạng rất hiếm gặp, ở đó những người có khiếm khuyết nghiêm trọng về thần kinh... có một khả năng hoặc trí tuệ đặc biệt trái ngược một cách phi lý với tình trạng khiếm khuyết của họ.” Theo định nghĩa đó, câu hỏi liệu Daniel có dùng các kỹ thuật ghi nhớ không lại chẳng liên quan đến việc anh ta có phải là kỳ nhân không. Điều quan trọng là anh ta có tiền sử bị khuyết tật khả năng phát triển và có thể thực hiện một số kỳ tích trí óc phi thường. Theo định nghĩa của Treffert, Daniel

thực sự là một kỳ nhân vĩ đại, dù khuyết tật của anh ta không thể hiện rõ ràng. Tuy nhiên, định nghĩa của Treffert không sự phân biệt rõ ràng giữa một người như Kim Peek với khả năng phi thường dường như là vô thức, thậm chí như một quá trình tự động, với một người đạt được những kỹ năng đó nhờ quá trình rèn luyện nhàm chán và có phương pháp.

Vào cuối thế kỷ mười chín, thuật ngữ “savant” có nghĩa hoàn toàn khác biệt so với ngày nay. Nó là danh xưng cao quý nhất dành cho người học thức. Một savant là người hiểu rộng, họ có những ý tưởng trừu tượng, họ “hiến dâng sức lực của mình để tìm kiếm chân lý,” như lời của Charles Richet, tác giả cuốn sách năm 1927 Lịch sử tự nhiên của bác học (The Natural History of a Savant). Thuật ngữ này không liên quan gì để khả năng cá biệt hay trí nhớ thiên tài. Nhưng trong thế kỷ qua, nghĩa của từ này đã thay đổi. Năm 1887, John Langdon Down, được biết đến nhiều hơn với một rối loạn nhiễm sắc thể mang tên ông, đã đặt ra thuật ngữ “kỳ nhân ngốc” (idiot savant). Từ “ngốc,” được xem là không lịch sự lắm, cuối cùng cũng bị lược bỏ. Trong một thế giới mà ký ức hàng ngày của chúng ta bào mòn đi, và chúng ta trở nên xa lạ với ý tưởng một bộ nhớ có tổ chức, “kỳ nhân” đã từ một mỹ từ, một biểu trưng cho thành tựu trí tuệ trở thành từ chỉ tình trạng kỳ dị, một hội chứng. Ngày nay chẳng ai gọi nhà thông thái Oliver Sacks là savant, dù ông cũng như nhiều người khác, thoả mãn đầy đủ các tiêu chí trong định nghĩa của từ điển. Ngày nay, từ này được dành cho những người như cặp song sinh tự kỷ trong bài nghiên cứu nổi tiếng của Sacks, cặp song sinh này được cho là có thể đếm ngay 111 que diêm trong tích tắc chúng được đổ ra trên sàn nhà.

Vậy còn người như Daniel thì sao? Một trong những giai thoại cổ xưa nhất về kỳ nhân là họ sinh ra trên đời này là thiên tài, nhưng do trớ trêu của số phận mà họ bị tước đi mọi năng lực, chỉ còn một. Tôi băn khoăn về Daniel. Tôi không biết nên nói gì về anh ta nếu đó là người tự rèn luyện để ghi nhớ 22.000 chữ số pi, và nhân nhẩm số có ba chữ số. Tôi tự hỏi chúng ta sẽ nói sao nếu anh ta đạt được điều đó nhờ kỷ luật khắc nghiệt và nỗ lực lớn lao. Điều đó có làm cho anh ta phi thường hơn Kim Peek không, hay kém hơn? Chúng ta muốn tin rằng có những người như Daniel Tammet đang sống giữa chúng ta, những cá nhân sinh ra trên thế giới này với tài năng đặc biệt, chịu những khó khăn đặc biệt. Đó là một trong những ý tưởng gợi cảm hứng nhất về trí óc loài người. Song có lẽ Daniel là điển hình cho một ý tưởng còn gợi cảm hứng hơn: rằng có những khả năng đặc biệt đang ngủ yên trong ta. Vấn đề là chúng ta có muốn đánh thức chúng không thôi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét